Thứ năm 22/10/2026 03:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về tín chỉ các-bon

Một số vấn đề pháp lý về tín chỉ các-bon

Tóm tắt: Bài viết giới thiệu về cơ sở lý thuyết và cơ sở pháp lý quốc tế của thị trường tín chỉ các-bon, đồng thời chỉ ra một số vấn đề pháp lý vướng mắc liên quan đến bản chất tín chỉ các-bon và hướng giải quyết để có thể vận hành thị trường tín chỉ các-bon an toàn và hiệu quả.

Abstract: The article introduces the theoretical basis and international legal basis of the carbon credit market, and points out some legal problems related to the nature of carbon credits and orientation solutions to be able to safely and efficiently operate the market for carbon credits.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đề cập đến tín chỉ các-bon và thị trường tín chỉ các-bon[1]. Sau đó, ngày 07/01/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn[2], trong đó, Nghị định quy định chi tiết Điều 91 (Giảm phát thải khí nhà kính), Điều 92 (Bảo vệ tầng ô-dôn) và Điều 139 (Thiết lập và phát triển thị trường các-bon) của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020. Đối với thị trường các-bon, Nghị định cũng chỉ rõ, sau khi trải qua các hoạt động thí điểm, thị trường kinh doanh tín chỉ các-bon sẽ chính thức ra mắt vào năm 2028.

Cũng giống như các tài sản khác, việc hiểu bản chất pháp lý của tín chỉ các-bon là rất quan trọng để đánh giá và ghi nhận cách chúng có thể được giao dịch, nhận diện những rủi ro đối với các bên giao dịch. Bản chất pháp lý của tín chỉ các-bon cũng ảnh hưởng đến giải quyết vấn đề về thuế với hoạt động chuyển nhượng có liên quan. Với các giao dịch các-bon toàn cầu trị giá khoảng 273,3 triệu USD vào năm 2020 và các thị trường các-bon tự nguyện ước tính trị giá lên tới 50 tỷ USD vào năm 2030 cho thấy, quy mô của thị trường tín chỉ các-bon là rất lớn. Vì vậy, các quốc gia, cơ quan quản lý và các bên tham gia thị trường cần phải có sự thống nhất trong việc xác định bản chất pháp lý của tín chỉ các-bon.

1. Cách tiếp cận trên cơ sở kinh tế học của thị trường tín chỉ các-bon

Vào cuối những năm 1960, Ronald Coase bắt đầu thúc đẩy ý tưởng đối với việc mua bán ô nhiễm. Ronald Coase cho rằng, ô nhiễm nên được coi là một phần của chi phí sản xuất. Nếu ô nhiễm được định giá như là một phần của quá trình sản xuất và được cộng vào chi phí của sản phẩm thì người dùng cuối của thị trường sẽ ngăn cản các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, bởi vì, càng gây ô nhiễm sẽ càng làm cho giá thành sản phẩm cao hơn, từ đó, hoạt động của doanh nghiệp trở nên ít hiệu quả hơn.

Lý thuyết của Ronald Coase sau đó được phát triển bởi nhà kinh tế khác. Nhà kinh tế J.H. Dales và Thomas Crocker đề xuất rằng, mặc dù giá cả và mức độ ô nhiễm phần lớn nên được kiểm soát bởi thị trường, giới hạn ô nhiễm tổng thể cần phải được thiết lập bởi cơ quan nhà nước. Vì vậy, “mua bán ô nhiễm” chính là một cách hiệu quả về chi phí nhất để các doanh nghiệp phải tuân thủ mục tiêu phát thải do Nhà nước đặt ra[3].

Trên cơ sở tiếp cận cách giải quyết ô nhiễm từ góc độ kinh tế, năm 1976, Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) đã áp dụng khái niệm “mua bán ô nhiễm” để giảm mức độ của một số chất gây ô nhiễm không khí. Theo đó, các công ty được cấp phép xây dựng nhà máy gây ô nhiễm ở một số khu vực chỉ khi công ty đó bảo đảm giảm ô nhiễm nhiều hơn ở những nơi khác[4]. Tuy nhiên, kế hoạch này không thành công[5]. Mặc dù vậy, quan điểm tiếp cận giải quyết ô nhiễm dưới góc độ chế tài về kinh tế đã phát huy giá trị của nó bằng rất nhiều điều ước quốc tế sau này.

2. Cơ sở pháp lý quốc tế của thị trường tín chỉ các-bon

2.1. Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC)

Trong những năm 1980, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua Nghị quyết về Bảo vệ khí hậu toàn cầu cho các thế hệ hiện tại và tương lai[6]. Tháng 6/1992, tại Rio de Janeiro, Brazil, các quốc gia của Liên Hợp quốc đã tham gia vào UNFCCC. Công ước này là cơ sở cho tất cả các đàm phán khác về vấn đề khí hậu sau này. Trong khi thừa nhận rằng, các hoạt động của con người đang làm tăng nồng độ của khí nhà kính trong khí quyển và điều này sẽ dẫn đến sự nóng lên ngày càng tăng của trái đất cùng với biến đổi khí hậu, mục tiêu của UNFCCC được tuyên bố là đạt được, phù hợp với các điều khoản liên quan của Công ước, ổn định nồng độ khí nhà kính trong bầu khí quyển ở mức có thể ngăn chặn sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu. Mức độ như vậy phải đạt được trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích ứng một cách tự nhiên với biến đổi khí hậu, để đảm bảo rằng sản xuất lương thực không bị đe dọa, và để cho phép phát triển kinh tế diễn ra một cách bền vững[7].

Về các cam kết thực tế, Điều 4 của Công ước quy định về những gì các quốc gia Liên Hợp quốc phải hoàn thành. Một trong những điều quan trọng nhất là các nước phát triển phải thông qua các chính sách và thực hiện các biện pháp để giảm thiểu biến đổi khí hậu, bằng cách hạn chế phát thải khí nhà kính và bảo vệ các bể chứa khí nhà kính[8]. Công ước được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc chung nhưng có trách nhiệm khác biệt và khả năng tương ứng, đồng thời thừa nhận trách nhiệm của các nước phát triển trong việc giảm lượng khí thải toàn cầu của khí nhà kính. UNFCCC đã thành lập Hội nghị các bên tham gia Công ước để thực hiện công việc và thông qua, đưa ra các quyết định cần thiết để thúc đẩy việc thực hiện Công ước một cách hiệu quả[9].

Việt Nam đã ký Công ước khung về biến đổi khí hậu ngày 11/6/1992, phê chuẩn ngày 16/11/1994[10].

2.2. Nghị định thư Kyoto và Hiệp định Marrakesh

Cuộc họp đầu tiên của Hội nghị các bên (COP) được tổ chức tại Berlin, Đức. Tại đây, các bên đã đạt được thỏa thuận về việc xây dựng một lịch trình để các nước phát triển giảm phát thải khí nhà kính. Sau đó, COP 3, Nghị định thư Kyoto được ban hành vào ngày 11/12/1997 tại Kyoto, Nhật Bản và đến ngày 16/02/2005 thì đủ số lượng quốc gia phê chuẩn. Các nguyên tắc chung của Nghị định thư Kyoto giải quyết vấn đề cắt giảm khí nhà kính của các nước phát triển và khả năng xây dựng các khoản tín chỉ cho cắt giảm phát thải, các giao dịch trên phạm vi quốc tế. Những điều khoản này dẫn đến sự xuất hiện của “thị trường các-bon” quốc tế, được đặt tên theo giao dịch các khoản tín chỉ được đo bằng lượng tương đương carbon dioxide. Từ đó, luật pháp quốc tế xuất hiện thuật ngữ “tín chỉ các-bon”. Có thể nói Nghị định thư Kyoto chính là nơi mở đường cho việc tạo ra các chương trình kinh doanh khí thải, tạo ra một thị trường hàng hóa mới, cho phép mua bán các khoản phụ phát thải để tuân thủ giới hạn khí thải[11]. Các quy tắc thực hiện Nghị định thư được đưa ra vào năm 2001, tại COP 7, được gọi là Hiệp định Marrakesh.

Việt Nam ký Nghị định thư Kyoto ngày 03/12/1998, phê chuẩn ngày 25/9/2002. Là một trong các bên không thuộc Phụ lục I, chưa có nghĩa vụ phải cam kết giảm phát thải khí nhà kính theo quy định của Nghị định thư Kyoto nhưng Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác có một số nghĩa vụ chung trong việc đóng góp về chống biến đổi khí hậu[12].

2.3. Hiệp định Paris

Trong khi Nghị định thư Kyoto chỉ đặt mục tiêu giảm phát thải cho các nước đã công nghiệp hóa, Hiệp định Paris kêu gọi cả quốc gia phát triển và đang phát triển thiết lập và đáp ứng mục tiêu phát thải. Hiệp định Paris phản ánh tính cấp bách ngày càng tăng của cuộc khủng hoảng khí hậu và công nhận rộng rãi rằng, để có hiệu quả, phải có biện pháp chống biến đổi khí hậu. Biện pháp này phải được tuân thủ bởi tất cả các nguồn phát thải các-bon. Mỗi quốc gia phải đệ trình các kế hoạch của mình cho Chương trình Hành động vì khí hậu (NDC), theo chu kỳ 05 năm một lần. Điều 6 Hiệp định Paris cung cấp các cơ chế thị trường để tạo và giao dịch bù đắp các-bon, là cơ chế SDM và cơ chế ITMO. Cách tiếp cận dựa trên thị trường tại Điều 6 đã cho phép các quốc gia đáp ứng nghĩa vụ bằng cách mua bán các-bon thu được từ các dự án đủ điều kiện giảm khí nhà kính tạo ra.

Việt Nam đã cùng với hơn 170 quốc gia ký Thỏa thuận Paris về khí hậu tháng 4/2016 tại New York, Mỹ và cam kết thực hiện NDC. NDC của Việt Nam bao gồm hai hợp phần chính là giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu[13].

3. Khái quát về tín chỉ các-bon và thị trường tín chỉ các-bon

Các điều ước quốc tế nhìn chung yêu cầu mỗi quốc gia phải thiết lập giới hạn về lượng khí thải trong một khoảng thời gian cụ thể và cấp giấy phép cố định cho những người xả khí thải. Các thực thể gây ô nhiễm phải có đủ giấy phép đối với lượng khí thải mà họ thải ra. Nếu một người không phát thải hết mức cho phép tại giấy phép của họ, người đó có thể bán hạn mức này cho đối tượng khác - những người đã sử dụng hết giới hạn phát thải tại giấy phép của mình nhưng vẫn cần phát thải nhiều hơn, do đó, cần thêm giấy phép để tiếp tục phát thải một cách hợp pháp.

Như vậy, tín chỉ các-bon là một loại “giấy phép” có thể giao dịch được, giống như một phiếu cấp phép, đại diện cho quyền thải ra một tấn carbon dioxide hoặc các khí nhà kính khác vào bầu khí quyển. Tín chỉ các-bon được tạo ra và phát hành bởi một cơ quan quản lý chịu trách nhiệm thực hiện và giám sát một thị trường bắt buộc trong một khu vực tài phán cụ thể. Trong cách hiểu đơn giản nhất, tín chỉ các-bon đại diện cho quyền phát thải một lượng khí nhà kính nhất định.

Như vậy, Điều 17 Nghị định thư Kyoto đã tạo ra một loại “hàng hóa” mới, dưới hình thức giảm hoặc loại bỏ phát thải. Tín chỉ các-bon hiện được theo dõi và giao dịch giống như bất kỳ loại hàng hóa nào khác. Thị trường này gọi là thị trường tín chỉ các-bon. Hiện tại, có nhiều sàn giao dịch các-bon quy mô lớn trên thế giới, chẳng hạn như Sàn giao dịch Các-bon ở London, ở Sydney, Sàn giao dịch AirCarbon và Sàn giao dịch Climate Impact X (CIX) ở Singapore[14].

Mục đích chính của giao dịch tín chỉ các-bon là giảm lượng khí thải theo cách hiệu quả về chi phí, bằng cách tạo ra giấy phép phát thải khí nhà kính và tạo điều kiện thương mại trong các giấy phép đó. Đây là mục tiêu tổng thể của thị trường các-bon quốc tế, thành lập theo Nghị định thư Kyoto và tất cả các hệ thống thương mại các-bon mới nổi ở phạm vi các quốc gia. Tuy nhiên, để các thị trường các-bon đạt được các mục tiêu này, chúng phải được hỗ trợ bởi khuôn khổ pháp luật phù hợp và tương thích.

4. Các vấn đề pháp lý cần giải quyết liên quan đến tín chỉ các-bon

4.1. Phân loại tài sản cho tín chỉ các-bon

Thứ nhất, hiện nay, chưa có cơ sở pháp lý khẳng định tín chỉ các-bon là loại tài sản nào. Để có giá trị cho người nắm giữ, tín chỉ các-bon phải được công nhận và bảo vệ như một loại tài sản. Có nghĩa là, tín chỉ các-bon phải cung cấp cho chủ sở hữu các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Tại Việt Nam, Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” và tài sản bao gồm “bất động sản và động sản”. Theo các quy định từ Điều 110 đến Điều 114 Bộ luật Dân sự năm 2015, tín chỉ các-bon không thể là vật. Tín chỉ các-bon không phải là tiền theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tín chỉ các-bon cũng không phải là giấy tờ có giá vì không đáp ứng tiêu chí của pháp luật về ngân hàng[15]. Như vậy, nếu căn cứ theo pháp luật hiện hành, tín chỉ các-bon chỉ có thể tạm thời được phân loại là một quyền tài sản, dưới dạng “quyền tài sản khác”[16].

Thứ hai, chưa có cơ sở pháp lý khẳng định tín chỉ các-bon là tài sản hữu hình hay vô hình. Mặc dù về bản chất, có thể thấy, tín chỉ các-bon là thứ tuy có thể được sở hữu và mua bán nhưng không tồn tại vật chất nên giống như một loại tài sản vô hình[17]. Cơ quan Thuế (I.R.S) đã đề cập đến bản chất của các khoản cho phép phát thải các-bon được giao dịch trên Sàn giao dịch Khí hậu châu Âu[18]. Trong đó, I.R.S. kết luận rằng, tín chỉ các-bon là tài sản vô hình, được sử dụng trong thương mại hoặc kinh doanh.

Có thể thấy, hiện tại, tình trạng pháp lý của tín chỉ các-bon là mơ hồ và không chắc chắn. Thậm chí, một số tình huống tranh chấp trên thực tế còn cho rằng, tín chỉ các-bon chỉ là một quyền phát sinh từ hợp đồng. Ví dụ, trong tranh chấp giữa Kaiser International và South Coast Air Quality Management[19], Tòa trích dẫn Bộ luật Sức khỏe và An toàn phần 40710, trong đó nêu rõ rằng, “chứng chỉ chứng minh quyền sở hữu các khoản giảm thải đã được phê duyệt sẽ không cấu thành các công cụ, chứng khoán hoặc bất kỳ hình thức nào khác của tài sản”. Tương tự như vậy, Bộ luật Hành chính của Bang Florida quy định rằng, loại giấy phép liên quan đến tài nguyên, môi trường sẽ “không chuyển đến người được cấp phép hoặc tạo cho người được cấp phép bất kỳ quyền tài sản nào, hoặc bất kỳ lợi ích nào trên tài sản thực tế”[20].

Do tình trạng mơ hồ của các khoản tín dụng các-bon và tính chất giống như tài sản và hợp đồng của chúng, giải quyết sự không chắc chắn này điều cần thiết để tạo ra một hệ thống hiệu quả của lợi ích được bảo đảm trong các khoản tín dụng các-bon.

4.2. Thuế đối với giao dịch tín chỉ các-bon

Tín chỉ các-bon có thể được chuyển nhượng với giá trị cụ thể. Điều này làm phát sinh vấn đề về thuế liên quan đến các khoản lãi hoặc lỗ của các giao dịch, ví dụ như khả năng áp dụng thuế giá trị gia tăng hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp. Các khu vực pháp lý khác nhau có cách giải quyết không giống nhau, chẳng hạn, Pháp, Đức, Bỉ và Ba Lan áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với các giao dịch tín chỉ các-bon, trong khi nguồn cung cấp các tín chỉ các-bon đủ hợp pháp ở Úc được lại được miễn loại thuế này. Hoặc tại Úc, chi phí để có được tín chỉ các-bon sẽ được khấu trừ thuế, với khoản khấu trừ được giữ lại cho đến năm mà tín chỉ các-bon đó được bán đi. Ngược lại, ở New Zealand, chi phí này không được khấu trừ[21]. Ở cả Úc và New Zealand, lợi nhuận từ việc bán các khoản tín chỉ các-bon là thu nhập chịu thuế doanh thu. Tuy nhiên, phương pháp định giá ở New Zealand được quy định là chi phí, trong khi ở Úc có các phương pháp thay thế (ví dụ như phương pháp định giá thị trường)[22]. Với sự phát triển của thị trường các-bon và ngày càng có nhiều giao dịch xuyên biên giới do sự liên kết của các thị trường, việc cân nhắc xác định chế độ pháp lý về thuế là quan trọng.

4.3. Vấn đề an toàn trong giao dịch

Nguy cơ gian lận là phổ biến trong thị trường các-bon. Mối quan tâm hàng đầu trong tâm trí của nhà giao dịch là rủi ro đối tác[23]. Tín chỉ các-bon có thể giao dịch, điều này có nghĩa là quyền sở hữu hợp pháp có thể được nắm giữ và chuyển giao cho một bên khác. Tuy nhiên, với tư cách là tài sản vô hình, điều này làm phát sinh sự phức tạp xung quanh việc bảo mật và khả năng có thể tiếp quản được chúng. Những người tham gia thị trường muốn bảo đảm rằng họ có được quyền sở hữu đối với tài sản khi chuyển nhượng và tài sản sẽ không bị thu hồi trong một số trường hợp nhất định. Vì vậy, thị trường tín chỉ các-bon cần được vận hành trên nền tảng cơ sở vững chắc để cung cấp sự bảo đảm về những vấn đề này.

Điều này làm phát sinh nhu cầu về một hệ thống đăng ký thông tin người sở hữu, kiểm soát việc chuyển giao quyền sở hữu. Ngoài ra, cũng cần thiết lập một cơ chế nhằm bảo đảm bên nhận chuyển nhượng kiểm soát được tình trạng sở hữu của tín chỉ các-bon một cách thuận tiện. Một hệ thống như vậy sẽ giúp thúc đẩy niềm tin và tăng tính thanh khoản trên thị trường tín chỉ các-bon.

Có thể nói, tín chỉ các-bon là một giấy phép có thể giao dịch được, giấy phép này đại diện cho quyền thải ra một tấn carbon dioxide hoặc các khí nhà kính khác vào bầu khí quyển. Tín chỉ các-bon được tạo ra và phát hành bởi cơ quan có thẩm quyền. Mục tiêu tổng thể của thị trường tín chỉ các-bon là làm giảm lượng khí thải một cách hiệu quả về chi phí, thông qua việc tạo ra các giấy phép và cho phép thương mại hóa loại giấy phép này. Tuy nhiên, để một thị trường các-bon hoạt động hiệu quả thì các yếu tố của thị trường này phải được điều chỉnh bởi một chế độ pháp lý phù hợp và tương thích. Như với bất kỳ tài sản hoặc công cụ pháp lý nào, việc hiểu bản chất pháp lý của tín chỉ các-bon là rất quan trọng để đánh giá và kiểm soát cách chúng có thể được giao dịch và những rủi ro có thể xảy ra đối với các bên giao dịch. Bản chất pháp lý của tín chỉ các-bon cũng ảnh hưởng đến việc đánh thuế với các giao dịch mua bán loại tài sản này.

TS. Lê Thị Minh

Trường Đại học Thủ Dầu Một

[1]. Khoản 35 Điều 3 và Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

[2]. Nghị định có hiệu lực thi hành vào ngày 07/01/2022.

[3]. Lohmann L, Carbon Trading: A Critical Conversation on Climate Change, Privatisation and Power, Development Dialogue, 2006, 48, https://www.daghammarskjold.se/publication/carbon-trading-critical-conversation-climate-change-privatisation-power/, truy cập gần nhất ngày 15/1/2023.

[4]. Reitze AW, Air Pollution Control Law: Compliance and Enforcement, Environmental Law Institute, 2001, tr.79 - 80.

[5]. Reitze AW, Air Pollution Control Law: Compliance and Enforcement, Environmental Law Institute, 2001, tr.79 - 80.

[6]. UN General Assembly, Protection of Global Climate for Present and Future Generations of Mankind (New York: United Nations) (A/RES?43/53), 70th plenary meeting, 1988.

[7]. Điều 2 Công ước khung của Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu, bản tiếng Anh tại https://unfccc.int/files/essential_background/background_publications_htmlpdf/application/pdf/conveng.pdf, truy cập ngày 15/01/2023.

[8]. Điều 4 (2) (a), Công ước khung của Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu, bản tiếng Anh tại https://unfccc.int/files/essential_background/background_publications_htmlpdf/application/pdf/conveng.pdf, truy cập ngày 15/01/2023.

[9]. Điều 7 (2) (a), Công ước khung của Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu, bản tiếng Anh tại https://unfccc.int/files/essential_background/background_publications_htmlpdf/application/pdf/conveng.pdf, truy cập ngày 15/01/2023.

10. Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (2020), Công ước UNFCCC và sự tham gia của Việt Nam, https://monre.gov.vn/Pages/cong-uoc-unfccc-va-su-tham-gia-cua-viet-nam.aspx, truy cập ngày 15/01/2023.

11. Julien Chevallier, Econometric Analysis of Carbon Markets, Nxb. Springer, 2012, tr. 4.

12. Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, Công ước UNFCCC và sự tham gia của Việt Nam, 2020, https://monre.gov.vn/Pages/cong-uoc-unfccc-va-su-tham-gia-cua-viet-nam.aspx, truy cập ngày 15/01/2023.

13. Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, Công ước UNFCCC và sự tham gia của Việt Nam, 2020, https://monre.gov.vn/Pages/cong-uoc-unfccc-va-su-tham-gia-cua-viet-nam.aspx, truy cập ngày 15/01/2023.

14. Rachel Eng, Yap Pei Yin, Tracking the growth of carbon credits in Singapore and beyond, 2021, https://www.iflr.com/article/2a646mpixhlq5fibkaj9c/tracking-the-growth-of-carbon-credits-in-singapore-and-beyond, truy cập ngày 15/01/2023.

15. Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài thì giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiện khác.

16. Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.

17. Mục 3.1, Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13, Thẩm định giá tài sản vô hình (ban hành kèm theo Thông tư số 06/2014/TT-BTC ngày 07/01/2014 của Bộ Tài chính giải thích tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất và có khả năng tạo ra các quyền, lợi ích kinh tế. Tài sản vô hình được đề cập trong tiêu chuẩn này phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau: (i) Không có hình thái vật chất; tuy nhiên, một số tài sản vô hình có thể chứa đựng trong hoặc trên thực thể vật chất nhưng giá trị của thực thể vật chất là không đáng kể so với giá trị tài sản vô hình; (ii) Có thể nhận biết được và có bằng chứng hữu hình về sự tồn tại của tài sản vô hình (ví dụ: hợp đồng, bằng chứng nhận, hồ sơ đăng ký, đĩa mềm máy tính, danh sách khách hàng, báo cáo tài chính…); (iii) Có khả năng tạo thu nhập cho người có quyền sở hữu; (iv) Giá trị của tài sản vô hình có thể định lượng được.

18. Lauren M. Janosy và Alexandra K. Helou, Initial IRS Guidance Addressing EU Cap-and-Trade Systems, Subpart F Rules, 2009, https://www.thetaxadviser.com/issues/2009/jul/initialirsguidanceaddressingeucap-and-tradesystems-subpartfrules.html, truy cập ngày 15/01/2023.

19. George M. Padis (2011), “Carbon Credits as Collateral”, Journal of Technology Law & Policy, 2011, số 16, tr. 2, https://scholarship.law.ufl.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1129&context=jtlp, truy cập ngày 15/01/2023.

20. Sate of Florida Division of Administrative Hearings, 2011, http://flrules.elaws.us/Gateway/CourtOrders/2010/10-010767/100010767.pdf, truy cập ngày 15/01/2023.

21. Black, C, “Tax Accounting for Transactions under an Emissions Trading Scheme: An Australasian Perspective”, Carbon & Climate Law Review, 2011, 98.

22. Black, C, “Tax Accounting for Transactions under an Emissions Trading Scheme: An Australasian Perspective”, Carbon & Climate Law Review, 2011, 98.

23. K., & Lin, J, “Carbon Credits as EU Like It: Property, Immunity, TragiCO₂medy?” Journal of Environmental Law, 2015, 27(3), 377 - 404.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 378), tháng 4/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: