Thứ sáu 15/05/2026 17:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về tự chủ tài chính và tài sản của cơ sở giáo dục đại học công lập

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến những vấn đề pháp lý cơ bản về tự chủ đại học trong lĩnh vực tài chính và tài sản.

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến những vấn đề pháp lý cơ bản về tự chủ đại học trong lĩnh vực tài chính và tài sản.


Abstract: The paper addresses fundamental legal issues of university autonomy in the field of finance and property.


1. Khái quát về cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học

Tự chủ đại học là khái niệm đa chiều, được định nghĩa bằng các thẩm quyền cần có đối với tổ chức giáo dục đại học. Tuy vậy, bản chất của tự chủ là sự phân chia quyền lực từ Nhà nước tới các cơ sở đào tạo đại học. Phạm vi quyền tự chủ thay đổi theo thời gian nhưng nó đều gắn với lĩnh vực học thuật, quản trị điều hành, pháp luật và những vấn đề tài chính. Tự chủ tài chính là yếu tố, bộ phận của tự chủ đại học. Quyền tự chủ trong tài chính và tài sản bao gồm ban hành và tổ chức thực hiện quy định nội bộ về nguồn thu, quản lý và sử dụng nguồn tài chính, tài sản; thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển; chính sách học phí, học bổng cho sinh viên và chính sách khác phù hợp với quy định của pháp luật.

Như vậy, có thể hiểu chế độ tự chủ tài chính của các cơ sở đào tạo đại học là cơ chế theo đó các cơ sở đào tạo đại học được trao quyền tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, các khoản chi, quản lý quỹ và sử dụng tài sản của đơn vị theo quy định của Nhà nước.

Từ đặc thù của các cơ sở đào tạo đại học có mục tiêu song hành là đào tạo nguồn nhân lực và các hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ nên phạm vi tự chủ tài chính của cơ sở đào tạo đại học nói chung (bao gồm trường công lập và ngoài công lập) xác định bao gồm:

Một là, tự chủ trong quản lý và khai thác các nguồn thu. Nguồn thu là những khoản kinh phí nhà trường được nhận không phải hoàn trả, được dùng cho việc triển khai hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của nhà trường. Nguồn thu được tổ chức theo đúng chế độ, phạm vi, định mức, phải được đưa vào dự toán, được quản lý và hạch toán đúng pháp luật. Các khoản thu đảm bảo tính công khai, minh bạch, kết hợp chặt chẽ giữa thẩm quyền và trách nhiệm. Đối với nguồn thu là học phí, nhà trường quyết định mức thu học phí cho tất cả các bậc học và tất cả các đối tượng người học theo nguyên tắc bù đắp chi phí và có tích lũy hợp lý thực tế chi phí tổ chức đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạo cam kết.

Hai là, tự chủ trong quản lý chi tiêu. Chi tiêu là việc sử dụng các nguồn lực tài chính sẵn có hoặc huy động nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ. Hoạt động chi tiêu các trường đại học bao gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên. Nhà trường được quyết định mức các khoản chi phí dựa trên tiêu chuẩn, định mức khoa học, đảm bảo tiết kiệm, chính xác, đúng số phát sinh, mục đích, phạm vi chi tiêu, chấp hành chế độ tài chính của Nhà nước, nhà trường đã quy định. Quyết định phân bổ các khoản ngân sách do Nhà nước cấp cho các mặt hoạt động của trường; cách thức sử dụng phần kinh phí ngân sách nhà nước tiết kiệm được; sử dụng các nguồn thu hợp pháp của trường; phân phối kết quả tài chính trong năm; phân bổ, sử dụng kinh phí quyết toán dư hàng năm. Thành lập và toàn quyền sử dụng các quỹ hiến, tặng. Quyết định mức trích lập quỹ và ra quy định về sử dụng các quỹ của đơn vị (quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ hỗ trợ sinh viên và các quỹ khác).

Ba là, tự chủ trong quản lý, sử dụng tài sản và quản lý quỹ của đơn vị. Điều này được hiểu là các trường được chủ động đầu tư, mua sắm, sử dụng tài sản để nâng cao hiệu suất, hiệu quả và bảo toàn vốn. Quyền thu và sử dụng nguồn từ thương hiệu của nhà trường cho các hoạt động khoa học, công nghệ và chuyển giao công nghệ. Quyền mở tài khoản giao dịch, vay vốn, huy động vốn; vay tín chấp, hoặc được dùng các tài sản hình thành từ nguồn tự có để vay không hạn chế hạn mức; sử dụng các tòa nhà trong trường và cho thuê/mướn các tòa nhà của trường cho mục đích giáo dục, khoa học, công nghệ hoặc dịch vụ giáo dục. Quyền sử dụng nguồn tích lũy để đầu tư vào mọi hình thức có hệ số an toàn cao trong nước hoặc quốc tế.

Nội dung tự chủ trong quản lý, sử dụng tài sản của cơ sở giáo dục đào tạo bao gồm: (i) Quyền chủ động trong việc tạo lập tài sản của cơ sở giáo dục đào tạo; (ii) Quyền chủ động trong việc chiếm hữu tài sản của cơ sở giáo dục đào tạo; (iii) Quyền chủ động trong việc khai thác giá trị sử dụng của tài sản để đáp ứng các mục tiêu, lợi ích trong hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ sở giáo dục đào tạo; (iv) Quyền chủ động trong việc quản lý, giám sát quá trình sử dụng, định đoạt tài sản của cơ sở giáo dục đào tạo.

Quyền tự chủ trong quản lý, sử dụng tài sản có sự khác nhau giữa cơ sở giáo dục đào tạo công lập với cơ sở giáo dục đào tạo tư thục. Đối với cơ sở giáo dục đào tạo công lập, do phần lớn tài sản của chủ thể này đều được tạo lập từ nguồn vốn ngân sách nhà nước nên quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đào tạo công lập bị hạn chế hơn và Nhà nước cần có sự kiểm soát chặt chẽ hơn đối với quá trình tạo lập, quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản.

2. Những tác động của cơ chế tự chủ tài chính và tài sản

Việc ứng dụng cơ chế tự chủ tài chính trong các cơ sở đào tạo đại học là một yêu cầu tất yếu do sự phát triển của xã hội đặt ra. Tuy nhiên, nó sẽ có tác động hai mặt tới các trường đại học. Cụ thể:

2.1. Tác động tích cực

Một là, cơ chế tự chủ tài chính góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho các trường đại học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo. Muốn giữ vững và nâng cao uy tín, danh tiếng, nhà trường phải chú trọng tới các hoạt động của mình. Từ khâu tuyển sinh đến quá trình đào tạo, tự chủ tài chính góp phần vào việc lựa chọn những sinh viên có chất lượng phù hợp với nội dung, chương trình đào tạo, liên tục cập nhật, đổi mới nội dung, phương thức đào tạo đảm bảo theo kịp xu thế phát triển của thời đại là một trong những mục tiêu hàng đầu của các cơ sở đào tạo. Mặt khác, tự chủ tài chính sẽ khuyến khích và bắt buộc các trường phải tích cực hơn trong việc tìm kiếm các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, việc tìm kiếm các cơ hội liên kết với các trường có uy tín trên thế giới sẽ tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hai là, cơ chế tự chủ tài chính thúc đẩy các trường nâng cao hiệu quả hoạt động, khuyến khích các trường làm tốt hơn các nhiệm vụ, sứ mạng của mình, giảm được thời gian và những chi phí vô ích. Trong khi cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các trường phải báo cáo, xin ý kiến cấp trên, gây tốn kém về thời gian, kinh phí thực hiện, thì giao quyền tự chủ tài chính sẽ giúp các trường năng động, sáng tạo, chủ động hơn trong thực hiện các nhiệm vụ được giao. Giao quyền tự chủ tài chính và gắn trách nhiệm với các hoạt động sẽ nâng cao hiệu quả đào đạo của các trường, giảm chi phí kiểm tra, kiểm soát của quá trình thực hiện.

Ba là, cơ chế tự chủ tài chính thúc đẩy việc tăng thu, tiết kiệm chi, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ viên chức. Điều này góp phần tạo động lực để cán bộ viên chức nhà trường yên tâm tập trung vào công việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục, củng cố được lòng tin, uy tín của nhà trường, thu hút thêm sinh viên, tạo cơ hội liên kết, hợp tác đào tạo với các cơ sở trong và ngoài nước.

2.2. Tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực, cơ chế tự chủ tài chính cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực, bao gồm:

Một là, mục tiêu xã hội của giáo dục đại học có thể bị ảnh hưởng nếu những quy định trong cơ chế không đảm bảo sự minh bạch, chặt chẽ. Việc quá đề cao quyền tự chủ tài chính nhưng không làm rõ trách nhiệm, biện pháp quản lý đi kèm có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến sự thống nhất, công bằng và tiến bộ xã hội. Nó dễ tạo ra cơ chế khuyến khích các trường bỏ qua trách nhiệm xã hội (với người học, người sử dụng lao động và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước) mà chỉ tập trung vào việc cung ứng các dịch vụ đáp ứng cho những người có khả năng chi trả, làm người nghèo mất đi cơ hội sử dụng dịch vụ giáo dục đại học, đặc biệt là các trường áp dụng biện pháp tăng học phí để tăng nguồn thu.

Hai là, sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các trường có cùng ngành nghề, nội dung đào tạo cũng là một trong những tác động tiêu cực mà tự chủ tài chính đem lại. Nguyên nhân là do muốn thu hút người học, các trường thường đưa ra những ưu đãi khác nhau, trong đó có biện pháp giảm học phí. Khi cắt giảm học phí sẽ làm cho các trường thiếu hụt nguồn thu, buộc phải cắt giảm thời gian, nội dung, chương trình đào tạo, cắt giảm dịch vụ đi kèm như dịch vụ thư viện, thiết bị thí nghiệm, thực hành, thực tập… dẫn tới giảm chất lượng. Một tình huống khác cũng cần phải xem xét kỹ lưỡng khi vừa thực hiện tự chủ, vừa thực hiện cạnh tranh giữa các cơ sở đại học, kể cả cơ sở đại học công lập, đó là việc sử dụng quá công năng của cơ sở đào tạo cũng như “tận dụng” nguồn nhân sự hiện hữu của nhà trường. Do cơ sở vật chất của nhà trường là tương đối ổn định và nhu cầu đào tạo (không loại trừ những trường hợp do công tác quảng bá truyền thông) có hiện tượng tăng đột biến, khi đó việc tận dụng cơ sở vật chất hiện có hoàn toàn có thể dẫn đến tình trạng cơ sở vật chất sẽ bị sử dụng vượt quá công năng. Chính điều này làm cho phòng học, thư viện, học liệu, các trang thiết bị phục vụ giảng dạy có nguy cơ bị xuống cấp nhanh chóng do không có thời gian để phục hồi, sửa chữa hay nâng cấp. Đi đôi với tình trạng sử dụng đến mức quá tải cơ sở vật chất thì đội ngũ giảng viên cũng bị quá tải bởi giờ lên lớp, bới các hoạt động khác phục vụ giảng dạy. Điều này là hoàn toàn có thể đánh giá được khi xác định số giờ vượt định mức, thời gian làm việc và nghỉ ngơi của giảng viên bị bó hẹp, rất không tốt cho việc tái tạo sức lao động và thực hiện các hoạt động khoa học khác.

Ba là, các trường nhỏ hoặc mới thành lập sẽ gặp khó khăn. Bởi vì, các trường này thường có cơ sở vật chất nhỏ, chưa có uy tín, khó tạo lòng tin với các đối tác và cũng gặp khó khăn trong việc thu hút người học.

Bốn là, tự chủ tài chính có thể làm nảy sinh khuynh hướng các trường chạy theo chạy theo nguồn thu dẫn tới vi phạm các quy định, quy chế giáo dục đại học. Vì nguồn thu, vì lợi nhuận, một số trường sẽ tăng cường mở rộng quy mô đào tạo, tức là tăng số sinh viên, học viên, tăng số giờ giảng dạy và các hình thức đào tạo nhưng lại buông lỏng quản lý.

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính và tài sản

Cơ chế tài chính có được thực thi hay không phụ thuộc vào cơ chế, chính sách của Nhà nước, hệ thống pháp luật, sự phát triển của thị trường lao động, năng lực quản lý của cơ quan chủ quản, năng lực nội sinh của mỗi trường.

3.1. Cơ chế, chính sách của Nhà nước

Một là, Nhà nước xây dựng hệ thống pháp luật, định hướng phát triển các trường và kiểm tra, giám sát những việc gì được làm trong khuôn khổ pháp luật.

Hai là, hệ thống chính sách và công cụ như chính sách tài chính, đầu tư, tiền lương, thu nhập, chi tiêu của Nhà nuớc có tác động rất lớn đến cơ chế tự chủ tài chính của các trường. Hệ thống chính sách này phải phù hợp với cơ chế thị trường, có tính cạnh tranh thì mới tăng cường sự chủ động cho các trường.

Ba là, cơ chế tự chịu trách hiệm đi kèm với quyền tự chủ tài chính do Nhà nước quy định là rất quan trọng để nhà trường cũng như cán bộ, viên chức thực sự tham gia quản lý công việc, tham gia vào cơ chế tự chủ tài chính.

3.2. Hệ thống pháp luật

Hệ thống pháp luật của Nhà nước có tác động rất lớn tới hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của các trường. Bởi đó chính là cơ sở pháp lý để các trường có thể tăng cường huy động các nguồn lực tài chính từ Nhà nước, từ xã hội. Hiện nay, các trường đang chịu sự điều chỉnh của Luật Giáo dục đại học và các văn bản quy phạm pháp luật trong cùng hệ thống.

3.3. Sự phát triển của thị trường lao động

Trong kinh tế thị trường, sự phát triển của thị trường sức lao động có vai trò rất quan trọng. Đó là sự tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một trường đại học, bởi vì, nó liên quan đến nhu cầu xã hội hóa giáo dục đại học. Một là, thị trường là nơi sử dụng sản phẩm đào tạo, là nơi cuối cùng thẩm định chất lượng của một nhà trường. Nếu sản phẩm đào tạo của nhà trường được các tổ chức, cá nhân sử dụng thì trường đại học đó mới tồn tại, phát triển được.

Hai là, sự ủng hộ của xã hội đối với lĩnh vực đào tạo là điều kiện quan trọng để trường thực hiện quyền tự chủ tài chính. Kinh nghiệm các nước cho thấy, để phát triển lĩnh vực đào tạo thì các doanh nghiệp, những người hảo tâm đóng vai trò rất quan trọng.

Ba là, thực hiện quan hệ thị trường trong quá trình đào tạo và sử dụng sản phẩm đào tạo. Với kinh tế thị trường, sản phẩm đào tạo là một loại hàng hóa đầu vào của quá trình sản xuất. Cho nên, quá trình đào tạo và sử dụng sản phẩm cũng phải vận dụng quan hệ thị trường. Điều đó có nghĩa người học, người sử dụng sản phẩm phải chi trả chi phí đào tạo. Tùy theo mức độ thị trường hóa mà mức chi phí đào tạo được xác định khác nhau. Tuy nhiên, chi phí này cần được bảo đảm cho nhà trường có thể tái sản xuất mở rộng quá trình đào tạo.

3.4. Năng lực nội sinh của mỗi trường đại học

Năng lực nội sinh của mỗi trường đại học là nguồn tài chính, nguồn nhân lực, vật lực, môi trường, thông tin… cần thiết cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học. Muốn tăng năng lực nội sinh, mỗi trường cần giải quyết tốt các vấn đề sau:

Một là, đội ngũ giảng viên. Đây là nhân tố then chốt tạo nên sự phát triển cho nhà trường. Vì vậy, các trường cần có đủ số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên, đảm bảo tỷ lệ sinh viên/giảng viên cơ hữu. Mỗi trường phải tự đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy vì yêu cầu đối với một trường đại học không chỉ là nơi cung cấp thông tin, giúp người học có được tri thức mà còn là sự vận dụng nhanh chóng những gì học được vào cuộc sống.

Hai là, đội ngũ cán bộ quản lý, phục vụ giảng dạy có chất lượng để nhà trường vận hành tốt. Về bộ máy, đội ngũ này cần gọn nhẹ nhưng am hiểu nghiệp vụ chuyên môn. Trong đó, đội ngũ làm công tác quản lý tài chính có ảnh hưởng trực tiếp. Đội ngũ này cần có khả năng xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính, huy động vốn, hướng dẫn chi tiêu, kiểm tra, giám sát thực hiện và đóng vai trò rất lớn để chuyển quản lý nhà trường từ cách quản lý hành chính sang quản lý chất lượng, hiệu quả.

Ba là, cơ sở vật chất được đầu tư, trong đó thư viện là kho tàng tri thức của nhà trường nên cần chú trọng cung cấp đầy đủ, kịp thời cập nhật các tài liệu học tập cho sinh viên. Đối với các trường khoa học kỹ thuật, khoa học cơ bản thì hệ thống phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, thực tập phải được đầu tư theo kịp với sự phát triển xã hội trong nước và quốc tế. Phòng học, máy tính, ký túc xá… là điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện tốt công tác đào tạo, nghiên cứu trong môi trường giáo dục hiện đại.

Bốn là, địa bàn thực tập là vấn đề quan trọng để thực hiện mối liên hệ giữa lý luận với thực tiễn, bồi dưỡng năng lực thực tiễn cho sinh viên. Điều này đòi hỏi phải có sự gắn bó giữa nhà trường và doanh nghiệp. Nhà trường cần chủ động đổi mới tổ chức, quản lý, nội dung hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu của người học, gắn với phát triển kinh tế - xã hội, gắn với thị trường lao động, xây dựng nhà trường theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa tương xứng với các chuẩn mực quốc tế.

4. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính

- Tính hiệu lực: Cơ chế phải có giá trị thi hành trên thực tiễn, có nghĩa là, nó phải bảo đảm tính hợp pháp, tính đồng bộ, tính phù hợp, điều kiện áp dụng vào thực tiễn dễ dàng, không tạo cơ chế xin - cho. Đây là thước đo thực tế của cơ chế tự chủ tài chính. Nói cách khác, cơ chế tự chủ tài chính phải tạo ra một khung pháp lý hoàn chỉnh cho các trường đại học dựa vào đó để chủ động tổ chức các hoạt động tài chinh của mình một cách hiệu quả, đáp ứng mục tiêu, sứ mạng của nhà trường một cách tốt nhất.

- Tính hiệu quả: Hiệu quả của một cơ chế có thể được đo lường dưới hai khía cạnh cơ bản là lợi ích và chi phí. Cơ chế được xem là hiệu quả khi nó đáp ứng được mong muốn của người ban hành và tác động tới các quan hệ liên quan theo hướng tích cực với chi phí thấp nhất. Các chỉ tiêu định lượng dùng để đo lường tính hiệu quả của cơ chế tự chủ tài chính bao gồm: Quy mô, cơ cấu nguồn thu chi, hiệu quả sử dụng vốn, thu nhập tăng thêm của cán bộ viên chức, suất đầu tư cho một sinh viên, tỷ lệ sinh viên trên giảng viên, số bài báo, công trình nghiên cứu khoa học hàng năm của nhà trường.

- Tính linh hoạt: Những quy định trong cơ chế phải có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội, sự phát triển của thị trường giáo dục đại học trong nước và quốc tế, cho phép các trường được tự do lựa chọn, tìm kiếm, sử dụng các nguồn kinh phí phù hợp với chức năng, nhiệm vụ theo đuổi trong ngắn hạn và dài hạn.

- Tính công bằng: Những quy định trong cơ chế tự chủ tài chính phải tạo ra sự hài hòa giữa quyền lợi và trách nhiệm. Trong đó, trách nhiệm của nhà trường là trách nhiệm đối với sinh viên, cha mẹ sinh viên, người sử dụng lao động, Nhà nước, bao gồm việc đảm bảo chất lượng đào tạo, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đem lại sự hài lòng cho sinh viên và cộng đồng, các thông tin tài chính của nhà trường phải đảm bảo tính minh bạch và giải trình công khai với công chúng. Tuy nhiên, những quy định trong cơ chế cần phải cân bằng giữa chi phí và lợi ích đem lại.

- Tính ràng buộc về mặt tổ chức: Để đảm bảo tính hiệu quả thì những quy định trong cơ chế tài chính phải phù hợp với pháp luật hiện hành. Ngoài ra, nó cần phải có sự hỗ trợ về mặt hành chính để thực hiện các quy định về quyền tự chủ tài chính của các trường trong thực tiễn. Cơ chế cần có tác dụng thúc đẩy các trường tìm kiếm nguồn thu ngoài ngân sách.

- Sự thừa nhận của cộng đồng: Cơ chế được xem là một bản thỏa thuận giữa Nhà nước và các trường để tạo ra sự đồng thuận về quản lý thu chi tài chính. Vì vậy, trong cơ chế phải quy định rõ việc trao quyền cho các trường khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Sự thành công của cơ chế tự chủ tài chính phụ thuộc vào mức độ cộng đồng thừa nhận nó.

5. Những yêu cầu cần bảo đảm khi thực hiện tự chủ tài chính và tài sản tại các cơ sở đào tạo đại học công lập

Một là, xác định quyền quyết định của chủ sở hữu cơ sở đại học công lập. Cơ sở đại học công lập là tổ chức do Nhà nước thành lập và đầu tư vốn. Theo đó, Nhà nước là chủ sở hữu cơ sở đại học. Như vậy, về nguyên tắc, Nhà nước có quyền định đoạt đối với chính cơ sở đại học, vốn và tài sản của cơ sở đại học đó[1]. Quan điểm của cá nhân tác giả cho rằng, việc xác định quyền của chủ sở hữu có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ yếu tố này sẽ là yếu tố quan trọng để xác định mức độ tự chủ, giới hạn tự chủ và quan trọng hơn nữa, đó là vai trò của chủ sở hữu cần phải được định vị trong nội dung Luật Giáo dục đại học một cách toàn diện bên cạnh các luật khác có liên quan.

Hai là, cần xác định tự chủ không đồng nghĩa với tự định đoạt đối với tài chính và tài sản của đơn vị. Chủ sở hữu được quyền quyết định giao lại một phần quyền sở hữu đối với phần vốn của mình[2]. Đối với Nhà nước, việc phân chia và giao từng phần quyền của sở hữu chủ đối với cơ sở đại học công lập và tài sản thuộc về sở hữu nhà nước được tiến hành thông qua các phương thức cơ bản như: (i) Thực hiện quyền thông qua cơ chế chủ quản; (ii) Thực hiện quyền thông qua đại diện chủ sở hữu; (iii) Thực hiện giao một số quyền cho những người quản lý cơ sở đại học - cơ chế này tác giả hiểu rằng đó là cơ chế tự chủ.

Ba là, cần xác định rõ mối quan hệ giữa Luật Giáo dục đại học với các luật có liên quan về tự chủ tài chính và tài sản của cơ sở giáo dục đại học công lập.

Bốn là, cần xác định nội dung và phương thức thực hiện cho cơ sở giáo dục đại học công lập trong mối tương quan với các doanh nghiệp nhà nước. Xét cho cùng, cơ sở đại học công lập và các tổ chức kinh tế của Nhà nước đều là các pháp nhân do Nhà nước thành lập để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, do đó sẽ có nhiều nội dung tương đồng trong cách thức thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với pháp nhân và đối với tài sản của pháp nhận. Quan niệm này của tác giả nhằm hướng tới việc tính toán áp dụng phương thức người đại diện chủ sở hữu vốn và việc phân giao quyền tự chủ cho bộ máy quản lý của pháp nhân là doanh nghiệp có phần vốn nhà nước với pháp nhân là cơ sở đại học công lập.

Năm là, cần khẳng định việc tiếp tục hỗ trợ tài chính từ ngân sách, chi hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương, chi đầu tư của các bộ, ngành cho các lĩnh vực giáo dục đại học mà bộ ngành quản lý.

PGS.TS. Phạm Thị Giang Thu

Đại học Luật Hà Nội

TS. Nguyễn Ngọc Lương

Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh



[1]. Xem Điều 94 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Xem khoản 1 Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: