Thứ sáu 15/05/2026 21:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về tín thác và sự cần thiết xây dựng khung pháp lý về tín thác tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung cơ bản của quan hệ tín thác, đồng thời chỉ ra một số ứng dụng của tín thác trong đời sống xã hội và liên hệ với thực tiễn Việt Nam.

1. Một số vấn đề lý luận về tín thác

1.1. Khái niệm tín thác

Là một chủ đề kinh điển của khoa học pháp lý phương Tây, đã có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu và đưa ra định nghĩa cho quan hệ tín thác. Tác giả Ford và Lee trong cuốn “Những nguyên lý về pháp luật tín thác” (Principle on the Law of the Trust) định nghĩa, tín thác là một nghĩa vụ có thể thi hành theo luật công bình mà nó thuộc về một người (người nhận tín thác) với tư cách chủ sở hữu của một số tài sản cụ thể (tài sản tín thác) để giải quyết tài sản đó vì lợi ích của một người khác (người hưởng lợi) hoặc để thực hiện một vài mục đích cụ thể nào đó[1]. Tác giả Martin trong tác phẩm “Luật công bình hiện đại” (Modern Equity) thì cho rằng, tín thác là một mối quan hệ được công nhận bởi luật công bình, xuất hiện khi tài sản được trao cho một người hoặc nhiều người gọi là người nhận tín thác, mà những người nhận tín thác này có nghĩa vụ giữ vì lợi ích của những người khác, được gọi là cestuis que trust hay người hưởng lợi[2].

Hai định nghĩa nói trên tuy có sự khác nhau về diễn đạt nhưng đều thống nhất ở những nội dung cơ bản, xác định những đặc điểm chính của quan hệ tín thác, cụ thể như: (i) Là một dạng quan hệ pháp lý, bao gồm ba bên là người lập tín thác, người nhận tín thác và người hưởng lợi; (ii) Xuất hiện khi một người hoặc nhiều được trao cho một tài sản xác định, trở thành chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đó và bị ràng buộc phải giữ gìn và quản lý tài sản đó vì lợi ích một hoặc nhiều người khác (người hưởng lợi) hoặc vì một số mục đích cụ thể khác.

Từ đặc điểm trên, nhóm tác giả đưa ra khái niệm đầy đủ và dễ hiểu cho quan hệ tín thác như sau: Tín thác là một quan hệ pháp lý, xuất hiện khi mà một hoặc nhiều người (người lập tín thác) chuyển giao tài sản cho một hoặc nhiều người khác (người nhận tín thác) và người này với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản, có nghĩa vụ phải giữ gìn, quản lý và định đoạt tài sản đó vì lợi ích của một hoặc một nhóm người thụ hưởng (người hưởng lợi) hoặc vì các mục đích cụ thể khác.

1.2. Các đặc trưng của quan hệ tín thác

1.2.1. Sự phân chia quyền sở hữu

Đặc trưng nổi bật nhất của quan hệ tín thác đó là sự phân chia trong quyền sở hữu, hay còn gọi là sở hữu kép (duality of ownership). Như đã đề cập ở phần định nghĩa, trong quan hệ tín thác tồn tại ba bên (bên lập tín thác, bên nhận tín thác và bên thụ hưởng tín thác) và đòi hỏi sự phân chia quyền sở hữu tài sản giữa hai bên là bên nhận tín thác và bên thụ hưởng lợi ích sau khi tài sản tín thác được người lập tín thác chuyển giao cho người nhận tín thác, theo đó, bên nhận tín thác (nhận ủy thác quản lý tài sản) sở hữu tài sản về mặt pháp lý, có các quyền chiếm giữ, sử dụng, định đoạt tài sản (nhưng không thụ hưởng lợi ích từ tài sản) và bên thụ hưởng tín thác sở hữu tài sản về mặt lợi ích (có quyền hưởng lợi, nhưng không được chiếm giữ, định đoạt vào thời điểm tài sản đang được bên nhận tín thác chiếm giữ). Có sự phân biệt rất rõ ràng giữa quyền quản lý tài sản và quyền hưởng lợi từ tài sản và làm phát sinh khái niệm phân chia quyền sở hữu hay là sở hữu kép. Ngay khi lập tín thác, các quyền tài sản của người lập ra tín thác không còn nữa, mà hành vi này làm phát sinh mối quan hệ pháp lý giữa người nhận tín thác và người hưởng lợi tín thác. Vì nắm giữ quyền sở hữu tài sản về mặt pháp lý, bên nhận tín thác có tất cả các quyền của một chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản, bao gồm các quyền chiếm giữ, sử dụng và định đoạt. Tuy nhiên, tất cả các quyền này đều bị hạn chế bởi những điều kiện được quy định tại văn bản xác lập quan hệ tín thác, đồng thời, việc thực hiện tất cả các quyền này, đều chỉ phục vụ cho mục đích của tín thác, chứ không phục vụ cho lợi ích cá nhân của bên nhận tín thác. Trong mối quan hệ với bên thứ ba, bên nhận tín thác đóng vai trò là chủ sở hữu tài sản tín thác và có quyền đối vật đối với tài sản tín thác. Trong khi đó, bên thụ hưởng tín thác có quyền hưởng lợi từ tài sản tín thác theo các điều kiện được bên lập tín thác quy định rõ trong tín thác.

1.2.2. Sự độc lập của tài sản tín thác

Khi một quan hệ tín thác được thiết lập và có hiệu lực pháp lý thì tài sản tín thác sẽ được tách bạch khỏi tài sản cá nhân của cả bên nhận tín thác lẫn bên lập tín thác và trở thành một “sản nghiệp độc lập”[3]. Do đó, chủ nợ của bên nhận tín thác lẫn bên lập tín thác không thể thu giữ tài sản tín thác trong trường hợp bên nhận tín thác bị tuyên bố phá sản và phải thanh lý tài sản. Tài sản tín thác chỉ tồn tại cho bên thụ hưởng tín thác hoặc chỉ phục vụ vì mục đích của tín thác, chứ không liên quan đến chủ nợ của cá nhân bên nhận tín thác hay bên lập tín thác. Đặc trưng tạo nên sự hữu dụng của tín thác, biến tín thác trở thành một công cụ quản lý tài sản hiệu quả và an toàn, ví dụ như: Bố/mẹ hay ông/bà có thể lập tín thác để chu cấp cho con/cháu mình đến một độ tuổi nhất định nhằm đề phòng trường hợp bản thân làm ăn thua lỗ và dính vào nợ nần. Người sắp mất có thể lập tín thác để dùng cho mục đích thờ cúng hoặc từ thiện mà không phải bận tâm về việc tài sản của mình sẽ bị xâm phạm hoặc sử dụng không đúng mục đích.

1.3. Các yếu tố cấu thành

Một quan hệ tín thác có giá trị pháp lý cần bảo đảm được ba yếu tố, đó là: Ý định thiết lập tín thác, tài sản tín thác và đối tượng mà tín thác hướng đến. Cả ba yếu tố này phải được xác định một cách cụ thể, rõ ràng bằng cách này hoặc cách khác. Nếu thiếu một trong ba yếu tố hoặc một trong ba yếu tố này không được xác định một cách rõ ràng, thì quan hệ tín thác sẽ không được hình thành. Trong các tài liệu khoa học pháp lý về tín thác, ba yếu tố này còn được gọi là ba điều chắc chắn (Three certainties)[4].

1.3.1. Sự chắc chắn về ý định thiết lập tín thác

Quan hệ tín thác chỉ được hình thành khi ý định thiết lập tín thác của người lập tín thác là rõ ràng, chắc chắn. Sự chắc chắn và rõ ràng này có thể được thể hiện thông qua lời nói, hành động hoặc rõ ràng nhất là bằng văn bản. Yếu tố này được thiết lập để xác định xem có ý định cần thiết hay không là xem xét liệu người tạo ra quỹ tín thác có muốn ai đó có nghĩa vụ giữ tài sản vì lợi ích của người khác hay không. Việc sử dụng từ “tin tưởng” không cần thiết để thể hiện sự chắc chắn về ý định. Tuy nhiên, khi nó được sử dụng, nó có thể không thể hiện chắc chắn ý định tùy thuộc vào ngữ cảnh. Tòa án sẽ xem xét nội dung ý định của người sáng tạo để xem liệu họ muốn áp đặt nghĩa vụ hay yêu cầu những người được ủy thác làm điều gì đó. Nếu nó chỉ đơn thuần là một yêu cầu, các từ bắt buộc sẽ hiển nhiên, chẳng hạn như “mong muốn”, “yêu cầu”, “tự tin”. Câu hỏi về ý định được đánh giá một cách khách quan, có liên quan đến ý kiến của người có lý. Để bảo đảm được sự chắc chắn này, thì ngôn từ trong văn bản tín thác phải dễ hiểu, không mang tính đa nghĩa. Ngày nay, sự chắc chắn của ý định thành lập tín thác không còn là vấn đề lớn bởi phần lớn tín thác hiện tại đều được thiết lập bằng văn bản mà cụ thể là hợp đồng hoặc di chúc.

1.3.2. Sự chắc chắn về vấn đề tài sản tín thác

Tài sản tín thác được xem là yếu tố quan trọng, cốt yếu nhất trong quan hệ tín thác khi nó là thứ rằng buộc lợi ích và nghĩa vụ của các bên. Sự chắc chắn về tài sản tín thác thể hiện ở hai phương diện: Thứ nhất, tài sản tín thác phải được xác định rõ ràng, cụ thể, có thể thông qua các tiêu chí như là về phạm vi, số lượng, giá trị hay địa điểm[5]; thứ hai, sự xác định rõ về phạm vi lợi ích mà người hưởng lợi sẽ nhận được. Cụ thể là thỏa thuận tín thác phải xác định được người hưởng lợi sẽ nhận được lợi ích dưới dạng nào, số lượng bao nhiêu và theo chu kỳ thời gian cụ thể như thế nào. Nếu có nhiều người hưởng lợi thì phải xác định cụ thể cho từng người và mỗi người hưởng lợi có thể nhận được lợi ích không giống nhau.

1.3.3. Sự chắc chắn về đối tượng

Ở đây, đối tượng là người hưởng lợi từ tài sản tín thác hoặc mục đích khác mà theo đó tín thác được lập ra để thực hiện. Nếu khi thiết lập tín thác mà người lập không đề cập đến đối tượng hưởng lợi hoặc mục đích thì quan hệ tín thác sẽ không hình thành. Khi xác định người hưởng lợi và mục đích thì việc xác định càng chi tiết, cụ thể thì sẽ càng giúp cho việc thực hiện hiệu quả và rõ ràng hơn, vừa tạo thuận lợi cho người nhận tín thác vừa ngăn ngừa việc người này lợi dụng để mưu lợi riêng cho bản thân.

Nếu tài sản đã được chuyển giao mà đối tượng của tín thác vẫn chưa được xác định rõ ràng, thì người lập tín thác sẽ trở thành người hưởng lợi và người nhận tín thác sẽ tiếp tục giữ gìn tài sản vì lợi ích của người lập tín thác (lúc này đã trở thành người hưởng lợi) cho đến khi tài sản được chuyển giao trở lại cho người này để thiết lập lại một tín thác khác.

2. Một số ứng dụng của tín thác trong đời sống xã hội và liên hệ với thực tiễn Việt Nam

2.1. Tín thác là một công cụ hữu hiệu cho việc quản lý tài chính cá nhân

Như đã phân tích, tín thác có thể được xem là một giải pháp lâu dài, hiệu quả cho việc bảo đảm sự an toàn cho tài chính gia đình. Cụ thể, với đặc trưng là tài sản tín thác có sự độc lập, tách bạch khỏi tài sản cá nhân thì bằng việc thiết lập một quan hệ tín thác, những người tạo ra thu nhập trong gia đình (như bố, mẹ, ông, bà) có thể chia tài sản của mình thành nhiều sản nghiệp khác nhau và để mỗi sản nghiệp phục vụ một mục đích nhất định như một tín thác dùng để chi trả cho chi phí học tập cho con cái hay tín thác dùng để chu cấp cho chính bản thân họ khi nghỉ hưu. Tài sản tín thác tách bạch khỏi tài sản cá nhân nên nếu trong trường hợp bản thân bị mất việc hay làm ăn thua lỗ, nợ nần thì tài sản tín thác vẫn được duy trì, không bị thu hồi để thực hiện nghĩa vụ trả nợ và tiếp tục có thể chi trả cho những nhu cầu quan trọng về lâu dài cho các thành viên trong gia đình cũng như bản thân. Ngoài ra, tín thác cũng là một cách thức hiệu quả để các bậc phụ huynh kiểm soát chi tiêu của con cái khi họ không có điều kiện cũng như thời gian[6].

Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã và đang phát triển với tốc độ cao, thu nhập bình quân của người dân được nâng cao, cùng với đó là sự gia tăng về số lượng của tầng lớp trung lưu và giới siêu giàu. Điều này, dẫn tới nhu cầu tìm kiếm một công cụ để quản lý tài sản một cách hiệu quả, để tránh tranh chấp, mâu thuẫn hay thiệt hại xảy ra khi ở trong các tình huống không mong muốn như là chết (thừa kế), ly hôn hay phá sản, bảo đảm khi các tình huống đó xảy ra thì các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người chưa thành niên vẫn có nguồn tài chính ổn định để duy trì cuộc sống. Tín thác là một giải pháp hữu hiệu có thể giải quyết được nhu cầu này.

2.2. Quản lý tài sản cho mục đích từ thiện

Từ thiện, cứu trợ là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội và nhận được sự quan tâm, đóng góp của nhiều người dân, doanh nghiệp. Một vấn đề quan trọng của hoạt động từ thiện, đặc biệt là các tổ chức, chương trình từ thiện quy mô lớn là việc quản lý tài sản dùng cho hoạt động từ thiện, vốn đến từ sự đóng góp của xã hội, bảo đảm sự an toàn, minh bạch cho hoạt động từ thiện. Việc thành lập quỹ tín thác chính là một giải pháp hiệu quả cho vấn đề này. Tài sản tín thác được tách bạch khỏi tài sản cá nhân và chỉ được sử dụng cho những mục đích xác định trong thỏa thuận tín thác nên nó sẽ bảo đảm sự minh bạch cho khoản tiền dùng cho mục đích từ thiện, tránh trường hợp các cá nhân xấu trong tổ chức từ thiện lợi dụng quyền lực để biển thủ số tiền này. Ngoài ra, trường hợp tổ chức hay cá nhân điều hành hoạt động từ thiện có nghĩa vụ nợ đến hạn mà không có khả năng trả thì khoản tiền từ thiện trong tín thác vẫn được giữ nguyên trạng và không bị thu hồi để trừ vào khoản nợ[7]. Theo đó, cần có một công cụ pháp lý hữu hiệu để quản lý tài sản trong quỹ từ thiện một cách an toàn, minh bạch và tín thác có thể đáp ứng được các điều kiện này.

2.3. Ứng dụng trong hoạt động đầu tư sinh lời

Hiện nay, bên cạnh việc tìm kiếm thu nhập thông qua lao động, sản xuất và kinh doanh thông thường, thì nhiều cá nhân cũng như công ty tổ chức cũng có nhu cầu tăng thêm thu nhập thông qua hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, để đầu tư có hiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận, đặc biệt là việc đầu tư ở các kênh có nhiều biến động như chứng khoán hay tiền mã hóa, thì đòi hỏi nhà đầu tư phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng và nhiều năm kinh nghiệm thực tiễn. Đây là điều mà rất ít người có được, đặc biệt là ở những nhà đầu tư mới gia nhập thị trường. Để giải quyết nhu cầu này, các quỹ tín thác đầu tư ra đời. Cách thức hoạt động của quỹ này là người hoặc công ty có nhu cầu đầu tư sẽ chuyển giao tiền cho quỹ, quỹ này sau đó sẽ liên kết với những nhà đầu tư chuyên nghiệp để thực hiện việc đầu tư bằng số tiền khách hàng gửi vào quỹ. Lợi nhuận kiếm được sẽ được gửi về cho khách hàng căn cứ vào tỷ suất phân chia đã thỏa thuận ban đầu[8]. Hiểu một cách đơn giản, đây là một hình thức “đầu tư hộ”, khi mà khách hàng có vốn để đầu tư nhưng không đủ kiến thức lẫn kinh nghiệm nên quyết định ủy thác cho quỹ - nơi có những nhân sự có kiến thức và kinh nghiệm chuyên sâu về đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư giúp mình. Gọi là quỹ tín thác bởi đây là một mô hình quan hệ tín thác với người gửi tiền vào quỹ vừa là người lập tín thác, vừa là người hưởng lợi. Quỹ tín thác đầu tư này hoạt động dưới hình thức công ty đại chúng và có phát hành cổ phiếu trên sàn chứng khoán[9].

Hoạt động tín thác đầu tư đã được thực hiện ở Việt Nam trong nhiều năm với hình thức phổ biến nhất là các quỹ tín đầu tư bất động sản. Mục đích của loại quỹ này là thông qua phát hành chứng chỉ quỹ nhằm huy động vốn nhàn rỗi của các nhà đầu tư nhỏ lẻ và cho phép các nhà đầu tư đầu tư 100% vốn vào các dự án bất động sản hoặc sở hữu các bất động sản thương mại[10]. Các quỹ đầu tư bất động sản hoạt động hiện đều là các quỹ nước ngoài, như VNL của Vinacapital, VPF của Dragon Capital, ILH- ILH2 và ILH3 của Indochina Capital, VPH của Saigon Asset Management[11]… Tuy nhiên, do chưa có khung pháp lý đầy đủ, nên có thể dẫn đến rủi ro cao khi đầu tư nên nhiều nhà đầu tư vẫn còn tâm lý e dè khi đầu tư vào loại hình này. Do vậy, cần xây dựng khung pháp lý đầy đủ cho quan hệ tín thác để giải quyết được vấn đề này.

Có thể thấy, tín thác thực sự là một công cụ vô cùng hiệu quả cho việc quản lý tài sản cũng như đầu tư đã được chứng minh trong thực tiễn một số quốc gia trên thế giới và có thể giải quyết được nhiều nhu cầu về tài sản, kinh tế, xã hội đang hiện hữu trong xã hội Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, trong tương lai, các nhà làm luật cần sớm xem xét nghiên cứu việc xây dựng khung pháp lý cho hoạt động này tại Việt Nam.

TS. Nguyễn Hùng

Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung

NCS. Hoàng Trung Hiếu

Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

[1]. Ford and Lee: Principles on the Law of Trusts (1996, 3rd ed).

[2]. Jill E. Martin: Modern Equity (1997, 15th ed), p. 45.

[3]. Lê Vũ Nam, Lê Bích Thủy, Quan hệ tín thác trong pháp luật một số quốc gia và gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 24/2020, tr. 42.

[4]. https://www.lawteacher.net/free-law-essays/equity-law/knight-v-knight-2.php, truy cập ngày 12/4/2023.

[5]. Tan zhenting, Perfecting the Chinese Law of Trusts: Critical and Comparative Study of the Australian and Chinese Law of Trusts, Luận án Tiến sĩ, Đại học Bond, 2005, tr. 93.

[6]. https://www.quillgroup.com.au/blog/how-to-set-up-a-family-trust/#:~:text=Thousands%20of%20new%20family% 20trusts,legal%20structure%20for%20a%20business, truy cập ngày 13/4/2023.

[7]. http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/210637/Xac-lap-va-van-hanh-tin-thac-cho-muc-dich-tu-thien—Kinh-nghiem-tu-quoc-te.html, truy cập ngày 13/4/2023.

[8]. https://www.nerdwallet.com/uk/investing/what-is-an-investment-trust/, truy cập 13/4/2023.

[9]. https://www.blackrock.com/uk/inpidual/products/investment-trusts/understanding-investment-trusts, truy cập ngày 13/4/2023.

[10]. https://idautu.com/co-hoi-va-thach-thuc-cua-quy-dau-tu-tin-thac-bat-dong-san-reit-tai-viet-nam/, truy cập ngày 13/4/2023.

[11]. https://tapchitaichinh.vn/thi-truong-tai-chinh/bo-von-vao-quy-tin-thac-bat-dong-san-sao-cho-hieu-qua-334100.html, truy cập ngày 13/4/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: