Thứ ba 22/09/2026 11:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số khía cạnh pháp lý về hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam

Bên cạnh các hình thức hỗ trợ tài chính truyền thống từ các ngân hàng hay của các tổ chức tài chính dành cho cá nhân và doanh nghiệp, hiện nay, một mô hình với cách thức đầu tư mới đã được hình thành và hoạt động khá hiệu quả trên thế giới là mô hình kết nối đầu tư ngang hàng, còn gọi là cho vay ngang hàng. Cho vay ngang hàng là một sản phẩm của ngành công nghệ tài chính (Financial technology - Fintech). Bài viết khái quát về hoạt động cho vay ngang hàng, đặc điểm, những thuận lợi và khó khăn của kênh tài chính này đối với các chủ thể liên quan, đồng thời, qua bài viết này tác giả đã phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn và cơ chế pháp lý đang điều chỉnh hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam qua kinh nghiệm pháp lý thực tiễn của Trung Quốc.


1. Khái quát về hoạt động cho vay ngang hàng

1.1. Định nghĩa cho vay ngang hàng

Cho vay ngang hàng là hoạt động thực hiện trên nền tảng công nghệ tài chính (Fintech) được thiết kế và xây dựng theo phương thức kết nối trực tiếp giữa người đi vay và người cho vay mà không thông qua các trung gian tài chính như tổ chức tín dụng (hay còn gọi là dịch vụ P2P Lending). Xét dưới góc độ tài chính, cho vay ngang hàng là một giải pháp mới của ngành tài chính hiện nay, đây là phương thức cho vay giữa người có vốn và người cần vốn thông qua nền tảng công nghệ, trong đó tổ chức cung cấp dịch vụ cho vay ngang hàng chỉ kết nối hai bên, cung cấp thông tin, đánh giá tín nhiệm về khoản vay, tư vấn, không phải người quyết định cho vay cuối cùng và chỉ hưởng phí (không hưởng lãi)[1]. Dưới góc độ đầu tư, cho vay ngang hàng là hoạt động kết nối đầu tư hiệu quả bên cạnh hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng và kết nối trực tiếp nhà đầu tư với bên cần vốn đầu tư thông qua một website[2].

1.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay ngang hàng

Cho vay ngang hàng có những đặc điểm khác với các hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng truyền thống:

Thứ nhất, cho vay ngang hàng có sự tham gia của các bên: (i) Bên trung gian (nhà cung ứng dịch vụ/công nghệ/ứng dụng); (ii) Bên cho vay; (iii) Bên vay. Theo đó, các chủ thể tham gia sẽ giao dịch thông qua hệ thống ứng dụng công nghệ hoặc một website do bên trung gian cung ứng để kết nối “các lệnh” cho vay và cần vay.

Thứ hai, đối tượng hướng tới là những khoản vay không quá lớn, thường dành cho các đối tượng như sinh viên, lao động phổ thông, nông dân, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhỏ... là đối tượng không đáp ứng được điều kiện vay khắt khe của các tổ chức tín dụng hoặc cần vốn gấp. Thời hạn vay không quá dài, trung bình từ 01 tháng đến 02 năm và mức lãi suất khác nhau tùy vào từng loại khách hàng[3].

Thứ ba, cho vay ngang hàng có bản chất là một hoạt động tín dụng nhưng ở mô hình này, người cho vay ngoài được quyền hưởng lãi suất từ khoản đầu tư ra thì còn được định đoạt khoản vay của mình (ưu điểm không có ở hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng) bằng cách chấp nhận giải ngân cho đối tượng được lựa chọn sau khi nhà đầu tư đã nắm được thông tin liên quan từ người có nhu cầu vay vốn.

1.3. Ưu điểm, hạn chế của hoạt động cho vay ngang hàng

Thực tiễn hoạt động cho thấy, cho vay ngang hàng từ khi xuất hiện và phát triển đã đem lại nhiều sự thuận tiện hơn trong lĩnh vực tài chính, cơ hội mới cho nền kinh tế như: (i) Đối với chủ thể có nhu cầu vay vốn sẽ được tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính với thời gian nhanh, thủ tục đơn giản, điều kiện vay tương đối dễ dàng; (ii) Nhà đầu tư có thêm kênh đầu tư hiện đại với lãi suất linh động; (iii) Nâng cao chất lượng phục vụ của các tổ chức tài chính truyền thống dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, tăng cạnh tranh giữa các công ty cho vay ngang hàng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng; (iv) Làm thay đổi cách thức quản lý, tăng khả năng giám sát, thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, song hành với những thuận lợi là rủi ro mà các chủ thể liên quan phải đối mặt:

- Phương thức hoạt động cho vay hoàn toàn mới và đơn giản, sự điều chỉnh pháp luật chưa rõ ràng đã tạo nên “lỗ hổng” rất lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của các bên. Đối với bên vay, nếu bên vay không tìm hiểu kỹ những điều khoản về phí, lãi suất, thời hạn vay, điều kiện vay và bên cung ứng dịch vụ thì rất có thể bên vay mất khả năng chi trả dẫn đến phải chịu những hình thức đòi nợ “khủng bố” theo kiểu tín dụng đen. Bên cạnh đó, nỗi lo lắng nhất của nhà đầu tư (bên cho vay) là mất nguồn vốn đã đầu tư bởi lẽ hiện nay chưa có căn cứ pháp lý chứng minh giao dịch vay có tồn tại.

- Pháp luật đã có những quy định rất khắt khe về điều kiện kinh doanh, chủ thể kinh doanh, hợp đồng vay vốn, tài sản bảo đảm, các loại quỹ dự phòng rủi ro, bảo hiểm tiền gửi khi xảy ra nguy cơ mất vốn, cơ chế kiểm soát khi các tổ chức tín dụng rơi vào tình trạng phá sản... cho các tổ chức tín dụng nhưng hoạt động cho vay ngang hàng thông qua nền tảng ứng dụng lại chưa có quy định điều chỉnh và cơ chế kiểm soát cụ thể.

- Chưa có quy định chặt chẽ về mức lãi suất vay và phí phải trả, theo đó các bên tự thỏa thuận nên dễ gây ra tình trạng biến tướng thành tín dụng đen, với lãi suất “cắt cổ” người đi vay. Ví dụ mức lãi suất vay đưa ra dao động từ 15% - 20%/1 năm - đây là mức phù hợp với quy định của pháp luật dân sự, tuy nhiên, các loại phí phái sinh cộng lại khiến cho mức chi phí lãi + phí lên đến 200%, điều này đã và đang gây hệ lụy rất lớn cho các chủ thể liên quan và trật tự xã hội.

- Các vấn đề về bảo mật thông tin cá nhân, quyền lợi của các bên tham gia khi cung cấp tài khoản và các khoản tài chính khác chưa có cơ chế và quy định rõ ràng... Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, đưa ra quy định những hành vi được cho là vi phạm trong lĩnh vực bảo mật thông tin, tuy nhiên, để bảo đảm an toàn trong toàn hệ thống thì cần có cơ chế pháp luật liên ngành để bảo đảm tính đồng bộ và quyền của các chủ thể khi tham gia bao hệ thống ứng dụng cho vay trực tuyến.

2. Những vấn đề pháp lý đặt ra đối với hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam

2.1. Thực tiễn hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam

Xuất hiện từ năm 2017 và được đánh giá là một trong những quốc gia có sự phát triển ngành công nghệ tài chính muộn hơn so với các nước khác nhưng hoạt động cho vay ngang hàng ở Việt Nam có dư địa rất lớn để phát triển, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh... Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu kinh tế - Ngân hàng thương mại Hàng hải Việt Nam (MSB), Việt Nam hiện có khoảng 40 công ty cho vay ngang hàng đang hoạt động, trong đó có 10 công ty có nguồn gốc từ Trung Quốc, một số công ty từ Indonesia và Singapore[4], được đăng ký dưới các ngành nghề kinh doanh khác như tư vấn quản lý hay tư vấn tài chính; trong đó phải kể đến các công ty như Tima, Fiin, Mofin, Lenbiz…

Trong Công văn số 5228/NHNN-CSTT ngày 08/7/2019 của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động cho vay ngang hàng gửi các tổ chức tín dụng chỉ rõ: “Tại Việt Nam, một số công ty đăng ký ngành nghề kinh doanh là tư vấn tài chính, môi giới tài chính và tự giới thiệu là các công ty P2P Lending cung cấp dịch vụ kết nối nhà đầu tư và người đi vay; tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định về hoạt động P2P Lending”. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước đưa ra khẳng định này chứng tỏ các công ty đang thực hiện hoạt động cho vay ngang hàng ở Việt Nam đều là chưa được cấp phép, điều này dẫn đến các rủi ro chính như sau:

Thứ nhất, rủi ro về nguồn tài chính cho vay: Hiện nay, các công ty P2P Lending thực hiện hoạt động cho vay bằng nguồn tài chính của chính họ, do đó cơ quan chức năng khó kiểm tra được nguồn gốc tài chính, dễ có tình trạng không minh bạch hoặc có hành vi rửa tiền, tài trợ khủng bố…

Thứ hai, về lãi suất và phí đầu tư, cho vay: Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về mức lãi suất “trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhiều ứng dụng vay tiền trực tuyến có mức lãi suất lên tới xấp xỉ 44,1%/tháng, quy đổi theo năm thì phải trả lãi lên tới 529,2%, thậm chí nhiều ứng dụng vay tiền còn không công khai lãi suất và phí cho vay, chỉ đưa ra thông tin “vay càng nhiều, phí và lãi suất càng ít” (Robcash.vn)[5]. Việc đưa thông tin không đầy đủ với người tiêu dùng được cho là có hành vi lừa đảo khách hàng, kinh doanh không lành mạnh hay núp bóng sau đó là hàng loạt các hành vi bất hợp pháp khác đặc biệt là tín dụng đen[6].

Thứ ba, về nền tảng giao dịch trực tuyến: Hệ thống kiểm soát an ninh mạng của Việt Nam còn chưa đồng bộ, lỏng lẻo dẫn đến tình trạng thông tin cá nhân của các bên chưa được bảo mật và bảo vệ quyền lợi nếu có rủi ro xảy ra.

2.2. Cơ chế pháp lý đối với hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có cơ chế pháp lý đồng bộ điều chỉnh riêng hoạt động cho vay ngang hàng, theo đó: (i) Mô hình hoạt động của các công ty P2P Lending được thành lập và đăng ký ngành nghề kinh doanh theo pháp luật doanh nghiệp; (ii) Về lãi suất cho vay chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự; (iii) Huy động vốn vay của nhà đầu tư là chịu sự điều chỉnh của pháp luật về tổ chức tín dụng. Hình thức này chưa được ghi nhận đây là hoạt động cấp tín dụng theo Luật Tổ chức tín dụng nên không được Ngân hàng Nhà nước cấp phép hoạt động huy động vốn. Tuy nhiên, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã xác định được tác động tích cực của hệ thống công nghệ tài chính Fintech nói chung và P2P Lending nói riêng bằng Quyết định số 328/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc thành lập Ban chỉ đạo và Tổ giúp việc Ban chỉ đạo về lĩnh vực công nghệ tài chính của Ngân hàng Nhà nước và Công văn số 5228/NHNN-CSTT quy định hoạt động P2P Lending có thể góp phần hỗ trợ phổ cập tài chính, mở rộng khả năng và tạo thêm kênh tiếp cận nguồn lực tài chính, cách thức cho vay đối với nền kinh tế nhất là đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội (có khả năng tiếp cận internet); qua đó có thể góp phần đẩy lùi tình trạng “tín dụng đen”. Ngày 12/8/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 999/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ, theo đó giao Ngân hàng Nhà nước chủ trì nghiên cứu, xây dựng đề án cơ chế quản lý thử nghiệm cho hoạt động Fintech trong lĩnh vực ngân hàng. Ngày 08/7/2020, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 1238/QĐ-NHNN ban hành kế hoạch hoạt động của Ngành Ngân hàng triển khai thực hiện Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ về ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với hoạt động Fintech, theo đó, Quyết định quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, làm rõ nhiều vấn đề: Khái niệm về Fintech, điều kiện để tham gia mô hình RSF, cơ quan chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp, trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận tham gia và đăng ký... Trong đó, Quyết định ghi nhận cho vay ngang hàng là một trong những lĩnh vực được đưa vào thử nghiệm[7].

3. Đề xuất xây dựng khung pháp lý về cho vay ngang hàng ở Việt Nam

Năm 2007, Trung Quốc là quốc gia đầu tiên ở châu Á phát triển mô hình cho vay ngang hàng. Đến năm 2011, cho vay ngang hàng ở Trung Quốc bùng nổ, phát triển vượt bậc trên mọi khía cạnh, từ số lượng nhà đầu tư, đến nền tảng cho vay và lợi nhuận kinh doanh. Tính đến cuối năm 2017, có hơn 1.000 tỷ nhân dân tệ được cho vay từ các tổ chức cho vay ngang hàng[8]. Tuy nhiên sự phát triển này là bất ổn và nguy hiểm, nguyên nhân chính được chỉ ra là do cách nhìn nhận sai lầm của chính phủ Trung Quốc khi coi P2P Lending chỉ là “hệ thống trao đổi thông tin khoản vay” nên trách nhiệm của các công ty cho vay ngang hàng chưa cao cùng với lỗ hổng của pháp luật đã tạo điều kiện cho chủ sở hữu công ty cho vay ngang hàng ôm tiền bỏ trốn, người cho vay không tuân thủ giao dịch vay, hệ thống cho vay không đảm bảo an ninh... đã làm cho nhiều nạn nhân chủ yếu là các nhà đầu tư bị mất số tiền đầu tư[9]. Khắc phục tình trạng này, Trung Quốc đã bổ sung 10 biện pháp tăng cường kiểm soát như: Cấm mở thêm các website trực tuyến; tăng cường hình thức phạt đối với công ty P2P có hành vi lừa đảo; thiết lập chương trình bồi dưỡng cho nhà đầu tư khi các công ty P2P phá sản, đưa ra quy định các biện pháp tạm thời quản lý hoạt động kinh doanh của các trung gian thông tin cho vay ngang hàng… Những điều chỉnh này đã phần nào làm cho các công ty P2P Lending hoạt động đúng mục đích, phương thức, tuân thủ pháp luật và đạo đức kinh doanh nhằm phát triển nền kinh tế Trung Quốc. Kết quả của hoạt động quản lý này đã cho thấy trong tình hình dịch Covid-19 thì giao dịch qua các công ty tài chính bằng nền tảng ứng dụng đã đem lại những hiệu quả tích cực.

Để đảm bảo được hệ thống cho vay ngang hàng vận hành và có hành lang pháp lý cụ thể, Việt Nam cần nghiên cứu và xây dựng được 02 cơ chế sau: (i) Hệ thống pháp lý để điều chỉnh hoạt động cho vay ngang hàng; (ii) Cơ quan quản lý, giám sát, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia, cụ thể:

Một là, quy định về đăng ký ngành nghề kinh doanh: Cần bổ sung danh mục ngành nghề hoạt động trong lĩnh vực P2P nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể và hệ sinh thái khởi nghiệp hỗ trợ nền tài chính. Đồng thời, xác định cụ thể cơ quan có thẩm quyền cấp phép và quản lý hoạt động P2P.

Hai là, quy định về lãi suất và phí cho vay: Lãi suất cho vay tín dụng khác với lãi suất cho vay dân sự, vậy nếu xét các công ty P2P Lending như tổ chức tín dụng thì mức lãi suất tín dụng cần tuân theo lãi suất theo quy định của Ngân hàng nhà nước như đối với các tổ chức tín dụng, từ đó sẽ đảm bảo quyền hưởng lợi tức của nhà đầu tư đối với khoản đầu tư và lãi phải trả đối với người đi vay, cơ quan nhà nước cũng dễ dàng phát hiện hành vi tín dụng đen để có những biện pháp ngăn chặn, xử lý phù hợp. Bên cạnh đó, cần có quy định về loại phí và mức phí được thu của khách hàng, không để tình trạng các công ty cho vay ngang hàng tự đưa ra mức phí cao thậm chí vượt quá khả năng chi trả của người vay.

Ba là, cần có cơ chế pháp lý quản lý nền tảng công nghệ số: Cần có cơ chế giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với công ty cho vay ngang hàng, các dữ liệu về thông tin khoản vay và thông tin cá nhân phải được quản lý, báo cáo lên cơ quan quản lý trực tiếp. Nên thiết lập nguồn quỹ dự phòng rủi ro trong trường hợp xảy ra mất dữ liệu hoặc lỗi hệ thống thông tin.

Bốn là, quy định chủ thể chịu trách nhiệm: Việc xác định công ty P2P như một trung gian tài chính hay chỉ đơn giản là bên môi giới và cung ứng nền tảng cho vay có nghĩa vụ kết nối giữa người cần vốn và người có vốn lại với nhau là một việc rất quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm sẽ thuộc về ai khi có rủi ro, mất mát nguồn vốn đầu tư, vi phạm nghĩa vụ, đương sự trong giải quyết tranh chấp... cần được làm rõ một cách chính xác.

Năm là, nâng cao công tác tuyên truyền: Việt Nam vẫn chưa thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động cho vay ngang hàng như một hoạt động tín dụng nên cần phổ biến cho người dân về những thuận lợi và rủi ro mà mô hình cho vay này đem lại để từ đó nâng cao nhận thức của người dân, giúp họ có kiến thức trong việc vay vốn và có những biện pháp tự bảo vệ, tránh sa vào bẫy của tín dụng đen.

Hoạt động cho vay ngang hàng hiện nay đã bị các hành vi phạm tội như rửa tiền, tài trợ khủng bố, cho vay nặng lãi, hoạt động tín dụng đen, cho vay cầm đồ thực hiện lợi dụng biến tướng gây ra nhiều hệ lụy rủi ro pháp lý cho cả bên vay và bên đi vay... Do đó, cơ quan quản lý trực tiếp hoạt động này ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần đưa ra các giải pháp xây dựng hành lang pháp lý theo dõi, giám sát hoạt động thử nghiệm, phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền liên quan như Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tư pháp, Tòa án, Viện kiểm sát... để đưa ra đánh giá tác động, từ đó làm căn cứ xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện cho hoạt động cho vay ngang hàng.

ThS. Lương Thị Linh Chi
Nguyễn Thị Thúy Hường
Đại học Mở Hà Nội


[1]. Nguyễn Cảnh Dương, Nguyễn Thị Kim Sang (2019), “Hoạt động cho vay ngang hàng - P2P Lending biến tướng thành tín dụng đen: Thực trạng và giải pháp”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Hạn chế tín dụng đen tại Việt Nam” của Trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2019, tr.280.

[2]. Nguyễn Hải Yến (2019), “Pháp luật về cho vay ngang hàng thực tiễn của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (số đặc biệt), tr.107.

[3]. Phạm Thanh Nhật (2018),“Mô hình cho vay ngang hàng và những khuyến nghị với Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Hoạt động ngân hàng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 của trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh”, tr.255.

[4]. Nguyễn Thị Ngọc Liên (2019), “Mô hình cho vay ngang hàng ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế châu Á, (05), tr.95.

[5]. Nguyễn Cảnh Dương, Nguyễn Thị Kim Sang (2019), “Hoạt động cho vay ngang hàng - P2P lending biến tướng thành tín dụng đen: Thực trạng và giải pháp”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Hạn chế tín dụng đen tại Việt Nam” của Trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2019, tr.280.

[6]. Biến tướng cho vay qua app: Có thể xử lý hình sự khi chờ thí điểm, https://laodong.vn/kinh-te/bien-tuong-cho-vay-qua-app-co-the-xu-ly-hinh-su-khi-cho-thi-diem-815224.ldo, truy cập ngày 02/10/2020.

[7]. http://dean844.most.gov.vn/du-thao-nghi-dinh-ve-co-che-thu-nghiem-co-kiem-soat-hoat-dong-cong-nghe-tai-chinh-trong-linh-vuc-ngan-hang.htm, truy cập ngày 26/11/2020.

[8]. Huỳnh Thu Hiền (2019), “Cho vay ngang hàng tại thị trường tài chính Trung Quốc và kinh nghiệm cho Việt nam”, Tạp chí Tài chính, (06), tr.164.

[9]. Lê Huyền Ngọc (2019), “Cho vay ngang hàng tại Trung Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam”, Tạp chí Công thương, (15), tr. 161.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: