Thứ tư 21/01/2026 01:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về kiểm soát hoạt động đảm bảo quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, quyền công dân ngày càng được mở rộng và Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm, bảo vệ các quyền ấy. Trong đó, cơ quan hành chính nhà nước đảm nhận trách nhiệm này một cách thường xuyên, trực tiếp nhất. Điều này cũng cho thấy sự cần thiết khách quan phải kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước nhằm chống sự lạm quyền, vượt quyền và để thúc đẩy việc hoàn thành trách nhiệm của bộ máy hành pháp. Bài viết cũng nghiên cứu về các phương thức kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát hoạt động này.

Abstract: In the rule of law state, citizen's rights have been more and more widened and the state is responsible to ensure and protect such rights. Among them, administrative state agencies most regularly and directly undertake this responsibility. This shows an objective need to control activities ensuring citizens' rights of administrative state agencies against the power misuse, power exceeding and to promote the fulfilling responsibility of executive power. This article also studies methods of controlling activities ensuring citizen' rights of administrative state agencies and proposes some solutions to improve quality of controlling this activities.

1. Hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước rất đa dạng, nhằm nhiều mục đích và để thực hiện nhiều chức năng. Ngoài các chức năng như chức năng bảo đảm an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội, chức năng thực thi pháp luật, chức năng tài phán và chức năng quản lý, điều hành, cơ quan hành chính nhà nước còn có chức năng bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Bảo đảm quyền công dân là việc kiến tạo các tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và pháp lý để công dân có thể thực hiện đầy đủ các quyền của mình. Cơ quan hành chính nhà nước bảo đảm quyền công dân thông qua hoạt động lập quy và hoạt động điều hành hành chính nhà nước.

Hoạt động lập quy là hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. Thông qua hoạt động này, cơ quan hành chính nhà nước cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, luật về quyền công dân trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Đó là việc: (i) Cụ thể hóa cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền công dân (ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện quyền công dân, đặt ra những quy định ảnh hưởng tới việc có thể thực hiện được hoặc không thực hiện được một số quyền công dân) và (ii) Cụ thể hóa cơ sở pháp lý cho việc xử lý vi phạm quyền công dân (thiết lập các biện pháp, hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm quyền công dân).

Hoạt động điều hành hành chính nhà nước là hoạt động tổ chức, điều khiển, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội. Trong khi điều hành hành chính nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước bảo đảm quyền công dân bằng các hoạt động: Quản lý và cung cấp dịch vụ công nhằm phục vụ, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu và những quyền, nghĩa vụ của công dân, vì lợi ích công cộng, không vì mục tiêu lợi nhuận; giải quyết khiếu nại, khiếu kiện của công dân đối với hệ thống hành chính nhà nước khi công dân không đồng tình và cho rằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính gây tổn hại tới tự do, quyền, lợi ích hợp pháp của mình; cưỡng chế hành chính nhà nước đối với những người vi phạm quyền công dân của người khác nhằm bảo đảm quyền công dân cho những người là nạn nhân của hành vi vi phạm pháp luật hoặc để phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các vi phạm quyền công dân nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền công dân trong toàn bộ cộng đồng; tổ chức thanh tra, kiểm tra nội bộ để phát hiện các hành vi vi phạm quyền công dân của chính cơ quan hành chính nhà nước.

2. Kiểm soát đối với việc bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là một hoạt động được Nhà nước và xã hội tiến hành thông qua những phương thức, phương tiện được pháp luật quy định nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn những hoạt động sai trái của cơ quan hành chính nhà nước trong việc bảo đảm quyền công dân.

Căn cứ vào chủ thể tiến hành kiểm soát có thể chia kiểm soát hoạt động của cơ quan nhà nước thành hai loại: Kiểm soát mang tính quyền lực nhà nước (do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, dùng các biện pháp quản lý nhà nước mang tính cưỡng chế để xử lý kết quả kiểm soát) và kiểm soát mang tính xã hội (do các chủ thể xã hội thực hiện, không mang tính quyền lực nhà nước, không dùng các biện pháp quản lý nhà nước để xử lý kết quả kiểm soát).

Chủ thể kiểm soát mang tính quyền lực nhà nước ở cấp trung ương là Nghị viện, Tòa án và Kiểm toán nhà nước (ở đây không tìm hiểu sự tự kiểm soát của chính cơ quan hành chính nhà nước). Chủ thể kiểm soát mang tính xã hội là các tổ chức, hiệp hội quần chúng (đại diện cho các thành phần xã hội, nghề nghiệp khác nhau), các đảng phái chính trị, công luận và cá nhân công dân.

3. Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là một sự cần thiết khách quan, xuất phát từ năm lý do sau đây:

- Kiểm soát để bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Điều này được thể hiện ở hai cấp độ: (i) Cần kiểm soát để quyền lực nhà nước luôn vận động trong một quỹ đạo nhất định theo định hướng của lực lượng cầm quyền, tức là luôn thống nhất về bản chất, mục tiêu, phục vụ lợi ích của lực lượng nắm giữ quyền lực và (ii) Cần kiểm soát để dù là phân công hay phân chia quyền lực thì quyền lực nhà nước vẫn luôn thống nhất trong việc thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp, đều hướng tới mục tiêu chung của Nhà nước.

- Kiểm soát để chống sự lạm quyền, vượt quyền của cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình bảo đảm quyền công dân. Được sử dụng quyền lực nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước khi bảo đảm quyền công dân có thể ban hành các quyết định hành chính mang tính đơn phương, buộc phải chấp hành. Chính đặc quyền này là nguyên nhân dễ dẫn tới sự lạm quyền, vượt quyền của cơ quan hành chính nhà nước. John Locke trong “Khảo luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự” cũng đã viết: “… đặc quyền hành động thật sự có thể là - như cái mà một số người có - một quyền lực độc đoán, để làm nên những chuyện gây hại cho nhân dân”.

- Kiểm soát để bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước. Là cơ quan thi hành pháp luật và hoạt động trên cơ sở pháp luật, cơ quan hành chính nhà nước trước hết phải bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động của mình. Nhưng chính đặc tính nắm nhiều công cụ quyền lực mạnh để thực thi pháp luật lại là một nguy cơ dễ dẫn tới việc phá vỡ tính pháp chế trên, đặc biệt là trong quá trình tiếp xúc với công dân, bảo đảm quyền công dân. Ngoài ra, hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dựa trên nền tảng của nhiều loại kỷ luật: Kỷ luật lao động, kỷ luật công vụ, kỷ luật tài chính, kỷ luật kế toán, kỷ luật trong hoạt động thông tin... Tuy nhiên, ý thức tự giác thực thi và mức độ thực thi các loại kỷ luật này so với yêu cầu luôn còn những khoảng cách. Và độ lớn của khoảng cách này lại tỉ lệ thuận với độ lỏng lẻo của sự kiểm soát.

- Kiểm soát để thúc đẩy cơ quan hành chính nhà nước hoàn thành trách nhiệm bảo đảm quyền công dân. Nhiệm vụ bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước có được hoàn thành hay không ngoài sự tác động của các yếu tố khác còn cần phải có sự tồn tại của yếu tố kiểm soát. Thông qua hoạt động này, kết quả thực hiện nhiệm vụ luôn được đo lường và so sánh với mục tiêu đã hoạch định. Từ đó, nó tạo ra sức ép vận động, thúc đẩy đối với cơ quan hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, kiểm soát làm cho hoạt động bảo đảm quyền công dân của cán bộ, công chức có hiệu quả hơn nhờ vào việc nâng cao trách nhiệm công vụ và đạo đức công vụ. Rõ ràng, chất lượng công việc, tinh thần trách nhiệm, tính siêng năng, sự tận tụy trong công việc, đạo đức nghề nghiệp của những người thực thi công vụ trong quá trình bảo đảm quyền công dân phụ thuộc rất lớn vào việc họ hoạt động trong một môi trường bị kiểm soát nhiều hay ít.

- Kiểm soát để chống tham nhũng. Hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động công nhận và bảo đảm, tạo ra các điều kiện để công dân thực hiện được các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Bởi vậy, không phải tự nhiên mà dẫn tới một số cách hiểu sau (cùng với những hệ lụy của nó): (i) Nếu hiểu đây là sự phục vụ thì một cách tự nhiên sẽ dẫn tới tâm lý cảm ơn; (ii) Nếu hiểu đây là sự ban ơn thì cũng tự nhiên mà dẫn tới tâm lý trả ơn; (iii) Nếu hiểu đây là sự đem đến lợi ích thì cũng dẫn tới tâm lý “lại quả”… Vì thế, đây là mảnh đất màu mỡ để tham nhũng phát triển. Kiểm soát việc bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động hiệu quả để góp phần ngăn chặn, đấu tranh phòng chống tham nhũng. Hoạt động này không những trực tiếp giúp các cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý tham nhũng mà còn tạo ra một áp lực xã hội có tính răn đe mạnh mẽ đối với những mầm mống tham nhũng.

4. Có nhiều phương thức kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước, tùy thuộc vào chế độ chính trị và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước. Tuy vậy, ta có thể tổng hợp thành những phương thức chung như sau:

Một là, phương thức kiểm soát mang tính quyền lực nhà nước

Phương thức này được thực hiện thông qua ba hoạt động kiểm soát của ba chủ thể khác nhau: (i) Hoạt động kiểm soát của Nghị viện. Để kiểm soát đối với việc bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước, Nghị viện các nước có thể tiến hành các hoạt động: Giám sát văn bản và các báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp của Nghị viện; chất vấn các thành viên của Chính phủ; tổ chức các phiên điều trần; tiến hành thủ tục luận tội (thủ tục đàn hạch); tiến hành các cuộc điều tra; tổ chức hoạt động của cơ quan thanh tra Nghị viện; tổ chức các đoàn giám sát. (ii) Hoạt động kiểm soát của Tòa án. Tòa án, với chức năng xét xử của mình, có thể thực hiện kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước một cách trực tiếp (thông qua tài phán hành chính) hoặc gián tiếp (thông qua tài phán tư pháp). (iii) Hoạt động kiểm soát của cơ quan Kiểm toán nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán nhà nước, hoạt động sử dụng ngân sách nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc bảo đảm quyền công dân được kiểm soát chặt chẽ. Qua đó, những sai phạm (nếu có) được phát hiện và kiến nghị xử lý.

Hai là, phương thức kiểm soát mang tính xã hội

Nhìn chung, pháp luật các quốc gia trao cho các chủ thể kiểm soát mang tính xã hội rất nhiều hình thức kiểm soát đa dạng, phong phú.

(i) Hoạt động kiểm soát của các tổ chức, hiệp hội quần chúng

Các tổ chức này có thể kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước thông qua các hình thức: Tuyên truyền, khích lệ các thành viên của mình tích cực thực hiện quyền kiểm soát; bằng nhiều nguồn thông tin, tiến hành tìm hiểu, đánh giá hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước, từ đó phát hiện ra các hành vi sai trái; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt, xem xét giải quyết xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong việc bảo đảm quyền công dân; tham gia các hình thức kiểm soát do cơ quan nhà nước đề nghị.

(ii) Hoạt động kiểm soát của các đảng phái chính trị

Đối với đảng chính trị cầm quyền, có thể thấy sự kiểm soát ở đây là sự kiểm soát trong nội bộ đảng chính trị. Tuy nhiên, các chính sách quản lý hành chính nhà nước phải dựa trên chủ trương của đảng cầm quyền. Các đảng viên ưu tú của đảng chính trị cầm quyền nắm giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt của bộ máy hành chính nhà nước và nhiều công chức làm việc trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước là đảng viên của đảng cầm quyền. Vì thế, đảng cầm quyền dùng sự giám sát nội bộ của mình để giám sát hoạt động quản lý hành chính nhà nước, trong đó có việc giám sát hoạt động bảo đảm quyền công dân.

Đối với các đảng chính trị đối lập, bản thân sự hiện diện của các đảng này đã tạo ra sự chi phối, ảnh hưởng đối với đảng cầm quyền và qua đó kiểm soát hoạt động của Chính phủ. Bởi vì các đảng chính trị khác nhau đại diện cho các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội và giữa các đảng chính trị đối lập nhau luôn tồn tại sự đấu tranh, tranh giành quyền lực nhà nước với nhau (ở từng mức độ khác nhau).

(iii) Hoạt động kiểm soát của công luận

Công luận thể hiện thái độ phán xét, đánh giá của công chúng đối với các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trong việc bảo đảm quyền công dân theo hai hướng: Đồng tình, ủng hộ những việc làm đúng đắn, phù hợp với đạo lý và luật pháp; phê phán, lên án các hành vi trái luân thường đạo lý, phạm pháp. Chính điều này (tưởng như vô hình) tạo ra khả năng kiểm soát, tác động mạnh mẽ tới hệ thống cơ quan hành chính nhà nước nói chung và từng công chức nói riêng.

Trong việc kiểm soát của công luận, báo chí có sức mạnh to lớn. Bằng việc công bố một cách chân thực, khách quan, kịp thời những thông tin liên quan đến hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước, báo chí giúp công chúng tiếp cận gần hơn với đối tượng kiểm soát của mình. Đồng thời, bằng sự thể hiện chính kiến, quan điểm, đưa ra những bình luận cụ thể, báo chí góp phần định hướng tư tưởng, hình thành công luận, gây áp lực buộc cơ quan hành chính nhà nước phải thay đổi hành động của mình.

(iv) Hoạt động kiểm soát của công dân

Công dân ngoài việc kiểm soát gián tiếp thông qua các tổ chức, hiệp hội quần chúng còn trực tiếp kiểm soát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước thông qua quyền kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo.

5. Những năm vừa qua, ở nước ta, công tác kiểm soát đối với việc bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước đã đạt những thành tựu rõ rệt. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra và chưa đạt được kết quả như kỳ vọng của toàn xã hội. Vì vậy, cần thiết phải nâng cao chất lượng kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước, thông qua một số giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện thể chế kiểm soát

Cần sớm rà soát, đánh giá một cách toàn diện cả nội dung lẫn hình thức của pháp luật về kiểm soát đối với việc bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước để đề ra những kiến nghị xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hoạt động này. Tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về vai trò kiểm soát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước. Cụ thể hóa, sửa đổi, bổ sung các quy định về hiệu quả sau kiểm soát, xác định trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực thi những kiến nghị về kiểm soát.

Hai là, tăng cường năng lực của các chủ thể kiểm soát

Kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan tham gia kiểm soát (Quốc hội, Tòa án nhân dân, Kiểm toán nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) theo hướng đồng bộ, tinh gọn và hiệu quả. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Cần xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở bảo đảm về số lượng, cơ cấu hợp lý và có chất lượng cao. Trong đó, cần chú trọng tới việc phát triển đội ngũ nhân sự trực tiếp làm công tác kiểm soát quyền lực nhà nước. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức là cơ bản, then chốt. Đồng thời làm tốt công tác quy hoạch, lựa chọn, bố trí cán bộ phù hợp làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác báo chí, xuất bản, truyền thông. Tiếp tục thực hiện các chính sách nâng cao dân trí để nhân dân (đặc biệt là nhân dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa) có đủ năng lực và điều kiện tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước cũng như bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Đẩy mạnh dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Ba là, tối ưu hóa quy trình, thủ tục kiểm soát

Một mặt, cần tối ưu hóa quy trình, thủ tục kiểm soát mang tính quyền lực nhà nước. Trong đó, trọng tâm là việc tối ưu hóa quy trình giám sát, đánh giá đối với các thành viên Chính phủ bằng cách xây dựng mối quan hệ giữa kết quả của hoạt động chất vấn (vốn là hình thức giám sát tối cao hiệu quả nhất của Quốc hội nước ta hiện nay) với việc xem xét bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên Chính phủ. Đổi mới quy trình thủ tục xét xử các vụ án hành chính. Tối ưu hóa trình tự, thủ tục kiểm soát việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước của cơ quan hành chính nhà nước.

Mặt khác, cần tối ưu hóa quy trình, thủ tục kiểm soát mang tính xã hội. Tiếp tục hoàn thiện thủ tục khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cải tiến cách thức tiếp nhận những kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo của công dân theo hướng đơn giản, dễ thực hiện. Có thể áp dụng các hình thức tiếp nhận khác như thông qua đường dây nóng, email… bên cạnh các hình thức truyền thống. Đồng thời, tối ưu hóa quy trình thủ tục, nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp trong việc kiểm soát. Bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm soát mang tính quyền lực nhà nước, cần đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm soát mang tính quyền lực nhà nước với các chủ thể kiểm soát mang tính xã hội. Trong đó, quan trọng nhất là hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Quốc hội với các chủ thể kiểm soát mang tính xã hội.

Tóm lại, kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là một sự cần thiết khách quan. Điều này hoàn toàn không tạo ra khó khăn, gây cản trở cho sự vận hành của bộ máy hành pháp mà trái lại, nếu được tổ chức tốt sẽ góp phần thanh lọc nền hành chính quốc gia, thúc đẩy việc hoàn thành trách nhiệm phục vụ nhân dân của nhà nước.

ThS. Trần Quốc Việt

Học viện Hành chính Quốc gia

Tài liệu tham khảo:

1. Trần Ngọc Đường, Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2012.

2. Đinh Văn Mậu, Quyền lực nhà nước và quyền công dân, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2003.

3. Trịnh Thị Xuyến, Kiểm soát quyền lực nhà nước - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

4. John Locke, Khảo luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, Nxb. Tri thức, 2013.

5. Richard Bellamy, 2008, Citizenship: A very short introduction, Oxford University Press.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: