Thứ sáu 23/10/2026 14:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về tín thác và sự cần thiết xây dựng khung pháp lý về tín thác tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung cơ bản của quan hệ tín thác, đồng thời chỉ ra một số ứng dụng của tín thác trong đời sống xã hội và liên hệ với thực tiễn Việt Nam.

1. Một số vấn đề lý luận về tín thác

1.1. Khái niệm tín thác

Là một chủ đề kinh điển của khoa học pháp lý phương Tây, đã có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu và đưa ra định nghĩa cho quan hệ tín thác. Tác giả Ford và Lee trong cuốn “Những nguyên lý về pháp luật tín thác” (Principle on the Law of the Trust) định nghĩa, tín thác là một nghĩa vụ có thể thi hành theo luật công bình mà nó thuộc về một người (người nhận tín thác) với tư cách chủ sở hữu của một số tài sản cụ thể (tài sản tín thác) để giải quyết tài sản đó vì lợi ích của một người khác (người hưởng lợi) hoặc để thực hiện một vài mục đích cụ thể nào đó[1]. Tác giả Martin trong tác phẩm “Luật công bình hiện đại” (Modern Equity) thì cho rằng, tín thác là một mối quan hệ được công nhận bởi luật công bình, xuất hiện khi tài sản được trao cho một người hoặc nhiều người gọi là người nhận tín thác, mà những người nhận tín thác này có nghĩa vụ giữ vì lợi ích của những người khác, được gọi là cestuis que trust hay người hưởng lợi[2].

Hai định nghĩa nói trên tuy có sự khác nhau về diễn đạt nhưng đều thống nhất ở những nội dung cơ bản, xác định những đặc điểm chính của quan hệ tín thác, cụ thể như: (i) Là một dạng quan hệ pháp lý, bao gồm ba bên là người lập tín thác, người nhận tín thác và người hưởng lợi; (ii) Xuất hiện khi một người hoặc nhiều được trao cho một tài sản xác định, trở thành chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đó và bị ràng buộc phải giữ gìn và quản lý tài sản đó vì lợi ích một hoặc nhiều người khác (người hưởng lợi) hoặc vì một số mục đích cụ thể khác.

Từ đặc điểm trên, nhóm tác giả đưa ra khái niệm đầy đủ và dễ hiểu cho quan hệ tín thác như sau: Tín thác là một quan hệ pháp lý, xuất hiện khi mà một hoặc nhiều người (người lập tín thác) chuyển giao tài sản cho một hoặc nhiều người khác (người nhận tín thác) và người này với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản, có nghĩa vụ phải giữ gìn, quản lý và định đoạt tài sản đó vì lợi ích của một hoặc một nhóm người thụ hưởng (người hưởng lợi) hoặc vì các mục đích cụ thể khác.

1.2. Các đặc trưng của quan hệ tín thác

1.2.1. Sự phân chia quyền sở hữu

Đặc trưng nổi bật nhất của quan hệ tín thác đó là sự phân chia trong quyền sở hữu, hay còn gọi là sở hữu kép (duality of ownership). Như đã đề cập ở phần định nghĩa, trong quan hệ tín thác tồn tại ba bên (bên lập tín thác, bên nhận tín thác và bên thụ hưởng tín thác) và đòi hỏi sự phân chia quyền sở hữu tài sản giữa hai bên là bên nhận tín thác và bên thụ hưởng lợi ích sau khi tài sản tín thác được người lập tín thác chuyển giao cho người nhận tín thác, theo đó, bên nhận tín thác (nhận ủy thác quản lý tài sản) sở hữu tài sản về mặt pháp lý, có các quyền chiếm giữ, sử dụng, định đoạt tài sản (nhưng không thụ hưởng lợi ích từ tài sản) và bên thụ hưởng tín thác sở hữu tài sản về mặt lợi ích (có quyền hưởng lợi, nhưng không được chiếm giữ, định đoạt vào thời điểm tài sản đang được bên nhận tín thác chiếm giữ). Có sự phân biệt rất rõ ràng giữa quyền quản lý tài sản và quyền hưởng lợi từ tài sản và làm phát sinh khái niệm phân chia quyền sở hữu hay là sở hữu kép. Ngay khi lập tín thác, các quyền tài sản của người lập ra tín thác không còn nữa, mà hành vi này làm phát sinh mối quan hệ pháp lý giữa người nhận tín thác và người hưởng lợi tín thác. Vì nắm giữ quyền sở hữu tài sản về mặt pháp lý, bên nhận tín thác có tất cả các quyền của một chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản, bao gồm các quyền chiếm giữ, sử dụng và định đoạt. Tuy nhiên, tất cả các quyền này đều bị hạn chế bởi những điều kiện được quy định tại văn bản xác lập quan hệ tín thác, đồng thời, việc thực hiện tất cả các quyền này, đều chỉ phục vụ cho mục đích của tín thác, chứ không phục vụ cho lợi ích cá nhân của bên nhận tín thác. Trong mối quan hệ với bên thứ ba, bên nhận tín thác đóng vai trò là chủ sở hữu tài sản tín thác và có quyền đối vật đối với tài sản tín thác. Trong khi đó, bên thụ hưởng tín thác có quyền hưởng lợi từ tài sản tín thác theo các điều kiện được bên lập tín thác quy định rõ trong tín thác.

1.2.2. Sự độc lập của tài sản tín thác

Khi một quan hệ tín thác được thiết lập và có hiệu lực pháp lý thì tài sản tín thác sẽ được tách bạch khỏi tài sản cá nhân của cả bên nhận tín thác lẫn bên lập tín thác và trở thành một “sản nghiệp độc lập”[3]. Do đó, chủ nợ của bên nhận tín thác lẫn bên lập tín thác không thể thu giữ tài sản tín thác trong trường hợp bên nhận tín thác bị tuyên bố phá sản và phải thanh lý tài sản. Tài sản tín thác chỉ tồn tại cho bên thụ hưởng tín thác hoặc chỉ phục vụ vì mục đích của tín thác, chứ không liên quan đến chủ nợ của cá nhân bên nhận tín thác hay bên lập tín thác. Đặc trưng tạo nên sự hữu dụng của tín thác, biến tín thác trở thành một công cụ quản lý tài sản hiệu quả và an toàn, ví dụ như: Bố/mẹ hay ông/bà có thể lập tín thác để chu cấp cho con/cháu mình đến một độ tuổi nhất định nhằm đề phòng trường hợp bản thân làm ăn thua lỗ và dính vào nợ nần. Người sắp mất có thể lập tín thác để dùng cho mục đích thờ cúng hoặc từ thiện mà không phải bận tâm về việc tài sản của mình sẽ bị xâm phạm hoặc sử dụng không đúng mục đích.

1.3. Các yếu tố cấu thành

Một quan hệ tín thác có giá trị pháp lý cần bảo đảm được ba yếu tố, đó là: Ý định thiết lập tín thác, tài sản tín thác và đối tượng mà tín thác hướng đến. Cả ba yếu tố này phải được xác định một cách cụ thể, rõ ràng bằng cách này hoặc cách khác. Nếu thiếu một trong ba yếu tố hoặc một trong ba yếu tố này không được xác định một cách rõ ràng, thì quan hệ tín thác sẽ không được hình thành. Trong các tài liệu khoa học pháp lý về tín thác, ba yếu tố này còn được gọi là ba điều chắc chắn (Three certainties)[4].

1.3.1. Sự chắc chắn về ý định thiết lập tín thác

Quan hệ tín thác chỉ được hình thành khi ý định thiết lập tín thác của người lập tín thác là rõ ràng, chắc chắn. Sự chắc chắn và rõ ràng này có thể được thể hiện thông qua lời nói, hành động hoặc rõ ràng nhất là bằng văn bản. Yếu tố này được thiết lập để xác định xem có ý định cần thiết hay không là xem xét liệu người tạo ra quỹ tín thác có muốn ai đó có nghĩa vụ giữ tài sản vì lợi ích của người khác hay không. Việc sử dụng từ “tin tưởng” không cần thiết để thể hiện sự chắc chắn về ý định. Tuy nhiên, khi nó được sử dụng, nó có thể không thể hiện chắc chắn ý định tùy thuộc vào ngữ cảnh. Tòa án sẽ xem xét nội dung ý định của người sáng tạo để xem liệu họ muốn áp đặt nghĩa vụ hay yêu cầu những người được ủy thác làm điều gì đó. Nếu nó chỉ đơn thuần là một yêu cầu, các từ bắt buộc sẽ hiển nhiên, chẳng hạn như “mong muốn”, “yêu cầu”, “tự tin”. Câu hỏi về ý định được đánh giá một cách khách quan, có liên quan đến ý kiến của người có lý. Để bảo đảm được sự chắc chắn này, thì ngôn từ trong văn bản tín thác phải dễ hiểu, không mang tính đa nghĩa. Ngày nay, sự chắc chắn của ý định thành lập tín thác không còn là vấn đề lớn bởi phần lớn tín thác hiện tại đều được thiết lập bằng văn bản mà cụ thể là hợp đồng hoặc di chúc.

1.3.2. Sự chắc chắn về vấn đề tài sản tín thác

Tài sản tín thác được xem là yếu tố quan trọng, cốt yếu nhất trong quan hệ tín thác khi nó là thứ rằng buộc lợi ích và nghĩa vụ của các bên. Sự chắc chắn về tài sản tín thác thể hiện ở hai phương diện: Thứ nhất, tài sản tín thác phải được xác định rõ ràng, cụ thể, có thể thông qua các tiêu chí như là về phạm vi, số lượng, giá trị hay địa điểm[5]; thứ hai, sự xác định rõ về phạm vi lợi ích mà người hưởng lợi sẽ nhận được. Cụ thể là thỏa thuận tín thác phải xác định được người hưởng lợi sẽ nhận được lợi ích dưới dạng nào, số lượng bao nhiêu và theo chu kỳ thời gian cụ thể như thế nào. Nếu có nhiều người hưởng lợi thì phải xác định cụ thể cho từng người và mỗi người hưởng lợi có thể nhận được lợi ích không giống nhau.

1.3.3. Sự chắc chắn về đối tượng

Ở đây, đối tượng là người hưởng lợi từ tài sản tín thác hoặc mục đích khác mà theo đó tín thác được lập ra để thực hiện. Nếu khi thiết lập tín thác mà người lập không đề cập đến đối tượng hưởng lợi hoặc mục đích thì quan hệ tín thác sẽ không hình thành. Khi xác định người hưởng lợi và mục đích thì việc xác định càng chi tiết, cụ thể thì sẽ càng giúp cho việc thực hiện hiệu quả và rõ ràng hơn, vừa tạo thuận lợi cho người nhận tín thác vừa ngăn ngừa việc người này lợi dụng để mưu lợi riêng cho bản thân.

Nếu tài sản đã được chuyển giao mà đối tượng của tín thác vẫn chưa được xác định rõ ràng, thì người lập tín thác sẽ trở thành người hưởng lợi và người nhận tín thác sẽ tiếp tục giữ gìn tài sản vì lợi ích của người lập tín thác (lúc này đã trở thành người hưởng lợi) cho đến khi tài sản được chuyển giao trở lại cho người này để thiết lập lại một tín thác khác.

2. Một số ứng dụng của tín thác trong đời sống xã hội và liên hệ với thực tiễn Việt Nam

2.1. Tín thác là một công cụ hữu hiệu cho việc quản lý tài chính cá nhân

Như đã phân tích, tín thác có thể được xem là một giải pháp lâu dài, hiệu quả cho việc bảo đảm sự an toàn cho tài chính gia đình. Cụ thể, với đặc trưng là tài sản tín thác có sự độc lập, tách bạch khỏi tài sản cá nhân thì bằng việc thiết lập một quan hệ tín thác, những người tạo ra thu nhập trong gia đình (như bố, mẹ, ông, bà) có thể chia tài sản của mình thành nhiều sản nghiệp khác nhau và để mỗi sản nghiệp phục vụ một mục đích nhất định như một tín thác dùng để chi trả cho chi phí học tập cho con cái hay tín thác dùng để chu cấp cho chính bản thân họ khi nghỉ hưu. Tài sản tín thác tách bạch khỏi tài sản cá nhân nên nếu trong trường hợp bản thân bị mất việc hay làm ăn thua lỗ, nợ nần thì tài sản tín thác vẫn được duy trì, không bị thu hồi để thực hiện nghĩa vụ trả nợ và tiếp tục có thể chi trả cho những nhu cầu quan trọng về lâu dài cho các thành viên trong gia đình cũng như bản thân. Ngoài ra, tín thác cũng là một cách thức hiệu quả để các bậc phụ huynh kiểm soát chi tiêu của con cái khi họ không có điều kiện cũng như thời gian[6].

Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã và đang phát triển với tốc độ cao, thu nhập bình quân của người dân được nâng cao, cùng với đó là sự gia tăng về số lượng của tầng lớp trung lưu và giới siêu giàu. Điều này, dẫn tới nhu cầu tìm kiếm một công cụ để quản lý tài sản một cách hiệu quả, để tránh tranh chấp, mâu thuẫn hay thiệt hại xảy ra khi ở trong các tình huống không mong muốn như là chết (thừa kế), ly hôn hay phá sản, bảo đảm khi các tình huống đó xảy ra thì các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người chưa thành niên vẫn có nguồn tài chính ổn định để duy trì cuộc sống. Tín thác là một giải pháp hữu hiệu có thể giải quyết được nhu cầu này.

2.2. Quản lý tài sản cho mục đích từ thiện

Từ thiện, cứu trợ là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội và nhận được sự quan tâm, đóng góp của nhiều người dân, doanh nghiệp. Một vấn đề quan trọng của hoạt động từ thiện, đặc biệt là các tổ chức, chương trình từ thiện quy mô lớn là việc quản lý tài sản dùng cho hoạt động từ thiện, vốn đến từ sự đóng góp của xã hội, bảo đảm sự an toàn, minh bạch cho hoạt động từ thiện. Việc thành lập quỹ tín thác chính là một giải pháp hiệu quả cho vấn đề này. Tài sản tín thác được tách bạch khỏi tài sản cá nhân và chỉ được sử dụng cho những mục đích xác định trong thỏa thuận tín thác nên nó sẽ bảo đảm sự minh bạch cho khoản tiền dùng cho mục đích từ thiện, tránh trường hợp các cá nhân xấu trong tổ chức từ thiện lợi dụng quyền lực để biển thủ số tiền này. Ngoài ra, trường hợp tổ chức hay cá nhân điều hành hoạt động từ thiện có nghĩa vụ nợ đến hạn mà không có khả năng trả thì khoản tiền từ thiện trong tín thác vẫn được giữ nguyên trạng và không bị thu hồi để trừ vào khoản nợ[7]. Theo đó, cần có một công cụ pháp lý hữu hiệu để quản lý tài sản trong quỹ từ thiện một cách an toàn, minh bạch và tín thác có thể đáp ứng được các điều kiện này.

2.3. Ứng dụng trong hoạt động đầu tư sinh lời

Hiện nay, bên cạnh việc tìm kiếm thu nhập thông qua lao động, sản xuất và kinh doanh thông thường, thì nhiều cá nhân cũng như công ty tổ chức cũng có nhu cầu tăng thêm thu nhập thông qua hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, để đầu tư có hiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận, đặc biệt là việc đầu tư ở các kênh có nhiều biến động như chứng khoán hay tiền mã hóa, thì đòi hỏi nhà đầu tư phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng và nhiều năm kinh nghiệm thực tiễn. Đây là điều mà rất ít người có được, đặc biệt là ở những nhà đầu tư mới gia nhập thị trường. Để giải quyết nhu cầu này, các quỹ tín thác đầu tư ra đời. Cách thức hoạt động của quỹ này là người hoặc công ty có nhu cầu đầu tư sẽ chuyển giao tiền cho quỹ, quỹ này sau đó sẽ liên kết với những nhà đầu tư chuyên nghiệp để thực hiện việc đầu tư bằng số tiền khách hàng gửi vào quỹ. Lợi nhuận kiếm được sẽ được gửi về cho khách hàng căn cứ vào tỷ suất phân chia đã thỏa thuận ban đầu[8]. Hiểu một cách đơn giản, đây là một hình thức “đầu tư hộ”, khi mà khách hàng có vốn để đầu tư nhưng không đủ kiến thức lẫn kinh nghiệm nên quyết định ủy thác cho quỹ - nơi có những nhân sự có kiến thức và kinh nghiệm chuyên sâu về đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư giúp mình. Gọi là quỹ tín thác bởi đây là một mô hình quan hệ tín thác với người gửi tiền vào quỹ vừa là người lập tín thác, vừa là người hưởng lợi. Quỹ tín thác đầu tư này hoạt động dưới hình thức công ty đại chúng và có phát hành cổ phiếu trên sàn chứng khoán[9].

Hoạt động tín thác đầu tư đã được thực hiện ở Việt Nam trong nhiều năm với hình thức phổ biến nhất là các quỹ tín đầu tư bất động sản. Mục đích của loại quỹ này là thông qua phát hành chứng chỉ quỹ nhằm huy động vốn nhàn rỗi của các nhà đầu tư nhỏ lẻ và cho phép các nhà đầu tư đầu tư 100% vốn vào các dự án bất động sản hoặc sở hữu các bất động sản thương mại[10]. Các quỹ đầu tư bất động sản hoạt động hiện đều là các quỹ nước ngoài, như VNL của Vinacapital, VPF của Dragon Capital, ILH- ILH2 và ILH3 của Indochina Capital, VPH của Saigon Asset Management[11]… Tuy nhiên, do chưa có khung pháp lý đầy đủ, nên có thể dẫn đến rủi ro cao khi đầu tư nên nhiều nhà đầu tư vẫn còn tâm lý e dè khi đầu tư vào loại hình này. Do vậy, cần xây dựng khung pháp lý đầy đủ cho quan hệ tín thác để giải quyết được vấn đề này.

Có thể thấy, tín thác thực sự là một công cụ vô cùng hiệu quả cho việc quản lý tài sản cũng như đầu tư đã được chứng minh trong thực tiễn một số quốc gia trên thế giới và có thể giải quyết được nhiều nhu cầu về tài sản, kinh tế, xã hội đang hiện hữu trong xã hội Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, trong tương lai, các nhà làm luật cần sớm xem xét nghiên cứu việc xây dựng khung pháp lý cho hoạt động này tại Việt Nam.

TS. Nguyễn Hùng

Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung

NCS. Hoàng Trung Hiếu

Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

[1]. Ford and Lee: Principles on the Law of Trusts (1996, 3rd ed).

[2]. Jill E. Martin: Modern Equity (1997, 15th ed), p. 45.

[3]. Lê Vũ Nam, Lê Bích Thủy, Quan hệ tín thác trong pháp luật một số quốc gia và gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 24/2020, tr. 42.

[4]. https://www.lawteacher.net/free-law-essays/equity-law/knight-v-knight-2.php, truy cập ngày 12/4/2023.

[5]. Tan zhenting, Perfecting the Chinese Law of Trusts: Critical and Comparative Study of the Australian and Chinese Law of Trusts, Luận án Tiến sĩ, Đại học Bond, 2005, tr. 93.

[6]. https://www.quillgroup.com.au/blog/how-to-set-up-a-family-trust/#:~:text=Thousands%20of%20new%20family% 20trusts,legal%20structure%20for%20a%20business, truy cập ngày 13/4/2023.

[7]. http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/210637/Xac-lap-va-van-hanh-tin-thac-cho-muc-dich-tu-thien—Kinh-nghiem-tu-quoc-te.html, truy cập ngày 13/4/2023.

[8]. https://www.nerdwallet.com/uk/investing/what-is-an-investment-trust/, truy cập 13/4/2023.

[9]. https://www.blackrock.com/uk/inpidual/products/investment-trusts/understanding-investment-trusts, truy cập ngày 13/4/2023.

[10]. https://idautu.com/co-hoi-va-thach-thuc-cua-quy-dau-tu-tin-thac-bat-dong-san-reit-tai-viet-nam/, truy cập ngày 13/4/2023.

[11]. https://tapchitaichinh.vn/thi-truong-tai-chinh/bo-von-vao-quy-tin-thac-bat-dong-san-sao-cho-hieu-qua-334100.html, truy cập ngày 13/4/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: