Thứ tư 13/05/2026 01:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về đổi mới chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương là vấn đề đã và đang được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Thời gian qua, nhiều chủ trương đổi mới chính quyền địa phương đã được hiện thực hóa trong các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đó là cơ sở cho quá trình đổi mới chính quyền địa phương hiện nay. Để quá trình triển khai thực hiện trên thực tiễn được nhất quán, việc làm rõ những cơ sở lý luận cho việc đổi mới chính quyền địa phương hiện nay là rất cần thiết.

1. Đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của chính quyền địa phương

Trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước chủ yếu được quan tâm theo hệ thống dọc từ trung ương đến cơ sở. Nói đến cơ cấu của bộ máy nhà nước là nói đến các hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương như: Hệ thống cơ quan đại diện, hệ thống cơ quan hành chính, hệ thống Tòa án nhân dân, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Khi đó, chính quyền địa phương với tính chất là một chỉnh thể thống nhất ít được đề cập. Đến thời kỳ đổi mới, các hệ thống dọc này, nhất là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan đại diện đứng trước nhiều thách thức mới. Đó là sự phát triển năng động của khu vực thị trường, tính đa dạng của lợi ích, trình độ dân trí, dân chủ được nâng lên,… Xã hội đòi hỏi một bộ máy nhà nước trách nhiệm, minh bạch, thích ứng, linh hoạt, hiệu lực, hiệu quả. Từ đó, chủ trương phân cấp đã ra đời, nhằm khắc phục tính quan liêu, cồng kềnh của bộ máy nhà nước. Mối quan tâm đến quan hệ chiều ngang giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp với tính chất là những bộ phận không thể thiếu của một cấp chính quyền dần được đề cao. Luật Chính quyền địa phương năm 2015 ra đời là một minh chứng rõ nét cho những thay đổi trong nhận thức về vị trí, vai trò của chính quyền địa phương.

Cùng với quá trình phát triển và hoàn thiện của bộ máy nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, chính quyền địa phương đang ngày càng khẳng định mạnh mẽ hơn vị trí, vai trò và tính độc lập tương đối của mình. Sự ra đời của các chỉ số về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI; chỉ số quản trị và hành chính công cấp tỉnh PAPI; chỉ số cải cách hành chính PAR INDEX… là những minh chứng quan trọng cho quá trình này. Đồng thời, các chỉ số này cũng là những tác nhân quan trọng cho những nỗ lực nâng cao năng lực tự chủ củachính quyền địa phương trong quá trình đổi mới. Có địa phương đã khẳng khái: “Chúng tôi cần cơ chế riêng chứ không xin “miếng bánh” to hơn”[1] và việc chính quyền trung ương đồng ý thí điểm cơ chế đặc thù ở một số địa phương[2] cho thấy việc bảo đảm sự độc lập tương đối cho chính quyền địa phương đã trở thành nhu cầu rất bức thiết và khách quan cho sự phát triển. Tuy nhiên, là một bộ phận hợp thành của hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương phải được đặt trong sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền trung ương.

Như vậy, với thay đổi trong nhận thức về vị trí, vai trò của chính quyền địa phương hiện nay, có thể hiểu chính quyền địa phương là một bộ phận của bộ máy nhà nước, có tính độc lập tương đối trong quan hệ với chính quyền trung ương, được tổ chức để thực thi những chức năng, nhiệm vụ nhất định của quản lý nhà nước trên một đơn vị hành chính lãnh thổ, bằng những nguồn lực được phân cấp hay chuyển giao theo quy định của pháp luật.

2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

2.1. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp

Trước kia, trong hệ thống tập quyền thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là theo các mệnh lệnh hành chính của cơ quan hành chính cấp trên với các nguồn lực được phân bổ, cấp phát từ chính quyền cấp trên. Do đó, vấn đề trách nhiệm của chính quyền các cấp chủ yếu là trách nhiệm của cả hệ thống các cấp hành chính từ trung ương đến địa phương. Vai trò quyết nghị của Hội đồng nhân dân các cấp khá mờ nhạt, chủ yếu là hợp pháp hóa các quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Hiện nay, mối quan hệ giữa các cấp chính quyền đã có sự thay đổi cơ bản. Chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên cơ sở phân cấp, phân quyền và chịu trách nhiệm trong phạm vi đó. Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương được đề cao. Chính quyền cấp trên không thể tùy tiện can thiệp đến tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp dưới bằng các mệnh lệnh hành chính. Những thay đổi đó sẽ làm thay đổi mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp. Trước hết, trong phạm vi thẩm quyền được phân công, phân cấp cho chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân phải nâng cao năng lực, trách nhiệm của mình trong thực hiện chức năng quyết nghị và giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Thứ hai, chính quyền địa phương được quyền tự chủ và phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phân cấp, phân quyền. Vấn đề trách nhiệm đã chuyển từ hệ thống dọc sang mối quan hệ chiều ngang, nên mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân sẽ chặt chẽ hơn. Hội đồng nhân dân cùng với Ủy ban nhân dân cùng cấp sẽ phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của chính quyền địa phương trước nhân dân và chính quyền cấp trên. Thay đổi trên sẽ là tác động quan trọng đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp. Vì vậy, đòi hỏi, thể chế phải có sự thay đổi kịp thời, đáp ứng và hỗ trợ đòi hỏi của thực tiễn.

Để Hội đồng nhân dân có đủ năng lực đáp ứng vị trí, vai trò của mình trong tình hình mới, trước hết, cần hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị, nông thôn theo hướng đơn giản hóa hoặc bỏ Hội đồng nhân dân ở các đơn vị hành chính quận, huyện, phường, vì vai trò khá mờ nhạt của các cấp hành chính này. Đồng thời, sự tồn tại của Hội đồng nhân dân ở các cấp hành chính này còn có nguy cơ làm chia cắt các quy trình hành chính vốn rất cần sự thông suốt, nhanh nhạy. Khi đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Hội đồng nhân dân xã cần được tăng cường về chất lượng đại biểu và các điều kiện hoạt động. Hội đồng nhân dântỉnh có thể tăng số lượng đại biểu chuyên trách và thành lập văn phòng đại biểu tại các địa phương, thiết lập các đường dây nóng để cử tri dễ dàng liên hệ tiếp xúc với đại biểu Hội đồng nhân dân.

2.2. Hoàn thiện các mô hình chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Việc gần như rập khuôn bộ máy chính quyền địa phương ở tất cả các đơn vị hành chính lãnh thổ hiện nay đã và đang là nguyên nhân quan trọng gây ra tính cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương. Về vấn đề này, Nghị quyết số 18/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã nhận định về tình hình hiện tại: “Chưa phân định thật rõ tính đặc thù của chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo”. Thực tiễn ở nhiều địa phương trong thời gian qua, nhất là các đô thị lớn, các mô hình chính quyền địa phương đã bộc lộ nhiều bất cập. Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 192/QĐ-TTg ngày 15/02/2012 thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương xây dựng Đề án thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị. Theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo, 08 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tham gia xây dựng Đề án thí điểm. Đồng thời, xuất phát từ nhu cầu phát triển của địa phương, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã xây dựng và trình Đề án xây dựng chính quyền đô thị ở địa phương. Năm 2018, Bộ Chính trị tiếp tục cho chủ trương để Hà Nội xây dựng và thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị. Ngoài ra, nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có ý kiến về những bất cập trong việc thiếu cơ chế để các địa phương tự chủ trong tổ chức các cơ quan chuyên môn, nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Mô hình chính quyền đặc khu hành chính - kinh tế đặc biệt đã được đề xuất và đang trong quá trình thảo luận, thông qua.

Thực tiễn trên cùng với quá trình thảo luận xung quanh các mô hình chính quyền địa phương cho thấy, nhận thức về nhu cầu hoàn thiện các mô hình chính quyền địa phương đã tương đối rõ ràng. Nhưng sự bứt phá về tư duy để chấp nhận sự khác biệt giữa các mô hình còn gặp nhiều rào cản. Chẳng hạn, những tranh luận xung quanh vấn đề thẩm quyền của trưởng đặc khu... Đồng thời, việc phân định rõ địa bàn đô thị, nông thôn cũng cần được giải quyết rõ ràng và triệt để làm cơ sở cho việc xác định mô hình chính quyền phù hợp cho các địa phương. Ngoài ra, cần đẩy mạnh sự phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương, nâng cao khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tính chủ động cho địa phương.

Như vậy, có thể thấy, định hướng đã rõ ràng, nhu cầu thực tiễn cũng rất chín muồi, nhưng việc xây dựng các mô hình chính quyền địa phương đang gặp nhiều khó khăn. Các lý thuyết hành chính mới đang được vận dụng chủ yếu mang tính “thí điểm” và gặp khá nhiều lúng túng trong thực tiễn và tổng kết lý luận. Theo tác giả, việc tổ chức thí điểm các mô hình tổ chức chính quyền địa phương mới là cần thiết, nhưng cần có những tổng kết kịp thời và triệt để về lý luận và thực tiễn.

2.3. Nâng cao năng lực tự chủ cho chính quyền địa phương trong việc tổ chức bộ máy và quyết định nhân sự

Cùng với quá trình đổi mới, năng lực tự chủ của chính quyền địa phương ngày càng được nâng cao, thì vấn đề đang được đặt ra là làm thế nào để chính quyền địa phương phát huy tối đa được năng lực của mình, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước. Trong khi bộ máy chính quyền địa phương quá cồng kềnh, biên chế công chức lớn, làm tăng chi thường xuyên, nhưng hoạt động lại kém hiệu quả. Sau vụ việc số lượng lãnh đạo nhiều hơn nhân viên ở một số địa phương, có lãnh đạo địa phương cho rằng: Các địa phương khá tương đồng về điều kiện phát triển (cơ cấu các sở, phòng như nhau) nhưng chỉ tiêu biên chế lại rất khác nhau, nên tỉnh nào chỉ tiêu biên chế thấp thì ít nhân viên, tỷ lệ lãnh đạo trên nhân viên cao hơn. Vì vậy, “về bộ máy, cứ giao tỉnh được phép thành lập bao nhiêu sở. Hải Dương nếu cần thúc đẩy du lịch có tiềm năng thì có thể lập Sở Du lịch. Còn nơi nào ít nông nghiệp thì cần gì phải có Sở NN-PTNT nữa”[3]. Nhưng có quan điểm lại e ngại, nếu phân cấp cho địa phương tự chủ về bộ máy, nhân sự sẽ không quản được. Quan điểm e ngại là hoàn toàn có cơ sở, trong bối cảnh bộ máy hành chính vẫn chủ yếu tồn tại trong mối quan hệ tập trung quyền lực về trung ương. Nhưng vẫn còn quan hệ xin cho biên chế và ngân sách phụ thuộc vào chỉ tiêu biên chế, thì việc xác định trách nhiệm và nâng cao năng lực tự chủ của các chính quyền địa phương còn gặp nhiều khó khăn.

Về vấn đề này, Nghị quyết số 18/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả chủ trương: Đẩy mạnh phân cấp giữa trung ương với địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương; thay đổi phương thức giao kinh phí dựa trên tổ chức và biên chế hiện nay; tăng quyền chủ động cho các địa phương trong tổ chức các cơ quan chuyên môn. Đây là một chủ trương đúng đắn và rất cần thiết phải được tổ chức nghiên cứu, triển khai một cách khoa học trong thực tiễn với sự lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán, thường xuyên của Đảng.

2.4. Mối quan hệ giữa thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước ở chính quyền địa phương

Nhiều vấn đề đã được đặt ra trong quá trình cải cách hành chính nhà nước liên quan đến việc giải quyết mối quan hệ giữa thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước.

Thứ nhất, về vấn đề thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước: Theo Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, để bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước, cần quy trách nhiệm cá nhân người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước. Nghị quyết này cũng chủ trương phân định rõ và mở rộng phạm vi thẩm quyền của cá nhân người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước như quyền được đề xuất nhân sự cấp phó… Trong đó, có vấn đề quy trách nhiệm cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp đối với các vấn đề xảy ra ở địa phương. Khi đó, thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải được mở rộng một cách tương xứng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải có đủ thẩm quyền để chủ động điều hành các hoạt động mà mình phải chịu trách nhiệm. Vậy nên, khi thiết lập bộ máy hành chính của đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, hầu hết các quan điểm đưa ra đều chủ trương tạo điều kiện để Trưởng khu hành chính - kinh tế đặc biệt chủ động quyết định các vấn đề trong phạm vi quản lý của đặc khu. Đã có quan điểm đề xuất, mô hình này sau khi được triển khai ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt sẽ được rút kinh nghiệm và áp dụng rộng rãi trong các mô hình chính quyền địa phương. Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều quan điểm thể hiện sự e ngại khi thẩm quyền trao cho người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp quá lớn sẽ khó kiểm soát.

Thứ hai, thực hiện nguyên tắc “một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính”[4], thì việc sát nhập một số các cơ quan chuyên môn, trong đó có việc sát nhập Sở Tài chính và Sở Kế hoạch và Đầu tư là cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh quan điểm ủng hộ sát nhập để bảo đảm sự thông suốt, tinh gọn của bộ máy hành chính, thì nhiều quan điểm cũng lo ngại về vấn đề sẽ xuất hiện một tổ chức có quá nhiều quyền và khó kiểm soát.

Như vậy, nhu cầu tăng thẩm quyền cho các chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong nhiều trường hợp đã và đang được đặt ra như một giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Nhưng quản lý hành chính nhà nước là hoạt động vốn dễ nảy sinh lạm quyền, nên nguyên tắc quyền tương xứng với trách nhiệm phải luôn được đề cao. Việc quy trách nhiệm sẽ khó thực hiện nếu việc trao quyền không tương xứng với trách nhiệm. Trái lại, nếu trao nhiều quyền nhưng cơ chế trách nhiệm không tương xứng thì sẽ không thể kiểm soát được quyền, dẫn đến tình trạng lạm quyền. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, tâm lý e ngại trên là hoàn toàn có lý. Khi mà, nhiều cơ chế trách nhiệm đã được chỉ ra trong các Văn kiện của Đảng, như Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm với người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước, lấy phiếu tín nhiệm người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp[5], xác định rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, thí điểm dân bầu trực tiếp người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp[6]… Nhưng việc thực hiện còn nhiều khó khăn, một phần cũng là do, thẩm quyền của người đứng đầu còn chưa được phân định rõ. Người đứng đầu chưa được trao đủ thẩm quyền để chủ động giải quyết các công việc được thuộc thẩm quyền. Trong khi, chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền tạo sự chủ động cho các cấp, các cơ quan trong quản lý hành chính nhà nước đã rất được quan tâm trong đường lối lãnh đạo của Đảng trong thời gian qua và nay lại tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Vì vậy, việc đẩy mạnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các chủ trương trên với tư duy quyền hạn phải tương xứng với trách nhiệm trong quản lý hành chính nhà nước sẽ là điều kiện tiên quyết giải quyết vấn đề đặt ra.

Tóm lại, đổi mới chính quyền địa phương trong bối cảnh hiện nay là nhu cầu rất cấp thiết để nâng cao năng lực quản lý của nhà nước nói chung và của các chính quyền địa phương, nhất là trong bối cảnh quyền tự do kinh doanh, các quyền tự do, dân chủ của xã hội ngày càng được đề cao. Những phân tích trên cho thấy, quá trình đổi mới chính quyền địa phương vừa qua đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng so với yêu cầu của thực tiễn thì quá trình này còn tiếp tục đòi hỏi một sự lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán và quyết liệt trong tổ chức thực hiện./.

TS. Trần Thị Thanh Mai

Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I


[1] Phát biểu của Chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh trong phiên họp Quốc hội thông qua Nghị quyết về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh, nguồn: https://news.zing.vn/chu-tich-tphcm-can-co-che-rieng-chu-khong-xin-mieng-banh-to-hon-post797586.html, ngày 20/11/2017.

[2]Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Ngọc Thành (2017), Đưa một người ra khỏi công chức rất khó, nguồn: https://vov.vn/chinh-tri/quoc-hoi/dua-mot-nguoi-ra-khoi-cong-chuc-rat-kho-607642.vov, ngày 28/3/2017.

[4]Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) vềmột số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máycủa hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

[5] Quy định số 262-QĐ/TW ngày 08/10/2014 của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

[6] Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: