Thứ sáu 13/03/2026 07:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về đổi mới chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương là vấn đề đã và đang được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Thời gian qua, nhiều chủ trương đổi mới chính quyền địa phương đã được hiện thực hóa trong các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đó là cơ sở cho quá trình đổi mới chính quyền địa phương hiện nay. Để quá trình triển khai thực hiện trên thực tiễn được nhất quán, việc làm rõ những cơ sở lý luận cho việc đổi mới chính quyền địa phương hiện nay là rất cần thiết.

1. Đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của chính quyền địa phương

Trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước chủ yếu được quan tâm theo hệ thống dọc từ trung ương đến cơ sở. Nói đến cơ cấu của bộ máy nhà nước là nói đến các hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương như: Hệ thống cơ quan đại diện, hệ thống cơ quan hành chính, hệ thống Tòa án nhân dân, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Khi đó, chính quyền địa phương với tính chất là một chỉnh thể thống nhất ít được đề cập. Đến thời kỳ đổi mới, các hệ thống dọc này, nhất là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan đại diện đứng trước nhiều thách thức mới. Đó là sự phát triển năng động của khu vực thị trường, tính đa dạng của lợi ích, trình độ dân trí, dân chủ được nâng lên,… Xã hội đòi hỏi một bộ máy nhà nước trách nhiệm, minh bạch, thích ứng, linh hoạt, hiệu lực, hiệu quả. Từ đó, chủ trương phân cấp đã ra đời, nhằm khắc phục tính quan liêu, cồng kềnh của bộ máy nhà nước. Mối quan tâm đến quan hệ chiều ngang giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp với tính chất là những bộ phận không thể thiếu của một cấp chính quyền dần được đề cao. Luật Chính quyền địa phương năm 2015 ra đời là một minh chứng rõ nét cho những thay đổi trong nhận thức về vị trí, vai trò của chính quyền địa phương.

Cùng với quá trình phát triển và hoàn thiện của bộ máy nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, chính quyền địa phương đang ngày càng khẳng định mạnh mẽ hơn vị trí, vai trò và tính độc lập tương đối của mình. Sự ra đời của các chỉ số về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI; chỉ số quản trị và hành chính công cấp tỉnh PAPI; chỉ số cải cách hành chính PAR INDEX… là những minh chứng quan trọng cho quá trình này. Đồng thời, các chỉ số này cũng là những tác nhân quan trọng cho những nỗ lực nâng cao năng lực tự chủ củachính quyền địa phương trong quá trình đổi mới. Có địa phương đã khẳng khái: “Chúng tôi cần cơ chế riêng chứ không xin “miếng bánh” to hơn”[1] và việc chính quyền trung ương đồng ý thí điểm cơ chế đặc thù ở một số địa phương[2] cho thấy việc bảo đảm sự độc lập tương đối cho chính quyền địa phương đã trở thành nhu cầu rất bức thiết và khách quan cho sự phát triển. Tuy nhiên, là một bộ phận hợp thành của hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương phải được đặt trong sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền trung ương.

Như vậy, với thay đổi trong nhận thức về vị trí, vai trò của chính quyền địa phương hiện nay, có thể hiểu chính quyền địa phương là một bộ phận của bộ máy nhà nước, có tính độc lập tương đối trong quan hệ với chính quyền trung ương, được tổ chức để thực thi những chức năng, nhiệm vụ nhất định của quản lý nhà nước trên một đơn vị hành chính lãnh thổ, bằng những nguồn lực được phân cấp hay chuyển giao theo quy định của pháp luật.

2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

2.1. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp

Trước kia, trong hệ thống tập quyền thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là theo các mệnh lệnh hành chính của cơ quan hành chính cấp trên với các nguồn lực được phân bổ, cấp phát từ chính quyền cấp trên. Do đó, vấn đề trách nhiệm của chính quyền các cấp chủ yếu là trách nhiệm của cả hệ thống các cấp hành chính từ trung ương đến địa phương. Vai trò quyết nghị của Hội đồng nhân dân các cấp khá mờ nhạt, chủ yếu là hợp pháp hóa các quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Hiện nay, mối quan hệ giữa các cấp chính quyền đã có sự thay đổi cơ bản. Chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên cơ sở phân cấp, phân quyền và chịu trách nhiệm trong phạm vi đó. Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương được đề cao. Chính quyền cấp trên không thể tùy tiện can thiệp đến tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp dưới bằng các mệnh lệnh hành chính. Những thay đổi đó sẽ làm thay đổi mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp. Trước hết, trong phạm vi thẩm quyền được phân công, phân cấp cho chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân phải nâng cao năng lực, trách nhiệm của mình trong thực hiện chức năng quyết nghị và giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Thứ hai, chính quyền địa phương được quyền tự chủ và phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phân cấp, phân quyền. Vấn đề trách nhiệm đã chuyển từ hệ thống dọc sang mối quan hệ chiều ngang, nên mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân sẽ chặt chẽ hơn. Hội đồng nhân dân cùng với Ủy ban nhân dân cùng cấp sẽ phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của chính quyền địa phương trước nhân dân và chính quyền cấp trên. Thay đổi trên sẽ là tác động quan trọng đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp. Vì vậy, đòi hỏi, thể chế phải có sự thay đổi kịp thời, đáp ứng và hỗ trợ đòi hỏi của thực tiễn.

Để Hội đồng nhân dân có đủ năng lực đáp ứng vị trí, vai trò của mình trong tình hình mới, trước hết, cần hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị, nông thôn theo hướng đơn giản hóa hoặc bỏ Hội đồng nhân dân ở các đơn vị hành chính quận, huyện, phường, vì vai trò khá mờ nhạt của các cấp hành chính này. Đồng thời, sự tồn tại của Hội đồng nhân dân ở các cấp hành chính này còn có nguy cơ làm chia cắt các quy trình hành chính vốn rất cần sự thông suốt, nhanh nhạy. Khi đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Hội đồng nhân dân xã cần được tăng cường về chất lượng đại biểu và các điều kiện hoạt động. Hội đồng nhân dântỉnh có thể tăng số lượng đại biểu chuyên trách và thành lập văn phòng đại biểu tại các địa phương, thiết lập các đường dây nóng để cử tri dễ dàng liên hệ tiếp xúc với đại biểu Hội đồng nhân dân.

2.2. Hoàn thiện các mô hình chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Việc gần như rập khuôn bộ máy chính quyền địa phương ở tất cả các đơn vị hành chính lãnh thổ hiện nay đã và đang là nguyên nhân quan trọng gây ra tính cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương. Về vấn đề này, Nghị quyết số 18/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã nhận định về tình hình hiện tại: “Chưa phân định thật rõ tính đặc thù của chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo”. Thực tiễn ở nhiều địa phương trong thời gian qua, nhất là các đô thị lớn, các mô hình chính quyền địa phương đã bộc lộ nhiều bất cập. Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 192/QĐ-TTg ngày 15/02/2012 thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương xây dựng Đề án thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị. Theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo, 08 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tham gia xây dựng Đề án thí điểm. Đồng thời, xuất phát từ nhu cầu phát triển của địa phương, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã xây dựng và trình Đề án xây dựng chính quyền đô thị ở địa phương. Năm 2018, Bộ Chính trị tiếp tục cho chủ trương để Hà Nội xây dựng và thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị. Ngoài ra, nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có ý kiến về những bất cập trong việc thiếu cơ chế để các địa phương tự chủ trong tổ chức các cơ quan chuyên môn, nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Mô hình chính quyền đặc khu hành chính - kinh tế đặc biệt đã được đề xuất và đang trong quá trình thảo luận, thông qua.

Thực tiễn trên cùng với quá trình thảo luận xung quanh các mô hình chính quyền địa phương cho thấy, nhận thức về nhu cầu hoàn thiện các mô hình chính quyền địa phương đã tương đối rõ ràng. Nhưng sự bứt phá về tư duy để chấp nhận sự khác biệt giữa các mô hình còn gặp nhiều rào cản. Chẳng hạn, những tranh luận xung quanh vấn đề thẩm quyền của trưởng đặc khu... Đồng thời, việc phân định rõ địa bàn đô thị, nông thôn cũng cần được giải quyết rõ ràng và triệt để làm cơ sở cho việc xác định mô hình chính quyền phù hợp cho các địa phương. Ngoài ra, cần đẩy mạnh sự phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương, nâng cao khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tính chủ động cho địa phương.

Như vậy, có thể thấy, định hướng đã rõ ràng, nhu cầu thực tiễn cũng rất chín muồi, nhưng việc xây dựng các mô hình chính quyền địa phương đang gặp nhiều khó khăn. Các lý thuyết hành chính mới đang được vận dụng chủ yếu mang tính “thí điểm” và gặp khá nhiều lúng túng trong thực tiễn và tổng kết lý luận. Theo tác giả, việc tổ chức thí điểm các mô hình tổ chức chính quyền địa phương mới là cần thiết, nhưng cần có những tổng kết kịp thời và triệt để về lý luận và thực tiễn.

2.3. Nâng cao năng lực tự chủ cho chính quyền địa phương trong việc tổ chức bộ máy và quyết định nhân sự

Cùng với quá trình đổi mới, năng lực tự chủ của chính quyền địa phương ngày càng được nâng cao, thì vấn đề đang được đặt ra là làm thế nào để chính quyền địa phương phát huy tối đa được năng lực của mình, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước. Trong khi bộ máy chính quyền địa phương quá cồng kềnh, biên chế công chức lớn, làm tăng chi thường xuyên, nhưng hoạt động lại kém hiệu quả. Sau vụ việc số lượng lãnh đạo nhiều hơn nhân viên ở một số địa phương, có lãnh đạo địa phương cho rằng: Các địa phương khá tương đồng về điều kiện phát triển (cơ cấu các sở, phòng như nhau) nhưng chỉ tiêu biên chế lại rất khác nhau, nên tỉnh nào chỉ tiêu biên chế thấp thì ít nhân viên, tỷ lệ lãnh đạo trên nhân viên cao hơn. Vì vậy, “về bộ máy, cứ giao tỉnh được phép thành lập bao nhiêu sở. Hải Dương nếu cần thúc đẩy du lịch có tiềm năng thì có thể lập Sở Du lịch. Còn nơi nào ít nông nghiệp thì cần gì phải có Sở NN-PTNT nữa”[3]. Nhưng có quan điểm lại e ngại, nếu phân cấp cho địa phương tự chủ về bộ máy, nhân sự sẽ không quản được. Quan điểm e ngại là hoàn toàn có cơ sở, trong bối cảnh bộ máy hành chính vẫn chủ yếu tồn tại trong mối quan hệ tập trung quyền lực về trung ương. Nhưng vẫn còn quan hệ xin cho biên chế và ngân sách phụ thuộc vào chỉ tiêu biên chế, thì việc xác định trách nhiệm và nâng cao năng lực tự chủ của các chính quyền địa phương còn gặp nhiều khó khăn.

Về vấn đề này, Nghị quyết số 18/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả chủ trương: Đẩy mạnh phân cấp giữa trung ương với địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương; thay đổi phương thức giao kinh phí dựa trên tổ chức và biên chế hiện nay; tăng quyền chủ động cho các địa phương trong tổ chức các cơ quan chuyên môn. Đây là một chủ trương đúng đắn và rất cần thiết phải được tổ chức nghiên cứu, triển khai một cách khoa học trong thực tiễn với sự lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán, thường xuyên của Đảng.

2.4. Mối quan hệ giữa thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước ở chính quyền địa phương

Nhiều vấn đề đã được đặt ra trong quá trình cải cách hành chính nhà nước liên quan đến việc giải quyết mối quan hệ giữa thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước.

Thứ nhất, về vấn đề thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước: Theo Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, để bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước, cần quy trách nhiệm cá nhân người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước. Nghị quyết này cũng chủ trương phân định rõ và mở rộng phạm vi thẩm quyền của cá nhân người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước như quyền được đề xuất nhân sự cấp phó… Trong đó, có vấn đề quy trách nhiệm cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp đối với các vấn đề xảy ra ở địa phương. Khi đó, thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải được mở rộng một cách tương xứng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải có đủ thẩm quyền để chủ động điều hành các hoạt động mà mình phải chịu trách nhiệm. Vậy nên, khi thiết lập bộ máy hành chính của đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, hầu hết các quan điểm đưa ra đều chủ trương tạo điều kiện để Trưởng khu hành chính - kinh tế đặc biệt chủ động quyết định các vấn đề trong phạm vi quản lý của đặc khu. Đã có quan điểm đề xuất, mô hình này sau khi được triển khai ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt sẽ được rút kinh nghiệm và áp dụng rộng rãi trong các mô hình chính quyền địa phương. Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều quan điểm thể hiện sự e ngại khi thẩm quyền trao cho người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp quá lớn sẽ khó kiểm soát.

Thứ hai, thực hiện nguyên tắc “một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính”[4], thì việc sát nhập một số các cơ quan chuyên môn, trong đó có việc sát nhập Sở Tài chính và Sở Kế hoạch và Đầu tư là cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh quan điểm ủng hộ sát nhập để bảo đảm sự thông suốt, tinh gọn của bộ máy hành chính, thì nhiều quan điểm cũng lo ngại về vấn đề sẽ xuất hiện một tổ chức có quá nhiều quyền và khó kiểm soát.

Như vậy, nhu cầu tăng thẩm quyền cho các chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong nhiều trường hợp đã và đang được đặt ra như một giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Nhưng quản lý hành chính nhà nước là hoạt động vốn dễ nảy sinh lạm quyền, nên nguyên tắc quyền tương xứng với trách nhiệm phải luôn được đề cao. Việc quy trách nhiệm sẽ khó thực hiện nếu việc trao quyền không tương xứng với trách nhiệm. Trái lại, nếu trao nhiều quyền nhưng cơ chế trách nhiệm không tương xứng thì sẽ không thể kiểm soát được quyền, dẫn đến tình trạng lạm quyền. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, tâm lý e ngại trên là hoàn toàn có lý. Khi mà, nhiều cơ chế trách nhiệm đã được chỉ ra trong các Văn kiện của Đảng, như Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm với người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước, lấy phiếu tín nhiệm người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp[5], xác định rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, thí điểm dân bầu trực tiếp người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp[6]… Nhưng việc thực hiện còn nhiều khó khăn, một phần cũng là do, thẩm quyền của người đứng đầu còn chưa được phân định rõ. Người đứng đầu chưa được trao đủ thẩm quyền để chủ động giải quyết các công việc được thuộc thẩm quyền. Trong khi, chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền tạo sự chủ động cho các cấp, các cơ quan trong quản lý hành chính nhà nước đã rất được quan tâm trong đường lối lãnh đạo của Đảng trong thời gian qua và nay lại tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Vì vậy, việc đẩy mạnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các chủ trương trên với tư duy quyền hạn phải tương xứng với trách nhiệm trong quản lý hành chính nhà nước sẽ là điều kiện tiên quyết giải quyết vấn đề đặt ra.

Tóm lại, đổi mới chính quyền địa phương trong bối cảnh hiện nay là nhu cầu rất cấp thiết để nâng cao năng lực quản lý của nhà nước nói chung và của các chính quyền địa phương, nhất là trong bối cảnh quyền tự do kinh doanh, các quyền tự do, dân chủ của xã hội ngày càng được đề cao. Những phân tích trên cho thấy, quá trình đổi mới chính quyền địa phương vừa qua đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng so với yêu cầu của thực tiễn thì quá trình này còn tiếp tục đòi hỏi một sự lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán và quyết liệt trong tổ chức thực hiện./.

TS. Trần Thị Thanh Mai

Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I


[1] Phát biểu của Chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh trong phiên họp Quốc hội thông qua Nghị quyết về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh, nguồn: https://news.zing.vn/chu-tich-tphcm-can-co-che-rieng-chu-khong-xin-mieng-banh-to-hon-post797586.html, ngày 20/11/2017.

[2]Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Ngọc Thành (2017), Đưa một người ra khỏi công chức rất khó, nguồn: https://vov.vn/chinh-tri/quoc-hoi/dua-mot-nguoi-ra-khoi-cong-chuc-rat-kho-607642.vov, ngày 28/3/2017.

[4]Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) vềmột số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máycủa hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

[5] Quy định số 262-QĐ/TW ngày 08/10/2014 của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

[6] Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: