Thứ bảy 10/01/2026 03:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán theo pháp luật Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng và chỉ ra một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Khái quát về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam

Thứ nhất, loại hình kinh doanh dịch vụ kế toán.

Hiện nay, doanh nghiệp hành nghề kế toán được thành lập dưới ba hình thức: (i) Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên; (ii) Công ty hợp danh; (iii) Doanh nghiệp tư nhân được quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 tương đồng với loại hình doanh nghiệp kiểm toán được quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Kiểm toán độc lập năm 2011. Ngoài ra, có thể kinh doanh dịch vụ kế toán dưới hình thức hộ kinh doanh dịch vụ kế toán.

Theo khoản 4 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 và khoản 1, khoản 3 Điều 31 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán (Nghị định số 174/2016/NĐ-CP), doanh nghiệp dịch vụ kế toán nước ngoài được thực hiện kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam dưới các hình thức: (i) Góp vốn với doanh nghiệp kế toán tại Việt Nam đang hoạt động để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam; (ii) Thành lập chi nhánh doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài; (iii) Cung cấp dịch vụ kế toán xuyên biên giới theo quy định của Chính phủ.

Trong đó, doanh nghiệp nước ngoài phải “liên danh” với doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán của Việt Nam và phải lập thành “hợp đồng liên danh” về việc cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới. Hợp đồng này phải phân định rõ trách nhiệm của các bên trong việc cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới. Bản chất của “hợp đồng liên danh” này là hợp đồng hợp tác không hình thành pháp nhân (BCC) theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Luật Đầu tư năm 2020 và điểm c khoản 4 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 và Điều 31 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP.

Doanh nghiệp dịch vụ kế toán nước ngoài chỉ được góp vốn với doanh nghiệp kế toán Việt Nam có đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán dưới hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty hợp danh, trong đó, doanh nghiệp kế toán nước ngoài là thành viên góp vốn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Nếu doanh nghiệp kế toán nước ngoài không góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam theo các loại hình nêu trên thì thực hiện thành lập chi nhánh doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài tại Việt Nam dưới các hình thức là chi nhánh tương ứng với loại hình doanh nghiệp dịch vụ kế toán nước ngoài theo điểm b khoản 4 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 như: (i) Chi nhánh công ty TNHH hai thành viên trở lên; (ii) Chi nhánh công ty hợp danh; (iii) Chi nhánh doanh nghiệp tư nhân.

Thứ hai, điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán.

Kinh doanh dịch vụ kế toán là ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định tại dòng thứ tự số 18 Phụ lục IV Luật Đầu tư năm 2020 và căn cứ tại khoản 2 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanh dịch vụ kế toán khi bảo đảm các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Kế toán năm 2015 và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán.

Theo quy định tại Điều 60 Luật Kế toán năm 2015 thì điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán cho các loại hình doanh nghiệp bao gồm: (i) Có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc các giấy tờ khác có giá trị tương đương theo quy định của pháp luật; (ii) Có ít nhất 02 thành viên góp vốn hoặc 02 thành viên hợp danh hoặc 02 kế toán viên phải là kế toán viên hành nghề tùy thuộc vào mô hình của mỗi doanh nghiệp; (iii) Người đại diện theo pháp luật đồng thời là giám đốc đối với công ty TNHH, công ty hợp danh hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân đồng thời là giám đốc phải là kế toán viên hành nghề.

Căn cứ Điều 65 Luật Kế toán năm 2015, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán phải đáp ứng điều kiện: (i) Có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh; (ii) Cá nhân, đại diện nhóm cá nhân thành lập hộ kinh doanh là kế toán viên hành nghề.

2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch kế toán tại Việt Nam

Luật Kế toán năm 2015 ra đời đã tạo thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ kế toán và hành nghề kế toán tại Việt Nam. Ban đầu, chỉ từ 18 doanh nghiệp với hơn 30 kế toán viên chuyên nghiệp năm 2008, đến năm 2020, thị trường đã có sự tham gia của hơn 160 doanh nghiệp và hơn 260 kế toán viên chuyên nghiệp[1] cho thấy, thị trường dịch vụ kế toán ngày càng lớn mạnh với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam, cụ thể:

Thứ nhất, nhà đầu tư lựa chọn loại hình doanh nghiệp có chế độ TNHH và không chọn những loại hình doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn.

Theo danh sách doanh nghiệp đủ điều kiện hành nghề cuối năm 2022 (được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính) cho thấy, tổng số 151 doanh nghiệp kế toán (không bao gồm các công ty kiểm toán đăng ký dịch vụ kế toán), có 151 chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán với loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên. Trong khi đó, chỉ có duy nhất 01 doanh nghiệp tư nhân nhưng nay không còn hoạt động và không có bất kỳ công ty hợp danh và hộ kinh doanh nào hoạt động dịch vụ kế toán.

Thực trạng trên cho thấy, các nhà đầu tư và kế toán viên hành nghề có xu hướng lựa chọn thành lập doanh nghiệp kế toán theo loại hình doanh nghiệp có chế độ TNHH để hạn chế rủi ro cho mình thay vì như định hướng là chế độ trách nhiệm vô hạn để giảm rủi ro cho khách hàng. Thực trạng này có thể gây ra một số hệ lụy cho thị trường cũng như ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và bên thứ ba vì công ty TNHH chỉ chịu trách nhiệm trên phần vốn góp.

Thứ hai, dịch vụ kế toán không cho phép thành lập công ty TNHH một thành viên.

Luật Kế toán năm 2015 không cho phép thành lập doanh nghiệp kế toán theo loại hình công ty TNHH một thành viên do cá nhân và tổ chức làm chủ. Quy định này là hợp lý đối với công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ bởi vì pháp luật hiện hành không cho phép tổ chức sở hữu trên 35% vốn điều lệ, đồng thời, bảo đảm được mục tiêu điều tiết thị trường dịch vụ kế toán bằng công cụ tỷ lệ vốn của tổ chức.

Tuy nhiên, xét trên góc độ pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên thì không có điểm khác biệt trọng yếu, bởi lẽ, hai loại hình doanh nghiệp này đều là loại hình doanh nghiệp mà nhà đầu tư (thành viên) góp vốn chịu TNHH trên phần vốn điều lệ đã góp. Do đó, nếu doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán hoạt động theo loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu là hoàn toàn tương đồng về mặt pháp lý và về mặt TNHH đối với các khoản nợ của công ty cũng như nghĩa vụ đối với khách hàng.

Mặt khác, Luật Kế toán năm 2003 và Luật Kế toán năm 2015 đều cho phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và hộ cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán. Rõ ràng, doanh nghiệp tư nhân do 01 cá nhân làm chủ, hộ cá nhân kinh doanh do 01 cá nhân làm chủ và công ty TNHH một thành viên cũng do 01 cá nhân làm chủ thì cần có sự bình đẳng về mặt pháp lý khi kinh doanh dịch vụ kế toán.

Thứ ba, thiếu quy định về tỷ lệ vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh kinh doanh dịch vụ kế toán.

Luật Kế toán năm 2015 không quy định chi tiết về công ty hợp danh kinh doanh dịch vụ kế toán. Cụ thể, Luật Kế toán năm 2015 chỉ quy định về công ty hợp danh mà không đề cập đến loại hình công ty hợp danh có thành viên góp vốn hay không. Như vậy, có thể hiểu, công ty dịch vụ kế toán hợp danh được có thành viên hợp danh góp vốn như quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Với cách quy định này, có thể có vấn đề phát sinh khi công ty hợp danh có thành viên góp vốn là tổ chức. Pháp luật hiện hành không quy định thành viên góp vốn là tổ chức có bị hạn chế về tỷ lệ vốn góp trên vốn điều lệ của công ty hợp danh hay không. Trong khi đó, đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên kinh doanh dịch vụ kế toán, Luật Kế toán năm 2015 và Điều 26 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP có quy định chặt chẽ tỷ lệ vốn góp của tổ chức không vượt quá 35% vốn điều lệ.

Như vậy, quy định trên không áp dụng cho công ty hợp danh hay nói cách khác, nếu là thành viên góp vốn của công ty hợp danh sẽ không bị giới hạn tỷ lệ vốn góp. Điều này đồng nghĩa với việc, mục đích của nhà làm luật hạn chế các tổ chức nói chung và tổ chức nước ngoài kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam sẽ không đạt được nếu các nhà đầu tư là tổ chức đăng ký và thành lập công ty hợp danh có thành viên góp vốn là tổ chức. Đồng thời, sự thiếu sót này vô tình tạo ra sự bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán.

Thứ tư, tỷ lệ góp vốn của kế toán viên hành nghề chưa phù hợp.

Tại khoản 1 Điều 60 Luật Kế toán năm 2015 và khoản 1 Điều 27 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP quy định công ty TNHH hai thành viên trở lên phải có ít nhất hai thành viên góp vốn là kế toán viên hành nghề chiếm tỷ lệ trên 50% vốn điều lệ của công ty. Quy định này nhằm hướng tới mục tiêu để gắn trách nhiệm của các kế toán viên hành nghề với doanh nghiệp kế toán vì đây là ngành nghề phụ thuộc nhiều vào đạo đức, chuyên môn của kế toán viên. Do đó, quy định của Luật Kế toán năm 2015 yêu cầu kế toán viên hành nghề là chủ doanh nghiệp chiếm tối thiểu trên 50% vốn điều lệ nhằm tạo ra sự cẩn trọng cần thiết cũng như nâng cao trách nhiệm về kinh tế và pháp lý của kế toán viên hành nghề. Bởi lẽ, khi họ là chủ doanh nghiệp thì họ sẽ có trách nhiệm cao hơn so với kế toán viên hành nghề chỉ là người lao động.

Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp kế toán được thành lập dưới hình thức công ty TNHH, chịu TNHH về các khoản nợ của công ty trên số vốn đã góp. Như vậy, rủi ro cho thị trường, rủi ro cho khách hàng và bên thứ ba khi các doanh nghiệp kế toán là các công ty TNHH hai thành viên trở lên với số vốn khiêm tốn, vì doanh nghiệp kế toán không yêu cầu vốn pháp định nên nhà đầu tư đăng ký với mức vốn khiêm tốn để giảm rủi ro cho mình. Khi vốn của doanh nghiệp không lớn sẽ dẫn đến những rủi ro cho khách hàng, đồng thời, cũng vì vốn không lớn nên các doanh nghiệp sẽ không có tiềm lực để đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin, đầu tư cho quy trình, nguồn nhân lực, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của dịch vụ kế toán.

Thứ năm, tỷ lệ góp vốn của tổ chức trong công ty TNHH hai thành viên trở lên chưa thực sự phù hợp.

Khoản 1 Điều 60 Luật Kế toán năm 2015 và Điều 26 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP quy định, công ty TNHH hai thành viên trở lên có thành viên góp vốn là tổ chức thì ngoài các điều kiện phải có ít nhất hai thành viên góp vốn là kế toán viên hành nghề chiếm tỷ trên 50% vốn điều lệ của công ty thì tỷ lệ góp vốn của các thành viên là tổ chức chỉ được góp tối đa 35% vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên. Quy định này xuất phát từ mục tiêu giảm tỷ lệ góp vốn của tổ chức để tăng tỷ lệ góp vốn của cá nhân là kế toán viên hành nghề, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm và sự cẩn trọng của kế toán viên hành nghề.

Bên cạnh đó, quy định này cũng nhằm bảo hộ các doanh nghiệp kế toán Việt Nam trước sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp kế toán nước ngoài vào Việt Nam. Bởi lẽ, doanh nghiệp kế toán nước ngoài chỉ có thể góp vốn không quá 35% vốn điều lệ, phần còn lại ít nhất 65% phải do cá nhân góp vốn. Trong đó, kế toán viên hành nghề phải có tối thiểu trên 50% và phần còn lại có thể là cá nhân trong nước hoặc người nước ngoài là kế toán viên hoặc không là kế toán viên hành nghề. Tuy nhiên, trên thực tế, người nước ngoài rất khó có thể trở thành kế toán viên của Việt Nam nên mô hình chung ít nhất 65% còn lại thường phải là trên 50% là bên Việt Nam nhằm bảo vệ quyền biểu quyết cho kế toán viên Việt Nam. Tuy nhiên, cũng chính vì tổ chức chỉ được góp vốn không quá 35% vốn điều lệ như quy định hiện hành đã làm cho các nhà đầu tư có tiềm lực không đầu tư vào lĩnh vực này, từ đó, dẫn đến nhiều hệ lụy trên thực tế.

Thứ sáu, thủ tục cấp phép kinh doanh cho chi nhánh doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài tại Việt Nam còn rườm rà, phức tạp.

Chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài là thương nhân nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam. Về thủ tục thành lập, phải thực hiện đăng ký tại Bộ Công Thương. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, Bộ Công Thương phải xin ý kiến Bộ Tài chính về việc cấp phép. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, Bộ Tài chính phải có văn bản trả lời chấp thuận hay không chấp thuận việc cấp phép. Sau khi được Bộ Công Thương cấp phép chi nhánh doanh nghiệp kế toán tại Việt Nam thì tiếp tục thực hiện đăng ký cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ tại Bộ Tài chính.

Bên cạnh đó, mặc dù quy định của pháp luật quy định rất rõ ràng về thời hạn nhưng thực tế thời gian này lâu hơn rất nhiều bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có việc nộp hồ sơ của doanh nghiệp kế toán nước ngoài bằng bưu điện hoặc trực tiếp theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 07/2016/NĐ-CP ngày 25/01/2016 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, dẫn đến quá trình giải quyết thủ tục hành chính theo phương thức văn bản chưa thể áp dụng thực hiện trao đổi thông tin theo hình thức điện tử.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, pháp luật về kế toán nên có quy định cho phép công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ được kinh doanh dịch vụ kế toán tương tự doanh nghiệp tư nhân và hộ cá nhân kinh doanh để bảo đảm công bằng và phù hợp với thực tiễn. Khi đó, công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ phải có tối thiểu 02 kế toán viên hành nghề và chủ sở hữu kiêm giám đốc công ty TNHH một thành viên phải là kế toán viên hành nghề để tương đồng với doanh nghiệp tư nhân và hộ cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán.

Nếu thực hiện chính sách cho phép doanh nghiệp kế toán dưới loại hình công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sẽ tạo thuận tiện cho nhiều cá nhân khởi nghiệp kinh doanh dưới loại hình này. Vì không cần phải có hai chứng chỉ hành nghề và không cần phải có thêm thành viên là kế toán viên hành nghề như quy định hiện nay nên sẽ gia tăng được số lượng doanh nghiệp dịch vụ kế toán tại Việt Nam trong giai đoạn tới, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của thị trường cũng như phù hợp với mô hình doanh nghiệp nhỏ hoạt động dịch vụ kế toán, phục vụ cho nhu cầu 90% doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng gần 01 triệu doanh nghiệp hiện nay.

Bên cạnh đó, chính sách này được thực hiện sẽ giảm được tình trạng cho thuê chứng chỉ hành nghề kế toán[2] và hạn chế được các hệ lụy, rủi ro phát sinh từ các tranh chấp giữa các kế toán viên hành nghề và người cho thuê chứng chỉ hành nghề kế toán với tư cách là thành viên góp vốn giả tạo như các tranh chấp về quyền sở hữu, quyền quản lý và điều hành công ty... Ngoài ra, chính sách này có thể sẽ làm giảm bớt các hệ lụy cho nghề dịch vụ kế toán, nâng cao chất lượng hành nghề cũng như làm giảm các chi phí tuân thủ và đặc biệt là hạn chế rào cản ra nhập thị trường.

Thứ hai, bổ sung theo hướng cho phép thành lập công ty hợp danh có thành viên góp vốn là tổ chức và cá nhân để phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm 2020 và phù hợp với thực tế. Đồng thời, nên quy định về tỷ lệ mức vốn góp nói chung của tổ chức không vượt quá 50% vốn điều lệ thay vì quy định tỷ lệ mức vốn của tổ chức là công ty TNHH hai thành viên tại Điều 26 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP nhằm khuyến khích nguồn đầu tư tài chính, tạo điều kiện cho dịch vụ kế toán được tiếp cận và được đầu tư cơ sở vật chất tốt hơn.

Thứ ba, bãi bỏ quy định kế toán viên hành nghề phải góp vốn tối thiểu trên 50% vốn điều lệ đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên và cân nhắc xây dựng các quy định về bảo hiểm nghề nghiệp cũng như quản lý chất lượng hành nghề thông qua bắt buộc cập nhật kiến thức hành nghề hàng năm.

Thứ tư, bổ sung điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán về bảo hiểm nghề nghiệp hoặc vốn pháp định và các quy định về quản lý chất lượng hành nghề thông qua bắt buộc cập nhật kiến thức hàng năm.

Thứ năm, đối với chi nhánh doanh nghiệp kế toán nước ngoài tại Việt Nam, cần quy định cụ thể các trường hợp phải xin ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính để Bộ Công Thương có cơ sở cấp giấy chứng nhận đăng ký chi nhánh doanh nghiệp kế toán tại Việt Nam được thuận tiện, nhanh gọn, đồng thời, gộp quy định cấp phép chi nhánh với quy định cấp phép hành nghề vào thủ tục một cửa tại Bộ Công Thương trên cơ sở nộp hồ sơ và giải quyết hồ sơ bằng phương thức điện tử.

ThS. Hồ Thị Thanh Trúc

Giảng viên Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing,

Nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Văn Được

Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín

[1]. Hoàng Kim Oanh (2021), Thị trường dịch vụ kế toán Việt Nam trước tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/thi-truong-dich-vu-ke-toan-viet-nam-truoc-tac-dong-cua-cach-mang-cong-nghiep-40-78713.htm, truy cập ngày 20/4/2023.

[2]. Long Nguyễn, Lê Anh (2020), Tràn lan thuê mướn bằng cấp chứng chỉ hành nghề, https://laodong.vn/xa-hoi/tran-lan-thue-muon-bang-cap-chung-chi-hanh-nghe-851102.ldo, truy cập ngày 26/5/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: