Thứ tư 18/03/2026 15:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về quyền lập hội trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

Trong giai đoạn hiện nay, quyền lập hội vẫn tiếp tục được ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Khác với tính chất ban đầu, quyền lập hội phát triển và dần trở thành không chỉ là quyền cá nhân mà còn là quyền của nhóm người có chung mục đích, ý tưởng, nghề nghiệp, sở thích, quan điểm chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng… Quyền lập hội của cá nhân được thực hiện cùng với các thành viên khác của nhóm. Quyền của cá nhân và quyền của nhóm trong trường hợp này hỗ trợ, bổ sung cho nhau và qua đó nâng cao hiệu quả của quyền lập hội trong thực tiễn quốc gia và quốc tế.


1. Quá trình hình thành và phát triển của quyền lập hội

Quyền lập hội được hình thành khá sớm và thuộc thế hệ quyền con người thứ nhất - thế hệ quyền dân sự, chính trị. Quyền lập hội được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt với việc Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948. Tại Điều 20 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 quy định: “Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hòa bình. Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn”, theo đó, quyền lập hội được quy định gắn kết với quyền tự do hội họp như một thể thống nhất. Cũng trong năm 1948, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước 87 về quyền tự do hiệp hội và việc bảo vệ quyền được tổ chức. Công ước 87 một lần nữa khẳng định quyền lập hội với tư cách là một trong những quyền dân sự, chính trị không thể thiếu của mỗi cá nhân[1]. Cùng với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn về việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người, đến Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966, quyền lập hội đã được quy định tách riêng tại Điều 22: “Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”.

2. Quyền lập hội dưới góc độ quyền con người, quyền công dân

2.1. Quyền lập hội - một trong những quyền cơ bản của con người

a. Định nghĩa hội và quyền lập hội

Theo cách hiểu thông thường, trong tiếng Việt, danh từ “hội” dùng để chỉ “tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động”[2]. Danh từ “hội” (association) trong tiếng Anh cũng được hiểu là “một tổ chức của những người có chung mục đích và có cơ cấu tổ chức chính thức”[3].

Trong pháp luật Việt Nam, khoản 1 Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ giải thích: “Hội” được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo pháp luật.

Dưới góc độ pháp lý quốc tế, định nghĩa về “hội” cũng được quan tâm nghiên cứu. Theo ông Maina Kiai - Báo cáo viên về tự do hội họp và lập hội của Liên Hợp Quốc, “hội” được hiểu là bất kỳ nhóm cá nhân hoặc thực thể pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung[4]. Thuật ngữ “tự do lập hội” (freedom of association) cũng được đề cập trong văn bản A/59/401 của Đại diện đặc biệt của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về những người bảo vệ nhân quyền, theo đó: “Tự do lập hội liên quan đến quyền của các cá nhân được tương tác và tổ chức với nhau để cùng nhau bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ lĩnh vực quan tâm chung”[5].

b. Đặc điểm của quyền lập hội

Là một trong những quyền dân sự, chính trị nên quyền lập hội cũng mang đặc điểm của quyền con người nói chung và nhóm quyền dân sự, chính trị nói riêng:

Thứ nhất, quyền lập hội vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù. Tất cả mọi người đều bình đẳng trong việc thụ hưởng các quyền con người cơ bản trong đó có quyền lập hội. Tuy nhiên, sự bình đẳng không có nghĩa là cào bằng mức độ thụ hưởng các quyền. Mọi người đều có quyền lập hội nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt giữa các cá nhân phụ thuộc vào đặc thù, năng lực của từng người, cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… mà người đó đang sống. Xét về đặc thù và năng lực của cá nhân, thì cá nhân chỉ có thể thành lập hội mới, gia nhập các hội có sẵn, điều hành hội… khi đã ở một độ tuổi nhất định, có nhận thức về đời sống xã hội và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Ngoài ra, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa - xã hội nơi mà cá nhân đang sống cũng tác động đến quyền lập hội và tạo nên những sắc thái riêng trong việc thực hiện quyền lập hội.

Thứ hai, quyền lập hội có tính cá nhân, không thể bị tước bỏ. Quyền lập hội là quyền của cá nhân và gắn liền với mỗi cá nhân. Cá nhân thực hiện quyền lập hội bằng chính hành vi của mình. Khi các cá nhân cùng nhau thực hiện quyền lập hội thì quyền này sẽ trở thành quyền chung của nhóm. Quyền lập hội không thể bị tước bỏ hay hạn chế bởi bất kỳ chủ thể nào, kể cả các cơ quan hay quan chức nhà nước. Tuy nhiên, đặc điểm này của quyền lập hội không có nghĩa là Nhà nước không được quy định những trường hợp hạn chế cá nhân thụ hưởng quyền lập hội khi có hành vi gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác hoặc ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng.

Thứ ba, quyền lập hội được ghi nhận và bảo đảm bởi pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền lập hội vừa là quyền có tính “tự nhiên, vốn có” (quyền lập hội dành cho tất cả mọi người), vừa là quyền có tính “pháp lý” (quyền lập hội của cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và hiện thực hoá nếu nó được ghi nhận và bảo đảm bởi các quy định của pháp luật, bao gồm cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế).

Thứ tư, việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện quyền lập hội không phụ thuộc nhiều vào nguồn lực vật chất đảm bảo và ít bị ảnh hưởng bởi trình độ phát triển kinh tế của quốc gia. Trước hết, để tôn trọng quyền lập hội, Nhà nước sẽ không được can thiệp một cách tùy tiện vào việc thụ hưởng quyền lập hội của người dân. Nhà nước không được ngăn cấm các chủ thể trong xã hội thành lập và gia nhập hội nếu việc thành lập và gia nhập đó không vi phạm pháp luật, không trái với phong tục, tập quán hoặc thuần phong mỹ tục của đất nước. Tuy nhiên, việc thụ hưởng quyền lập hội của người dân còn phải dựa trên những tiền đề do Nhà nước thiết lập. Nhà nước xây dựng khuôn khổ pháp lý cho quyền lập hội; hỗ trợ, tạo điều kiện cho các hội được thành lập và hoạt động; có các biện pháp ngăn ngừa và trừng phạt các hành vi vi phạm quyền lập hội của người dân;…

Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, quyền lập hội cũng có những đặc điểm riêng. Phần lớn các quyền dân sự, chính trị như quyền sống; quyền không bị tra tấn; quyền không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ tuỳ tiện; quyền được xét xử công bằng… đều là những quyền tuyệt đối, đòi hỏi phải được thực hiện ngay mà không có giới hạn, không thể bị hạn chế vì đó là ranh giới giữa có hay không có quyền con người. Khác với các quyền đó, quyền lập hội có thể bị giới hạn trong các trường hợp nhất định như vì mục đích an ninh quốc gia hay an toàn, trật tự công cộng, hoặc để bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội hoặc bảo vệ các quyền và tự do của người khác.

2.2. Quyền lập hội trong pháp luật quốc gia với tư cách là quyền công dân

Hiện nay, trong pháp luật các quốc gia có hai xu hướng quy định về quyền lập hội:

Thứ nhất, quyền lập hội được quy định chỉ dành cho những người mang quốc tịch quốc gia với tư cách là quyền công dân. Chẳng hạn, Điều 25 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Thứ hai, quyền lập hội được quy định dành cho tất cả các cá nhân cư trú trên lãnh thổ quốc gia không phân biệt cá nhân đó là công dân quốc gia hay người nước ngoài hoặc người không quốc tịch. Chẳng hạn, Điều 30 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 quy định: “Mọi người đều có quyền lập hội, bao gồm cả quyền gia nhập công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình…”[6]. Trong những trường hợp này, đối với công dân của quốc gia, quyền lập hội là quyền công dân; còn đối với cá nhân khác quyền lập hội là quyền con người.

Mặc dù có quy định khác biệt trong pháp luật các quốc gia nhưng điều đó không có nghĩa là quyền lập hội với tư cách là quyền con người hoàn toàn độc lập với quyền lập hội với tư cách là quyền công dân (kể cả khi pháp luật quốc gia quy định quyền lập hội chỉ dành cho công dân quốc gia). Trước hết, quyền lập hội với tư cách là quyền công dân chính là quyền con người trong một xã hội cụ thể với một hệ thống pháp luật cụ thể do Nhà nước thừa nhận và quy định. Mỗi công dân khi thực hiện quyền lập hội, đồng thời là chủ thể của hai loại quyền: Quyền con người và quyền công dân. Hơn nữa, quyền lập hội với tư cách là quyền con người đã trở thành những chuẩn mực pháp lý quốc tế được ghi nhận trong các điều ước quốc tế. Các điều ước quốc tế này xác lập nghĩa vụ đối với quốc gia trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về quyền con người, quyền công dân phù hợp với quy định của điều ước quốc tế. Chính điều này đã tạo ra sự gắn kết dù quyền lập hội được tiếp cận dưới góc độ quyền con người hay được tiếp cận dưới góc độ quyền công dân.

Qua phân tích sự gắn kết giữa quyền con người và quyền công dân, cùng với cách tiếp cận quyền lập hội là quyền con người tự nhiên vốn có và khách quan, thì một vấn đề đặt ra là, nếu pháp luật quốc gia quy định quyền lập hội chỉ dành cho công dân đã thực sự phù hợp? Việc quy định quyền lập hội chỉ dành cho công dân đã ngăn cản người nước ngoài tham gia và thành lập hội trên lãnh thổ quốc gia. Điều này trước hết ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân trong việc thụ hưởng quyền lập hội. Các cá nhân này chỉ có thể trở thành hội viên liên kết, hội viên danh dự (không phải là hội viên chính thức) của các hội thành lập trên lãnh thổ quốc gia với các quyền bị hạn chế. Ngoài ra, thực tiễn đã cho thấy, trong một số trường hợp lợi ích của quốc gia cũng có thể bị ảnh hưởng. Ví dụ, trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài chưa thể là hội viên chính thức của hiệp hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp của quốc gia, cho dù trong một số lĩnh vực, các nhà đầu tư nước ngoài đảm nhận một vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế của quốc gia.

3. Mối quan hệ giữa quyền lập hội với các quyền dân sự, chính trị khác

3.1. Cơ sở của mối quan hệ

Về lịch sử, quyền lập hội cũng như các quyền dân sự, chính trị khác đều là kết quả của quá trình đấu tranh cho tự do, đồng thời là sự biểu hiện xác thực của tự do và nhân phẩm. Sự ra đời của các quyền dân sự, chính trị, trong đó có quyền lập hội về cơ bản là để hạn chế, ngăn chặn sự lạm dụng quyền, xâm hại đến cuộc sống, tự do của cá nhân con người từ phía các quan chức và cơ quan nhà nước.

Về tính chất, các quyền con người là thống nhất, không thể phân chia và có tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau. Tất cả các quyền con người trong lĩnh vực dân sự, chính trị đều có tầm quan trọng như nhau, không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều có thể tác động tiêu cực đến việc thực hiện các quyền khác và tổng thể có tác động tiêu cực đến sự phát triển của con người.

Về pháp lý, quyền lập hội cũng như các quyền dân sự, chính trị khác cùng chính thức bắt đầu được ghi nhận trong các văn bản pháp lý đầu tiên của các Nhà nước tư sản. Dưới góc độ luật quốc tế, các quyền này được ghi nhận đầu tiên trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948. Sau đó, các quyền được quy định trong Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966.

Ngoài ra, những đặc điểm tương đồng giữa quyền lập hội và các quyền dân sự, chính trị khác, như phần trên đã phân tích, cũng là cơ sở hình thành mối quan hệ giữa các quyền này.

3.2. Nội dung của mối quan hệ

Xét về tổng thể, quyền lập hội và các quyền dân sự, chính trị khác đều nằm trong mối quan hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Việc bảo đảm (hay vi phạm) một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực (hay tiêu cực) đến việc bảo đảm các quyền khác. Trong hầu hết các trường hợp, rất khó, thậm chí là không thể thực sự thành công trong việc bảo đảm riêng một quyền con người nào đó mà bỏ qua các quyền khác. Quyền lập hội sẽ trở nên không có ý nghĩa nếu các quyền dân sự, chính trị khác không được đảm bảo. Ngược lại, nếu quyền lập hội được thực hiện thì đó sẽ là một trong những cơ sở và tiền đề tốt để thực hiện các quyền dân sự, chính trị khác.

Dựa vào quá trình hình thành cũng như nội dung, quyền lập hội có mối quan hệ khá rõ nét với những quyền dân sự, chính trị sau:

Thứ nhất, quyền lập hội có mối quan hệ với quyền tự do hội họp một cách hòa bình được quy định tại Điều 21 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966. Trước khi được quy định tách riêng trong Công ước này, quyền lập hội và quyền tự do hội họp được quy định chung tại Điều 20 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948. Chính điều này dường như đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hai quyền. Rõ ràng sẽ không thể có “hội” nếu các cá nhân không được “hội họp”, hay nói cách khác, quyền tự do hội họp chính là tiền đề quan trọng để các cá nhân thành lập hội cũng như bảo đảm và thực hiện quyền lập hội. Xét về ý nghĩa, quyền lập hội và quyền tự do hội họp một cách hòa bình đều là “những thành tố thiết yếu của một xã hội dân chủ” vì nó cho phép các thành viên “bày tỏ quan điểm chính trị, tham gia vào các mục tiêu văn học và nghệ thuật và các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa khác, tham gia vào việc thờ phụng tôn giáo và các niềm tin khác, hình thành và gia nhập các tổ chức công đoàn và hợp tác xã, bầu chọn những người lãnh đạo đại diện cho mình và buộc họ phải chịu trách nhiệm”[7].

Thứ hai, quyền lập hội có mối quan hệ với quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận được quy định tại Điều 19 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966. Sự tập hợp của các cá nhân trong “hội” không chỉ cùng nhau hành động mà còn cùng nhau bày tỏ chính kiến, quan điểm về những vấn đề quan tâm chung. Quyền lập hội được hình thành trên cơ sở quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận. Nhưng ngược lại, nếu không có “hội”, không có sự tập hợp lên tiếng của nhiều người thì quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận của từng cá nhân riêng lẻ sẽ bị giảm hiệu quả đáng kể. Tuyên bố về những người bảo vệ nhân quyền của Liên Hợp Quốc năm 1998 cũng khẳng định, để thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản, trong đó có quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, mọi người phải có quyền tự do lập hội ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế[8].

Thứ ba, quyền lập hội cũng có vai trò rất thiết yếu đối với việc hiện thực hóa quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý đất nước được quy định tại Điều 25 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966. Bình luận chung số 25 năm 1996 của Ủy ban Nhân quyền (cơ quan giám sát Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966) cũng khẳng định mối quan hệ giữa các quyền này[9]:

- Công dân tham gia quản lý nhà nước bằng việc tạo ảnh hưởng thông qua tranh luận và đối thoại công khai với các đại diện của mình... Sự tham gia này được bảo đảm bằng quyền tự do ngôn luận, hội họp và lập hội (đoạn 8).

- Quyền tự do biểu đạt, hội họp và lập hội là những điều kiện quan trọng cho việc thực hiện hiệu quả quyền bầu cử và phải được bảo vệ đầy đủ (đoạn 12).

- Để đảm bảo việc hưởng đầy đủ quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia quản lý đất nước thì việc trao đổi thông tin và ý kiến... giữa Nhà nước và công dân, các ứng cử viên và những đại diện được bầu là quan trọng... Điều này cũng đòi hỏi sự thụ hưởng đầy đủ và tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, hội họp và lập hội (đoạn 25).

- Quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập hay tham gia các tổ chức và hiệp hội liên quan đến vấn đề chính trị hay công cộng là một sự bổ sung cho quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia quản lý đất nước (đoạn 26).

Thứ tư, quyền lập hội và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại khoản 1 Điều 18 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 cũng có mối quan hệ biện chứng. Theo ông Maina Kiai - Báo cáo viên về tự do hội họp và lập hội của Liên Hợp Quốc thì một số loại hội điển hình bao gồm tổ chức xã hội dân sự, câu lạc bộ, hợp tác xã, tổ chức phi Chính phủ, tổ chức tôn giáo, đảng phái chính trị, công đoàn, tổ chức và hiệp hội trực tuyến[10]. Rõ ràng, quyền lập hội và quyền tự do bày tỏ tín ngưỡng, tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác chính là những nội dung thể hiện sự gắn kết giữa các quyền này.

Thứ năm, sự gắn kết giữa các cá nhân trong “hội” để “cùng nhau bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ lĩnh vực quan tâm chung” có thể sẽ tạo ra những hiệu ứng tích cực về mặt xã hội, tác động đến việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền dân sự, chính trị khác chẳng hạn như: Tạo dư luận để yêu cầu hạn chế hướng tới xoá bỏ án tử hình; hạn chế tình trạng tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục; đảm bảo quyền được xét xử công bằng; đảm bảo tự do và an ninh cá nhân;…

Như vậy, với tư cách là quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được thành lập hoặc tham gia một nhóm người có cùng chí hướng để cùng nhau bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ lĩnh vực quan tâm chung, quyền lập hội là một trong những quyền con người cơ bản. Nó có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện nhiều quyền con người khác trong các lĩnh vực dân sự, chính trị. Quyền lập hội cũng đóng vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển của xã hội dân chủ khi chúng là một kênh cho phép sự đối thoại cởi mở, nơi mà quan điểm thiểu số hoặc bất đồng được tôn trọng.

TS. Nguyễn Thị Kim Ngân

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Lao-dong-Tien-luong/Cong-uoc-87-nam-1948-quyen-tu-do-hiep-hoi-bao-ve-quyen-duoc-to-chuc-103343.aspx, truy cập ngày 05/8/2018.

[2]. Trung tâm Từ điển học, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội, 2010, tr.592.

[3]. Nguồn https://www.dictionary.com/browse/association, truy cập ngày 03/8/2018.

[4]. Report of the Special Rapporteur on the Rights to Freedom of Peaceful Assembly and of Association, Maina Kiai (A/ HRC/20/27), p.13, para 51. Nguồn https://www.ohchr.org/Documents/HRBodies/ HRCouncil/RegularSession/Session20/A-HRC-20-27_en.pdf 2, truy cập ngày 03/8/2018.

[5]. Report of the Special Representative of the Secretary-General on Human Rights Defenders, (A/59/401), p.12, para 46.

Nguồn: https://www.hrichina.org/sites/default/files/human_rights_defenders_note_by_secretary_general.pdf, truy cập ngày 03/8/2018.

[6]. The Constitution of The Russian Federation. Nguồn http://www.constitution.ru/en/10003000-01.htm, truy cập 10/8/2018.

[7]. A/HRC/RES/15/21 The Rights to Freedom of Peaceful Assembly and of Association.

Nguồn http://www.icnl.org/research/resources/dcs/UNHRCResolution.pdf, truy cập 10/8/2018.

[8]. Declaration on Human Rights Defenders.

Nguồn: https://www.ohchr.org/EN/Issues/SRHRDefenders/Pages/Declaration.aspx, truy cập 10/8/2018.

[9]. Viện Nghiên cứu quyền con người, Bình luận và khuyến nghị chung của các ủy ban công ước thuộc Liên Hợp Quốc về quyền con người, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 348.

[10]. Report of the Special Rapporteur on the Rights to Freedom of Peaceful Assembly and of Association, Maina Kiai (A/ HRC/20/27), p.13, para 52.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: