Thứ năm 21/05/2026 23:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết

Một số vấn đề pháp lý về sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết

Tóm tắt: Hiện tượng sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết diễn ra ở nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, pháp luật chưa có quy định cụ thể về quan hệ này nên quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là trẻ em sinh ra chưa thực sự được bảo đảm. Bài viết tập trung nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khoa học pháp lý.

Abstract: The phenomenon of giving birth from a dead husband's sperm takes place in many countries. In Vietnam, the law does not have specific provisions on this relationship, so the interests of the involved parties, especially the born children, are not really guaranteed. This article focuses on studying this issue from the perspective of legal science.

Việc lấy tinh trùng sau khi chết được ghi nhận lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1980. Người đàn ông có tên là Gothman, 30 tuổi, chết não sau một tai nạn giao thông, gia đình yêu cầu bảo quản tinh trùng của anh ta[1]. Năm 1997, Diane Blood, một người phụ nữ Anh đã thắng kiện giành quyền hợp pháp để mang thai bằng cách sử dụng tinh trùng của người chồng quá cố[2]. Ngoài ra, cũng có nhiều trường hợp khác diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới[3],[4].

Ở Việt Nam, một người phụ nữ sinh con cho người chồng đã chết 03 năm ở Hà Nội vào năm 2013 là trường hợp đầu tiên được ghi nhận[5]. Bên cạnh đó, báo chí cũng phản ánh tình trạng này diễn ra nhiều trên thực tế[6], trong đó, nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra như: (i) Vấn đề pháp lý về lấy, lưu giữ và sử dụng tinh trùng của người chết; (ii) Vấn đề hộ tịch của con sinh ra từ tinh trùng của người cha đã chết; (iii) Những vấn đề liên quan đến quan hệ cha con giữa người cha và con sinh ra từ tinh trùng của người cha đã chết như thừa kế, bảo hiểm, bồi thường thiệt hại.

1. Khái quát về sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết

1.1. Khái niệm

Sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết là việc người vợ hợp pháp sử dụng tinh trùng của người chồng đã chết để thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) với noãn của mình để sinh con. Việc sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết khác với việc sinh con từ tinh trùng hiến tặng vì việc sinh con từ tinh trùng hiến tặng được thực hiện theo nguyên tắc vô danh trong khi sinh con từ tinh trùng người chồng đã chết xác định rõ cha của đứa trẻ.

Về kỹ thuật, công nghệ, IVF là kỹ thuật đặc biệt giúp tinh trùng và noãn kết hợp với nhau trong môi trường phòng thí nghiệm. Trong kỹ thuật này, noãn và tinh trùng gặp nhau, kết hợp với nhau để tạo thành phôi[7]. Về mặt pháp lý, IVF là một kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hợp pháp đối với cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng hoặc là phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con và noãn của họ bảo đảm chất lượng để thụ thai[8]. Thực nghiệm y khoa cho thấy, có thể lấy tinh trùng từ người đã chết 48 giờ[9]. Khi lấy được tinh trùng còn sống thì việc IVF sẽ tiến hành bình thường như thụ tinh từ tinh trùng của người còn sống.

1.2. Nhận diện tinh trùng của người chết dưới góc độ pháp luật về tài sản

Tinh trùng là giao tử của nam[10], có chức năng sinh sản. Tinh trùng thụ tinh với noãn để tạo thành phôi thai. Có hai phương pháp thụ tinh là thụ tinh tự nhiên và IVF.

Tinh trùng là tài sản hay giá trị nhân thân, pháp luật các quốc gia có những quan điểm khác nhau. Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ bị coi là một tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ nô. Khi chế độ chiếm hữu nô lệ bị xóa bỏ, quan niệm cơ thể người là tài sản có sự thay đổi. Vào thế kỷ 17, ở Anh, xuất hiện quy tắc “không có tài sản nào trong cơ thể con người”[11], theo đó, cơ thể người không phải tài sản và không thuộc sở hữu của ai, kể cả chính người đó. Tinh trùng được sản xuất từ cơ thể người cũng không được xem là tài sản. Năm 1882, quy tắc này được áp dụng vào bản án Williams v. Williams ở Anh[12].

Tuy nhiên, sau đó, các Tòa án đã phát triển một loạt ngoại lệ đối với quy tắc này. Một số Tòa án tại Hoa Kỳ thừa nhận quyền sở hữu đối với các bộ phận cơ thể như tinh trùng, máu, tóc, tủy. Ở California, trong vụ án Hecht v. Kane, tinh trùng là “một loại tài sản duy nhất” mà Tòa án chứng thực[13]. Năm 1984, ở Pháp, vụ Parpalaix, Tòa án Pháp quyết định rằng, tinh trùng không phải là tài sản để giao dịch và thừa kế, thay vào đó, mô tả tinh trùng là hạt giống của sự sống, gắn liền với quyền tự do cơ bản của con người là sinh sản hoặc tránh sinh sản. Do Parpalaix mong muốn có con chung với vợ, Tòa án đã ra lệnh giải phóng tinh trùng và vợ Parpalaix có quyền quyết định có nên tiến hành thụ tinh hay không[14].

Theo pháp luật Việt Nam, vật chất cơ thể người là tài sản hay phi tài sản không có một khẳng định cụ thể. Theo khoản 3 Điều 11 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, pháp luật cấm mua bán mô, bộ phận cơ thể người cũng như cấy, ghép, sử dụng, lưu giữ mô, bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại.

Về vấn đề chuyển giao quyền, pháp luật không quy định cơ thể vật chất của một người sau khi chết thuộc quyền sở hữu của ai. Tuy nhiên, thông qua quy định người vợ có quyền tiếp tục lưu trữ và sử dụng tinh trùng của chồng đã chết và trường hợp hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác mà không có thẻ hiến người thân của họ gồm cha, mẹ người giám hộ hoặc vợ và các con đã thành niên phải đồng ý bằng văn bản[15] đã gián tiếp thừa nhận người thân có một số quyền đối với vật chất cơ thể người chết.

Đối với tinh trùng, trên thực tế, tinh trùng có giá trị và giá trị sử dụng, đã được giao dịch[16] dưới hình thức phi chính thống[17]. Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam, tinh trùng là giá trị nhân thân phi tài sản, qua đó chỉ được hiến, không được bán. Do không được thừa nhận là tài sản nên không thể để thừa kế sau khi chết. Theo ông Nguyễn Huy Quang, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế thì: “Theo quy định, tinh trùng không được xác định là tài sản mà chỉ thuộc quyền nhân thân. Khi đã không được coi là tài sản thì cũng không được quyền thừa kế”[18].

Như vậy, tinh trùng có giá trị và giá trị sử dụng như một tài sản nhưng không được pháp luật Việt Nam thừa nhận là một tài sản hợp pháp thông qua lệnh cấm mua bán, sử dụng vì mục đích thương mại, không được xem như một di sản thừa kế. Tuy nhiên, pháp luật lại cho phép người vợ hợp pháp được kế tục lưu trữ và sử dụng tinh trùng của người chồng đã tự nguyện lưu trữ khi còn sống. Tuy nhiên, trường hợp sử dụng tinh trùng như thế nào và nếu người chồng không lưu trữ khi còn sống vẫn còn đang bị bỏ ngỏ.

2. Thực trạng pháp luật về sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết ở Việt Nam hiện nay

2.1. Pháp luật thực định về sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết

Thứ nhất, pháp luật hiện hành không cấm người vợ sử dụng tinh trùng do chính người chồng lấy và lưu giữ trước khi chết để sinh con nhưng không có quy định cụ thể.

Theo quy định tại Điều 20, 21 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Nghị định số 10/2015/NĐ-CP), những trường hợp được lưu giữ tinh trùng gồm: (i) Người chồng trong những cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh; (ii) Người có nguyện vọng muốn lưu giữ cá nhân; (iii) Vợ người chết có đơn đề nghị lưu giữ và vẫn duy trì đóng phí lưu giữ, bảo quản tinh trùng mà người chồng lưu giữ theo trường hợp (i) hoặc trường hợp (ii) trước khi chết. Bên cạnh đó, người có quyền sử dụng tinh trùng gồm: Cặp vợ chồng điều trị vô sinh bằng kỹ thuật IVF sử dụng tinh trùng để sinh con khi người chồng còn sống; người vợ sử dụng tinh trùng người chồng đã chết làm phát sinh các quan hệ ngoài quan hệ hôn nhân gia đình[19].

Quy định nêu trên dẫn đến 03 khả năng:

- Quyền đối với tinh trùng của người chồng đã chết: Người vợ hợp pháp là chủ thể duy nhất được pháp luật trao quyền đối với tinh trùng của người chồng. Quyền đó bao gồm quyền tiếp tục lưu giữ và quyền sử dụng.

- Người vợ được sử dụng tinh trùng của chồng sau khi người chồng qua đời để sinh con: Trong trường hợp tinh trùng do chính người chồng đã tự nguyện lưu trữ khi còn sống, việc sử dụng không bị giới hạn, trong đó có việc sử dụng để sinh con.

- Hậu quả pháp lý của việc sử dụng tinh trùng của người chồng đã chết: Pháp luật quy định hậu quả pháp lý của việc sử dụng tinh trùng của người chồng đã chết sẽ làm phát sinh quan hệ ngoài hôn nhân và gia đình.

Thứ hai, về việc sử dụng tinh trùng lấy từ cơ thể chết não và thi thể của người chồng đã chết.

Việc lấy tinh trùng từ cơ thể chết não hay từ thi thể người chồng có nhiều phương pháp, phương pháp thường được sử dụng nhất là mở bìu, cắt tinh hoàn để lấy tinh trùng. Theo khoản 3 Điều 33 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc lấy mô, bộ phận cơ thể người chết phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thẩm quyền thực hiện. Nếu lấy tinh trùng không phải lấy mô, bộ phận cơ thể thì pháp luật chưa có quy định cụ thể.

Thứ ba, con sinh ra không được công nhận là con chung đương nhiên theo pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Theo quy định pháp luật Việt Nam, khi một bên chết, quan hệ vợ chồng chấm dứt và con sinh ra quá 300 ngày, kể từ ngày hôn nhân chấm dứt không phải là con chung đương nhiên. Việc xác định cha cho con có thể thực hiện theo quy định pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[20].

2.2. Những vấn đề pháp lý phát sinh trên thực tế

Thứ nhất, một người đàn ông độc thân có quyền lưu giữ tinh trùng của mình nhưng chỉ người vợ hợp pháp là chủ thể duy nhất có quyền đối với tinh trùng người chồng đã lưu giữ trước khi chết.

Ví dụ: Bà H muốn nhận lại tinh trùng của con trai (tên T, đã mất) để cho con dâu (chị D) IVF. Do chị D với anh T chưa đăng ký kết hôn nên chị D không có quyền với tinh trùng của anh T nên bệnh viện từ chối. Một vụ việc khác, một thanh niên mắc bệnh hiểm nghèo. Trước khi điều trị, anh ta đã gửi tinh trùng. Khi anh ta qua đời, mẹ và bạn gái của anh ta đến bệnh viện xin mẫu tinh trùng để IVF thì bệnh viện từ chối. Mẹ anh ta yêu cầu bệnh viện trả mẫu tinh trùng cho gia đình. Phía bệnh viện yêu cầu, nếu có văn bản pháp lý công nhận mẫu tinh trùng mà bệnh viện đang lưu trữ là tài sản mà bà được thừa kế từ con trai thì sẽ trả lại[21]. Tuy nhiên, tinh trùng là tài sản hay không phải tài sản lại chưa được pháp luật quy định rõ ràng.

Thứ hai, lấy tinh trùng từ thi thể người chết và thực hiện IVF - mỗi cơ sở y tế có quan điểm khác nhau.

Trường hợp bà P.T.H có con trai đã qua đời do bệnh nặng. Bà H yêu cầu bệnh viện trữ lại tinh trùng cho con với mong muốn IVF sinh con. Thế nhưng, khi bà H và con dâu làm thủ tục xin thụ tinh thì bị từ chối. Bệnh viện cho rằng, con bà H đã qua đời và hiện chưa có quy định cho phép sinh con cho người chết. Bệnh viện sẽ giúp lưu giữ tinh trùng nhưng việc sinh con phải chờ quy định[22].

Trong khi đó, năm 2013, một bệnh viện ở Hà Nội đã thực hiện IVF từ tinh trùng lấy từ thi thể người chết. Chồng chị D ở Hà Nội qua đời, chị có nguyện vọng muốn sinh con cho chồng. Chị D yêu cầu ngay bệnh viện chỗ anh gặp nạn nhưng tuyến cơ sở từ chối vì không đủ công nghệ thực hiện. Chị được người thân giới thiệu bác sỹ V, ông nhận lời. Việc lấy tinh trùng từ thi thể người chết, thụ tinh và sinh con diễn ra suôn sẻ trên thực tế[23]. Trước đó, một trường hợp tương tự ở Thành phố Hồ Chí Minh, anh T đột nhiên lâm bệnh nặng và qua đời. Vợ anh đã yêu cầu bệnh viện mổ lấy mẫu tinh trùng của chồng để trữ lạnh và cuối cùng, chị đã sinh con với người chồng quá cố[24].

Như vậy, mỗi cơ sở y tế có quan điểm khác nhau về việc thực hiện IVF từ tinh trùng người chết. Do sự không thống nhất này, người có nhu cầu lưu trữ và sinh con cho người chết chưa được đối xử một cách bình đẳng.

Thứ ba, xác định cha cho con sinh từ tinh trùng người cha đã chết.

Con sinh ra từ tinh trùng của người chồng đã chết được thành thai sau khi hôn nhân chấm dứt không được xác định là con chung đương nhiên trong hôn nhân. Khác với trường hợp IVF bằng tinh trùng hiến tặng theo nguyên tắc vô danh, ở đây, con sinh ra từ tinh trùng của người cha đã chết, vì vậy, về mặt di truyền sẽ là con chung vợ chồng. Theo Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con có quyền nhận cha, kể cả trong trường hợp cha đã chết. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha cho con trong trường hợp người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết thuộc về Tòa án[25]. Thủ tục này rất phức tạp.

Trên thực tế, trường hợp chị D như đã phân tích trên được hướng dẫn riêng để khai sinh đầy đủ cha mẹ. Ngày 03/01/2014, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 35/HTQTCT-HT gửi Ủy ban nhân dân phường Hoàng Liệt, hướng dẫn Ủy ban nhân dân phường Hoàng Liệt vận dụng các quy định của pháp luật đăng ký khai sinh cho hai cháu, giấy khai sinh ghi cả tên cha, mẹ. Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực cũng hướng dẫn rõ ràng về thủ tục. Ngày 09/01/2014, Ủy ban nhân dân phường Hoàng Liệt đã đăng ký khai sinh cho hai cháu Đ và H, con của chị D[26].

Như vậy, pháp luật thực định chưa có quy định cụ thể và quyết định của cơ quan hành chính chưa có cơ chế trở thành tiền lệ giống như án lệ của Tòa án, do đó, chưa thể áp dụng thống nhất.

Thứ tư, xác định quyền thừa kế, quyền được cấp dưỡng trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm và quyền hưởng tiền tuất trong bảo hiểm xã hội khi người cha mất.

Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế là cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết; theo quy định tại Điều 3 và Điều 67 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người được hưởng trợ cấp tuất đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là thân nhân gồm con đẻ, con nuôi và con sinh ra khi bố chết mẹ đang mang thai; theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 593 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp bồi thường thiệt hại về tính mạng, người gây thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra; theo quy định tại Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2015, người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, con thành thai sau khi người cha đã chết không có quyền thừa kế, quyền được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ cái chết của cha cũng như quyền hưởng trợ cấp tuất hàng tháng từ người cha theo quy định về bảo hiểm xã hội.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, thừa nhận tinh trùng là một tài sản đặc biệt có thể để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Theo đó, người thừa kế tinh trùng phải là người vợ. Người thừa kế tinh trùng được định đoạt tinh trùng theo 03 hướng: (i) Tiếp tục lưu giữ; (ii) Sinh con; (iii) Hủy. Người thừa kế được lấy, lưu giữ và sử dụng tinh trùng từ cơ thể chết não hoặc thi thể của người chồng cho cả hai trường hợp có bằng chứng về mong muốn của người chồng lúc còn sống hoặc không.

Thứ hai, thừa nhận việc sinh con từ tinh trùng của người chết và có quy định riêng cho trường hợp này theo nguyên tắc bảo đảm quyền lợi cho đứa trẻ được sinh ra.

- Pháp luật cần quy định về sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết phải được xây dựng trên những nguyên tắc sau: (i) Mục đích việc sinh con nhân văn, không trục lợi; (ii) Người vợ phải đáp ứng điều kiện sức khỏe, tâm lý, điều kiện kinh tế; (iii) Phải tiến hành xét nghiệm cẩn thận mẫu tinh trùng trước khi thụ tinh như trường hợp IVF theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP; (iv) Giới hạn số con sinh ra; (v) Bảo đảm điều kiện vật chất và tinh thần cho trẻ; (vi) Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ; (vii) Xem xét nguyện vọng và quyền lợi của người chết và những người thân thích khác đối với sự kiện đứa trẻ sinh ra.

- Trao quyền cho người vợ hợp pháp được phép lưu giữ và sử dụng tinh trùng của người chồng sau khi người này chết để sinh con và quyền được lấy, lưu giữ và sử dụng tinh trùng người chồng từ cơ thể chết não hoặc thi thể của người chồng.

- Việc lấy tinh trùng người chồng từ cơ thể chết não hoặc thi thể phải tiến hành kiểm tra chất lượng mẫu tinh trùng như trường hợp hiến tặng trước khi đưa vào IVF.

- Điều kiện để sinh con từ tinh trùng người chồng đã chết: (i) Về độ tuổi của người vợ được phép sử dụng tinh trùng của người chồng đã chết để tiến hành IVF: Còn trong độ tuổi sinh đẻ, có xác nhận về sức khỏe của cơ quan y tế có thẩm quyền nhằm bảo đảm sức khỏe sinh sản, tâm thần cho người mẹ trong quá trình thụ tinh, mang thai, sinh sản và chăm sóc đứa trẻ trong tương lai; (ii) Về điều kiện vật chất, người vợ phải đáp ứng các điều kiện tối thiểu yêu cầu về nhân thân, kinh tế để bảo đảm môi trường nuôi dưỡng, giáo dục tốt cho đứa trẻ (các điều kiện này có thể tham khảo Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010).

Thứ ba, việc xác định quan hệ cha con có xem xét nguyện vọng của người chết và cha, mẹ người chết.

Trong ngắn hạn, có thể nghiên cứu phát triển Công văn số 35/HTQTCT-HT ngày 03/01/2014 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp hướng dẫn Ủy ban nhân dân phường Hoàng Liệt vận dụng các quy định của pháp luật đăng ký khai sinh để việc xác định cha cho con được tinh giản về thủ tục.

Trong dài hạn, tác giả đề xuất về việc xác định quan hệ cha con nên chia làm 02 trường hợp: (i) Có bằng chứng về nguyện vọng sinh con của người chồng hoặc của cha, mẹ người chết thì con sinh ra được thừa nhận là con chung trong hôn nhân gia đình, có quyền thừa kế đối với cha và ông bà nội; (ii) Không có bằng chứng về nguyện vọng sinh con từ người chết và ý kiến của cha, mẹ người chết, con sinh ra không được xác định là con đương nhiên theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không được hưởng các quyền thừa kế nhưng có thể xác định cha cho con trong hộ tịch thông qua thủ tục nhận cha cho con theo Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thứ tư, sửa đổi quy định về người thừa kế theo hướng bổ sung Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết”, bổ sung thêm “con thành thai sau khi người để thừa kế chết được sinh ra theo nguyện vọng của người để thừa kế khi còn sống hoặc được sự đồng ý của cha, mẹ người chết, trừ trường hợp hiến.

Sinh con từ tinh trùng của người chồng đã chết là một vấn đề pháp lý phức tạp nhưng đã diễn ra trên thực tế, đòi hỏi cần thiết phải xây dựng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ phát sinh nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên về tài sản cũng như về nhân thân trong quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ sở y tế thực hiện hoạt động IVF. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật cũng cần được xây dựng trên nguyên tắc có lợi cho đứa trẻ và đề cao tính nhân văn, nghiêm cấm các hành vi trục lợi.

ThS. Hồ Thị Thanh Trúc

Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing

[1]. Usha Ahluwalia, Mala Arora, Posthumous Reproduction and Its Legal Perspective, International Journal of Infertility and Fetal Medicine, Vol. 2, No. 1, p. 9.

[2]. University of Sheffield (2017), Diane Blood - Life after Death: A woman’s victory in having her deceased husband’s children, https://www.sheffield.ac.uk/whatson/past/diane-blood, truy cập ngày 07/11/2022.

[3]. News (2011), Widow wins access to dead husband’s sperm, https://www.abc.net.au/news/2011-05-23/widow-wins-access-to-dead-husbands-sperm/2725924, truy cập ngày 11/11/2022.

[4]. BioNews (2013), Widow wins right to retrieve husband’s sperm, https://www.progress.org.uk/widow-wins-right-to-retrieve-husbands-sperm/, truy cập ngày 07/11/2022.

[5]. Phương Trang (2013), Sinh đôi từ tinh trùng của chồng quá cố, https://vnexpress.net/sinh-doi-tu-tinh-trung-cua-chong-qua-co-2930031.html, truy cập ngày 07/11/2022.

[6]. Yến Nhi (2019), Sinh con từ tinh trùng người đã mất mòn mỏi chờ luật, https://tienphong.vn/sinh-con-tu-tinh-trung-nguoi-da-mat-mon-moi-cho-luat-post1084062.tpo, truy cập ngày 07/11/2022.

[7]. Hồ Mạnh Tường, Đặng Quang Vinh, Vương Thị Ngọc Lan (2020), IVF, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 5.

[8]. Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

[9]. Minh Nguyên (2016), Sinh con từ tinh trùng người đã chết, https://vnexpress.net/sinh-con-tu-tinh-trung-nguoi-da-chet-3399853.html, truy cập ngày 21/11/2022

[10]. Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

[11]. Nguyên văn “no property in the human body”, E Coke, The Third Part of the Institutes of the Laws of England: Concerning High Treason, and Other Pleas of the Crown, and Criminal Causes (London: 1644) 203.

[12]. Williams v. Williams case (1882), https://swarb.co.uk/williams-v-williams-1882/, truy cập ngày 07/11/2022.

[13]. Hecht v Superior Court (Kane) 20 Cal.Rptr.2d 275 (Cal.App. 2 Dist. 1993),

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/11648608/, truy cập ngày 14/11/2022.

[14]. The New York Times (1984), Widow win Paris case for sperm, https://www.nytimes.com/1984/08/02/us/widow-wins-paris-case-for-husband-s-sperm.html, truy cập ngày 22/11/2022.

[15]. Điều 21 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006.

[16]. Hoàng Lộc, Lan Anh (2019), Mua bán tinh trùng bất chấp luật lệ, https://tuoitre.vn/mua-ban-tinh-trung-bat-chap-luat-le-20190521221452092.htm, truy cập ngày 25/11/2022.

[17]. Thân Hoàng (2016), Tác giả cho tinh trùng nữ tử tù là phạm nhân cùng trại, https://tuoitre.vn/tac-gia-cho-tinh-trung-nu-tu-tu-la-pham-nhan-cung-trai-1176144.htm, truy cập ngày 25/11/2022.

[18]. Ngọc Dung (2019), Có nên giữ tinh trùng của người đã chết, https://nld.com.vn/thoi-su/co-nen-giu-tinh-trung-cua-nguoi-da-chet-20190108223120186.htm, truy cập ngày 30/11/2022.

[19]. Khoản 4 Điều 21 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ về việc quy định về sinh con bằng kỹ thuật IVF và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

[20]. Điều 90 và Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[21]. Tuổi trẻ (2018), Hướng ra nào cho vụ xin thừa kế tinh trùng, https://tuoitre.vn/huong-ra-nao-cho-vu-xin-thua-ke-tinh-trung-20181224145515711.htm, truy cập ngày 04/12/2022.

[22]. https://laodong.vn/xa-hoi/sinh-con-tu-tinh-trung-nguoi-da-mat-nguoi-nha-than-benh-vien-kho-xu-647453.ldo.

[23]. Lan Anh (2913), Thành tựu của tình yêu và y học, https://tuoitre.vn/thanh-tuu-cua-tinh-yeu-va-y-hoc-587655.htm, truy cập ngày 30/11/2022.

[24]. Thanh Huyền (2013), Sinh con từ tinh trùng của người chết, có nhiều nhưng giữ kín, https://vietnamnet.vn/sinh-con-tu-tinh-trung-nguoi-chet-co-nhieu-nhung-giu-kin-155882.html, truy cập ngày 21/11/2022.

[25]. Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[26]. Lam Hạn (2014), Luật có nên cấm người chết sinh con, https://baophapluat.vn/luat-co-nen-cam-nguoi-chet-sinh-con-post172791.html, truy cập ngày 04/12/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 379), tháng 4/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: