Thứ tư 06/05/2026 21:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán theo pháp luật Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng và chỉ ra một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Khái quát về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam

Thứ nhất, loại hình kinh doanh dịch vụ kế toán.

Hiện nay, doanh nghiệp hành nghề kế toán được thành lập dưới ba hình thức: (i) Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên; (ii) Công ty hợp danh; (iii) Doanh nghiệp tư nhân được quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 tương đồng với loại hình doanh nghiệp kiểm toán được quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Kiểm toán độc lập năm 2011. Ngoài ra, có thể kinh doanh dịch vụ kế toán dưới hình thức hộ kinh doanh dịch vụ kế toán.

Theo khoản 4 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 và khoản 1, khoản 3 Điều 31 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán (Nghị định số 174/2016/NĐ-CP), doanh nghiệp dịch vụ kế toán nước ngoài được thực hiện kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam dưới các hình thức: (i) Góp vốn với doanh nghiệp kế toán tại Việt Nam đang hoạt động để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam; (ii) Thành lập chi nhánh doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài; (iii) Cung cấp dịch vụ kế toán xuyên biên giới theo quy định của Chính phủ.

Trong đó, doanh nghiệp nước ngoài phải “liên danh” với doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán của Việt Nam và phải lập thành “hợp đồng liên danh” về việc cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới. Hợp đồng này phải phân định rõ trách nhiệm của các bên trong việc cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới. Bản chất của “hợp đồng liên danh” này là hợp đồng hợp tác không hình thành pháp nhân (BCC) theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Luật Đầu tư năm 2020 và điểm c khoản 4 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 và Điều 31 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP.

Doanh nghiệp dịch vụ kế toán nước ngoài chỉ được góp vốn với doanh nghiệp kế toán Việt Nam có đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán dưới hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty hợp danh, trong đó, doanh nghiệp kế toán nước ngoài là thành viên góp vốn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Nếu doanh nghiệp kế toán nước ngoài không góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam theo các loại hình nêu trên thì thực hiện thành lập chi nhánh doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài tại Việt Nam dưới các hình thức là chi nhánh tương ứng với loại hình doanh nghiệp dịch vụ kế toán nước ngoài theo điểm b khoản 4 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 như: (i) Chi nhánh công ty TNHH hai thành viên trở lên; (ii) Chi nhánh công ty hợp danh; (iii) Chi nhánh doanh nghiệp tư nhân.

Thứ hai, điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán.

Kinh doanh dịch vụ kế toán là ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định tại dòng thứ tự số 18 Phụ lục IV Luật Đầu tư năm 2020 và căn cứ tại khoản 2 Điều 59 Luật Kế toán năm 2015 thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanh dịch vụ kế toán khi bảo đảm các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Kế toán năm 2015 và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán.

Theo quy định tại Điều 60 Luật Kế toán năm 2015 thì điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán cho các loại hình doanh nghiệp bao gồm: (i) Có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc các giấy tờ khác có giá trị tương đương theo quy định của pháp luật; (ii) Có ít nhất 02 thành viên góp vốn hoặc 02 thành viên hợp danh hoặc 02 kế toán viên phải là kế toán viên hành nghề tùy thuộc vào mô hình của mỗi doanh nghiệp; (iii) Người đại diện theo pháp luật đồng thời là giám đốc đối với công ty TNHH, công ty hợp danh hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân đồng thời là giám đốc phải là kế toán viên hành nghề.

Căn cứ Điều 65 Luật Kế toán năm 2015, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán phải đáp ứng điều kiện: (i) Có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh; (ii) Cá nhân, đại diện nhóm cá nhân thành lập hộ kinh doanh là kế toán viên hành nghề.

2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch kế toán tại Việt Nam

Luật Kế toán năm 2015 ra đời đã tạo thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ kế toán và hành nghề kế toán tại Việt Nam. Ban đầu, chỉ từ 18 doanh nghiệp với hơn 30 kế toán viên chuyên nghiệp năm 2008, đến năm 2020, thị trường đã có sự tham gia của hơn 160 doanh nghiệp và hơn 260 kế toán viên chuyên nghiệp[1] cho thấy, thị trường dịch vụ kế toán ngày càng lớn mạnh với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam, cụ thể:

Thứ nhất, nhà đầu tư lựa chọn loại hình doanh nghiệp có chế độ TNHH và không chọn những loại hình doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn.

Theo danh sách doanh nghiệp đủ điều kiện hành nghề cuối năm 2022 (được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính) cho thấy, tổng số 151 doanh nghiệp kế toán (không bao gồm các công ty kiểm toán đăng ký dịch vụ kế toán), có 151 chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán với loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên. Trong khi đó, chỉ có duy nhất 01 doanh nghiệp tư nhân nhưng nay không còn hoạt động và không có bất kỳ công ty hợp danh và hộ kinh doanh nào hoạt động dịch vụ kế toán.

Thực trạng trên cho thấy, các nhà đầu tư và kế toán viên hành nghề có xu hướng lựa chọn thành lập doanh nghiệp kế toán theo loại hình doanh nghiệp có chế độ TNHH để hạn chế rủi ro cho mình thay vì như định hướng là chế độ trách nhiệm vô hạn để giảm rủi ro cho khách hàng. Thực trạng này có thể gây ra một số hệ lụy cho thị trường cũng như ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và bên thứ ba vì công ty TNHH chỉ chịu trách nhiệm trên phần vốn góp.

Thứ hai, dịch vụ kế toán không cho phép thành lập công ty TNHH một thành viên.

Luật Kế toán năm 2015 không cho phép thành lập doanh nghiệp kế toán theo loại hình công ty TNHH một thành viên do cá nhân và tổ chức làm chủ. Quy định này là hợp lý đối với công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ bởi vì pháp luật hiện hành không cho phép tổ chức sở hữu trên 35% vốn điều lệ, đồng thời, bảo đảm được mục tiêu điều tiết thị trường dịch vụ kế toán bằng công cụ tỷ lệ vốn của tổ chức.

Tuy nhiên, xét trên góc độ pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên thì không có điểm khác biệt trọng yếu, bởi lẽ, hai loại hình doanh nghiệp này đều là loại hình doanh nghiệp mà nhà đầu tư (thành viên) góp vốn chịu TNHH trên phần vốn điều lệ đã góp. Do đó, nếu doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán hoạt động theo loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu là hoàn toàn tương đồng về mặt pháp lý và về mặt TNHH đối với các khoản nợ của công ty cũng như nghĩa vụ đối với khách hàng.

Mặt khác, Luật Kế toán năm 2003 và Luật Kế toán năm 2015 đều cho phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và hộ cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán. Rõ ràng, doanh nghiệp tư nhân do 01 cá nhân làm chủ, hộ cá nhân kinh doanh do 01 cá nhân làm chủ và công ty TNHH một thành viên cũng do 01 cá nhân làm chủ thì cần có sự bình đẳng về mặt pháp lý khi kinh doanh dịch vụ kế toán.

Thứ ba, thiếu quy định về tỷ lệ vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh kinh doanh dịch vụ kế toán.

Luật Kế toán năm 2015 không quy định chi tiết về công ty hợp danh kinh doanh dịch vụ kế toán. Cụ thể, Luật Kế toán năm 2015 chỉ quy định về công ty hợp danh mà không đề cập đến loại hình công ty hợp danh có thành viên góp vốn hay không. Như vậy, có thể hiểu, công ty dịch vụ kế toán hợp danh được có thành viên hợp danh góp vốn như quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Với cách quy định này, có thể có vấn đề phát sinh khi công ty hợp danh có thành viên góp vốn là tổ chức. Pháp luật hiện hành không quy định thành viên góp vốn là tổ chức có bị hạn chế về tỷ lệ vốn góp trên vốn điều lệ của công ty hợp danh hay không. Trong khi đó, đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên kinh doanh dịch vụ kế toán, Luật Kế toán năm 2015 và Điều 26 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP có quy định chặt chẽ tỷ lệ vốn góp của tổ chức không vượt quá 35% vốn điều lệ.

Như vậy, quy định trên không áp dụng cho công ty hợp danh hay nói cách khác, nếu là thành viên góp vốn của công ty hợp danh sẽ không bị giới hạn tỷ lệ vốn góp. Điều này đồng nghĩa với việc, mục đích của nhà làm luật hạn chế các tổ chức nói chung và tổ chức nước ngoài kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam sẽ không đạt được nếu các nhà đầu tư là tổ chức đăng ký và thành lập công ty hợp danh có thành viên góp vốn là tổ chức. Đồng thời, sự thiếu sót này vô tình tạo ra sự bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán.

Thứ tư, tỷ lệ góp vốn của kế toán viên hành nghề chưa phù hợp.

Tại khoản 1 Điều 60 Luật Kế toán năm 2015 và khoản 1 Điều 27 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP quy định công ty TNHH hai thành viên trở lên phải có ít nhất hai thành viên góp vốn là kế toán viên hành nghề chiếm tỷ lệ trên 50% vốn điều lệ của công ty. Quy định này nhằm hướng tới mục tiêu để gắn trách nhiệm của các kế toán viên hành nghề với doanh nghiệp kế toán vì đây là ngành nghề phụ thuộc nhiều vào đạo đức, chuyên môn của kế toán viên. Do đó, quy định của Luật Kế toán năm 2015 yêu cầu kế toán viên hành nghề là chủ doanh nghiệp chiếm tối thiểu trên 50% vốn điều lệ nhằm tạo ra sự cẩn trọng cần thiết cũng như nâng cao trách nhiệm về kinh tế và pháp lý của kế toán viên hành nghề. Bởi lẽ, khi họ là chủ doanh nghiệp thì họ sẽ có trách nhiệm cao hơn so với kế toán viên hành nghề chỉ là người lao động.

Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp kế toán được thành lập dưới hình thức công ty TNHH, chịu TNHH về các khoản nợ của công ty trên số vốn đã góp. Như vậy, rủi ro cho thị trường, rủi ro cho khách hàng và bên thứ ba khi các doanh nghiệp kế toán là các công ty TNHH hai thành viên trở lên với số vốn khiêm tốn, vì doanh nghiệp kế toán không yêu cầu vốn pháp định nên nhà đầu tư đăng ký với mức vốn khiêm tốn để giảm rủi ro cho mình. Khi vốn của doanh nghiệp không lớn sẽ dẫn đến những rủi ro cho khách hàng, đồng thời, cũng vì vốn không lớn nên các doanh nghiệp sẽ không có tiềm lực để đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin, đầu tư cho quy trình, nguồn nhân lực, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của dịch vụ kế toán.

Thứ năm, tỷ lệ góp vốn của tổ chức trong công ty TNHH hai thành viên trở lên chưa thực sự phù hợp.

Khoản 1 Điều 60 Luật Kế toán năm 2015 và Điều 26 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP quy định, công ty TNHH hai thành viên trở lên có thành viên góp vốn là tổ chức thì ngoài các điều kiện phải có ít nhất hai thành viên góp vốn là kế toán viên hành nghề chiếm tỷ trên 50% vốn điều lệ của công ty thì tỷ lệ góp vốn của các thành viên là tổ chức chỉ được góp tối đa 35% vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên. Quy định này xuất phát từ mục tiêu giảm tỷ lệ góp vốn của tổ chức để tăng tỷ lệ góp vốn của cá nhân là kế toán viên hành nghề, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm và sự cẩn trọng của kế toán viên hành nghề.

Bên cạnh đó, quy định này cũng nhằm bảo hộ các doanh nghiệp kế toán Việt Nam trước sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp kế toán nước ngoài vào Việt Nam. Bởi lẽ, doanh nghiệp kế toán nước ngoài chỉ có thể góp vốn không quá 35% vốn điều lệ, phần còn lại ít nhất 65% phải do cá nhân góp vốn. Trong đó, kế toán viên hành nghề phải có tối thiểu trên 50% và phần còn lại có thể là cá nhân trong nước hoặc người nước ngoài là kế toán viên hoặc không là kế toán viên hành nghề. Tuy nhiên, trên thực tế, người nước ngoài rất khó có thể trở thành kế toán viên của Việt Nam nên mô hình chung ít nhất 65% còn lại thường phải là trên 50% là bên Việt Nam nhằm bảo vệ quyền biểu quyết cho kế toán viên Việt Nam. Tuy nhiên, cũng chính vì tổ chức chỉ được góp vốn không quá 35% vốn điều lệ như quy định hiện hành đã làm cho các nhà đầu tư có tiềm lực không đầu tư vào lĩnh vực này, từ đó, dẫn đến nhiều hệ lụy trên thực tế.

Thứ sáu, thủ tục cấp phép kinh doanh cho chi nhánh doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài tại Việt Nam còn rườm rà, phức tạp.

Chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài là thương nhân nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam. Về thủ tục thành lập, phải thực hiện đăng ký tại Bộ Công Thương. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, Bộ Công Thương phải xin ý kiến Bộ Tài chính về việc cấp phép. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, Bộ Tài chính phải có văn bản trả lời chấp thuận hay không chấp thuận việc cấp phép. Sau khi được Bộ Công Thương cấp phép chi nhánh doanh nghiệp kế toán tại Việt Nam thì tiếp tục thực hiện đăng ký cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ tại Bộ Tài chính.

Bên cạnh đó, mặc dù quy định của pháp luật quy định rất rõ ràng về thời hạn nhưng thực tế thời gian này lâu hơn rất nhiều bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có việc nộp hồ sơ của doanh nghiệp kế toán nước ngoài bằng bưu điện hoặc trực tiếp theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 07/2016/NĐ-CP ngày 25/01/2016 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, dẫn đến quá trình giải quyết thủ tục hành chính theo phương thức văn bản chưa thể áp dụng thực hiện trao đổi thông tin theo hình thức điện tử.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, pháp luật về kế toán nên có quy định cho phép công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ được kinh doanh dịch vụ kế toán tương tự doanh nghiệp tư nhân và hộ cá nhân kinh doanh để bảo đảm công bằng và phù hợp với thực tiễn. Khi đó, công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ phải có tối thiểu 02 kế toán viên hành nghề và chủ sở hữu kiêm giám đốc công ty TNHH một thành viên phải là kế toán viên hành nghề để tương đồng với doanh nghiệp tư nhân và hộ cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán.

Nếu thực hiện chính sách cho phép doanh nghiệp kế toán dưới loại hình công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sẽ tạo thuận tiện cho nhiều cá nhân khởi nghiệp kinh doanh dưới loại hình này. Vì không cần phải có hai chứng chỉ hành nghề và không cần phải có thêm thành viên là kế toán viên hành nghề như quy định hiện nay nên sẽ gia tăng được số lượng doanh nghiệp dịch vụ kế toán tại Việt Nam trong giai đoạn tới, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của thị trường cũng như phù hợp với mô hình doanh nghiệp nhỏ hoạt động dịch vụ kế toán, phục vụ cho nhu cầu 90% doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng gần 01 triệu doanh nghiệp hiện nay.

Bên cạnh đó, chính sách này được thực hiện sẽ giảm được tình trạng cho thuê chứng chỉ hành nghề kế toán[2] và hạn chế được các hệ lụy, rủi ro phát sinh từ các tranh chấp giữa các kế toán viên hành nghề và người cho thuê chứng chỉ hành nghề kế toán với tư cách là thành viên góp vốn giả tạo như các tranh chấp về quyền sở hữu, quyền quản lý và điều hành công ty... Ngoài ra, chính sách này có thể sẽ làm giảm bớt các hệ lụy cho nghề dịch vụ kế toán, nâng cao chất lượng hành nghề cũng như làm giảm các chi phí tuân thủ và đặc biệt là hạn chế rào cản ra nhập thị trường.

Thứ hai, bổ sung theo hướng cho phép thành lập công ty hợp danh có thành viên góp vốn là tổ chức và cá nhân để phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm 2020 và phù hợp với thực tế. Đồng thời, nên quy định về tỷ lệ mức vốn góp nói chung của tổ chức không vượt quá 50% vốn điều lệ thay vì quy định tỷ lệ mức vốn của tổ chức là công ty TNHH hai thành viên tại Điều 26 Nghị định số 174/2016/NĐ-CP nhằm khuyến khích nguồn đầu tư tài chính, tạo điều kiện cho dịch vụ kế toán được tiếp cận và được đầu tư cơ sở vật chất tốt hơn.

Thứ ba, bãi bỏ quy định kế toán viên hành nghề phải góp vốn tối thiểu trên 50% vốn điều lệ đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên và cân nhắc xây dựng các quy định về bảo hiểm nghề nghiệp cũng như quản lý chất lượng hành nghề thông qua bắt buộc cập nhật kiến thức hành nghề hàng năm.

Thứ tư, bổ sung điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán về bảo hiểm nghề nghiệp hoặc vốn pháp định và các quy định về quản lý chất lượng hành nghề thông qua bắt buộc cập nhật kiến thức hàng năm.

Thứ năm, đối với chi nhánh doanh nghiệp kế toán nước ngoài tại Việt Nam, cần quy định cụ thể các trường hợp phải xin ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính để Bộ Công Thương có cơ sở cấp giấy chứng nhận đăng ký chi nhánh doanh nghiệp kế toán tại Việt Nam được thuận tiện, nhanh gọn, đồng thời, gộp quy định cấp phép chi nhánh với quy định cấp phép hành nghề vào thủ tục một cửa tại Bộ Công Thương trên cơ sở nộp hồ sơ và giải quyết hồ sơ bằng phương thức điện tử.

ThS. Hồ Thị Thanh Trúc

Giảng viên Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing,

Nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Văn Được

Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín

[1]. Hoàng Kim Oanh (2021), Thị trường dịch vụ kế toán Việt Nam trước tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/thi-truong-dich-vu-ke-toan-viet-nam-truoc-tac-dong-cua-cach-mang-cong-nghiep-40-78713.htm, truy cập ngày 20/4/2023.

[2]. Long Nguyễn, Lê Anh (2020), Tràn lan thuê mướn bằng cấp chứng chỉ hành nghề, https://laodong.vn/xa-hoi/tran-lan-thue-muon-bang-cap-chung-chi-hanh-nghe-851102.ldo, truy cập ngày 26/5/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: