Thứ bảy 02/05/2026 02:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay

Hiến pháp năm 1991, Luật Đất đai năm 1997 của Cộng hoà Dân chủ Nhân Lào đều khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá.

Với ý nghĩa đó, chính sách về quản lý và sử dụng đất đai là một bộ phận quan trọng trong các chính sách phát triển kinh tế, ổn định xã hội của Đảng và Nhà nước, đặc biệt ở nước CHDCND Lào chính sách sử dụng đất đai trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Nhà nước CHDCND Lào đã có Luật Đất đai năm 1997, nhưng quy định của Luật còn chưa lường hết được sự biến động của quan hệ đất đai trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, nhiều vấn đề đặt ra phải được xem xét, tổng kết để xây dựng và hoàn chỉnh chính sách đất đai phục vụ cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá VII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã nêu: “Luật Đất đai năm 1997 sau 6 năm thực hiện, bên cạnh những mặt tích cực đã bộc lộ một số điểm chưa thật phù hợp, chưa đủ cụ thể để xử lý những vấn đề mới phát sinh, nhất là trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, làm cho quan hệ về đất đai trong xã hội rất phức tạp, không chỉ về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng đến cả ổn định xã hội”. Luật Đất đai năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1997.

1. Vài nét về hiện trạng sử dụng đất ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Nước CHDCND Lào đất rộng, người ít, bình quân diện tích tự nhiên vào loại nhiều, có diện tích 236.800 km2, khoảng 25 người/ha, có diện tích đất nông nghiệp khoảng 2,8 triệu ha, bình quân đất canh tác là 1 ha/người, bình quân đất canh tác của mỗi hộ nông nghiệp là 5 ha, đất đai lại phân bố không đều giữa các vùng.

Vùng núi phía Bắc đất rộng nhưng diện tích đất canh tác có hạn, lại bị xói mòn, rửa trôi, điều kiện tự nhiên khó khăn nên luồng di cư tự do vào miền Trung và miền Nam khá lớn. Miền Trung và miền Nam đất rộng và màu mỡ, phần lớn là ruộng đất mới khai hoang có giá trị kinh tế lớn, nhất là các vùng trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, trồng cây ăn quả. Do di dân xây dựng vùng kinh tế mới và tình trạng di dân tự do vào đây khai hoang dồn dập, làm cho công tác quản lý gặp nhiều khó khăn. Tình trạng mua bán đất tự do của đồng bào dân tộc và dân tại chỗ khá phổ biến.

Do mỗi vùng nảy sinh những vấn đề khác nhau, đòi hỏi việc quản lý, sử dụng đất phải có chính sách giải quyết cụ thể. Mặt khác, trước đây vấn đề khuyến khích khai hoang mở rộng diện tích ở những khu vực đất trống đồi núi trọc đã có tác dụng tốt, nhưng lại có nhiều trường hợp, không phải là những hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp cũng đã đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ngay cả ở những khu đất khác, mà thường gọi chung là trang trại. Cần phân biệt giữa phát huy kinh tế hộ nông nghiệp với hình thức sản xuất này. Trước hết phải ưu tiên đất nông nghiệp cho hộ nông dân tại chỗ, nông dân không có đất và những người di cư có yêu cầu sản xuất nông nghiệp để ổn định cuộc sống. Việc huy động các thành phần kinh tế khác sử dụng đất hoang hóa, đất ven sông và đất trống đồi núi trọc cần theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và theo đúng pháp luật.

Thực hiện Nghị định 343/CP ngày 25/9/2007 về việc giao đất - giao rừng cho nông dân, đất đai được chia theo từng người, từng hộ gia đình cho những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp có mặt tại thời điểm chia, khi chết có sự thừa kế đất đai. Hàng năm, Nhà nước có chính sách giao đất – giao rừng cho hộ nông dân để sản xuất nông nghiệp và trồng cây lâu năm, có một số hộ gia đình Nhà nước chia đất cho để sản xuất nhưng bán cho người khác lại đòi hỏi đất nữa. Đây là vấn đề nổi lên ở những nơi đất nhiều, người ít.

Ngoài ra, trong thời gian qua, hằng năm Nhà nước sử dụng hơn 4 vạn ha đất để làm giao thông, thủy lợi, đất ở và mở mang đô thị. Ở miền Trung và miền Nam, đất đồng bằng đã chia hết cho các hộ, không để lại đất công ích để xây dựng cơ sở hạ tầng lại càng khó khăn hơn.

Trên thực tế, đất đai đối với nông dân là vấn đề khá phức tạp, không phải chỉ ở một vùng riêng biệt mà ngay cả ở đồng bằng. Một mâu thuẫn mới nảy sinh là đòi hỏi sự phát triển của nông nghiệp trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, trong khi phân công lại lao động trong nông nghiệp diễn ra còn chậm, trên 85% lao động vẫn làm nông nghiệp. Vì vậy, đòi hỏi phải có biện pháp tổng hợp để giải quyết một cách hợp lý nhằm phát triển kinh tế - xã hội mà trong đó đất đai chỉ là một giải pháp, nhưng trước hết phải bảo đảm an toàn lương thực quốc gia.

2. Quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất

Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế ở nước CHDCND Lào từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường với sự điều tiết của Nhà nước, phát huy quyền chủ động sáng tạo của cơ sở đã thực sự trở thành một động lực quan trọng phát triển kinh tế đất nước trong hơn 26 năm qua. Trong quan hệ đất đai, nước CHDCND Lào vẫn giữ nguyên hình thức sở hữu đất toàn dân nhưng giao cho người sử dụng đất các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh, đã tạo thành quan hệ mới trong cách nhìn nhận và đánh giá về cách thức quản lý và cơ chế khai thác đất đai trong giai đoạn hiện nay.

Vấn đề đặt ra là, giữa sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai và quyền của người sử dụng đất có gì mâu thuẫn không? Đất đai là “tư liệu sản xuất đặc biệt”, sử dụng nó phải thông qua Nhà nước điều tiết càng có hiệu quả hơn. Nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch và xác định mục đích sử dụng đất, tạo cơ sở cho người sử dụng đất vừa phát huy được tính chủ động của mình trong quá trình sử dụng đất, vừa bảo đảm các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội chung của cả cộng đồng, nhất là việc bảo đảm an toàn lương thực cho đất nước, nguyên liệu cho phát triển công nghiệp và môi trường sống. Do đó, đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước về mục đích sử dụng và quyền định đoạt của Nhà nước vì lợi ích chung. Cho nên, cần phân biệt rõ ràng giữa quyền sở hữu của Nhà nước với thực hiện các quyền của người sử dụng.

Tuy vậy, trong 2 quá trình này, Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và người sử dụng đất được thực hiện các quyền lại là một thể thống nhất. Vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu điều hòa các mối quan hệ sử dụng đất trong xã hội để phục vụ cho lợi ích chung thông qua công tác đầu tư, quản lý của mình và tạo điều kiện cho người sử dụng đất sử dụng có hiệu quả.

Trên cơ sở phân tích từ những khía cạnh khác nhau chung quanh quan hệ sở hữu và quan hệ sử dụng đất, có thể thấy đây là một thể thống nhất vừa bảo đảm chủ quyền quốc gia, vừa bảo đảm quyền lợi của người dân, đặc biệt là nông dân gắn liền với ruộng đất.

3. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế hộ, tích tụ ruộng đất và thực hiện công nghiệp hóa

Xu hướng sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp hiện nay diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau mà kinh tế hộ vẫn đóng một vai trò quan trọng. Đây là mối tương quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong điều kiện lực lượng sản xuất ngày càng phát triển. Sự tương quan này phải biểu hiện bằng sức sản xuất tiến bộ hơn qua các thời kỳ lịch sử.

Nhìn lại quá trình hợp tác hóa, nhận thấy rằng, thời gian đầu có sự tác động của Nhà nước, các hộ gắn kết với nhau thông qua hợp tác hóa để thực hiện thủy lợi hóa, xây dựng cơ sở vật chất và đưa tiến bộ kỹ thuật vào đồng ruộng, nông nghiệp có bước phát triển. Nhưng khi vào hợp tác xã, vai trò của kinh tế hộ bị lu mờ, do ruộng đất, tư liệu sản xuất tập trung, quản lý kém, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp chững lại. Từ đó, Đảng và Nhà nước CHDCND Lào đã có chủ trương giao đất – giao rừng ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân trong sản xuất nông nghiệp, đã giải phóng được mọi năng lực sản xuất của kinh tế hộ và nông nghiệp có một bước phát triển mới vượt qua thời kỳ kinh tế tự cung tự cấp trong nông nghiệp. Nhưng cũng cần thấy rằng, có được kết quả đó không thể không kể tới những cơ sở vật chất - kỹ thuật, thủy lợi đã được xây dựng từ thời kỳ hợp tác hóa cùng với sự hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước từ trước cho đến nay. Ngày nay, để kinh tế hộ tiếp tục phát triển, đòi hỏi phải có sự liên kết, hợp tác với nhau để tạo ra sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng cao, cạnh tranh được trong cơ chế kinh tế thị trường bằng các hình thức hợp tác chuyên khâu hay hợp tác toàn diện. Điển hình rõ nhất là ở đồng bằng Bò Ly Vên (phía Nam) từ chỗ hợp tác xã, các tập đoàn sản xuất tan rã nay đang có yêu cầu hợp tác trở lại. Vấn đề chính là lợi ích kinh tế của hộ nông dân, lợi ích ấy trong cơ chế thị trường đòi hỏi phải có sự liên kết với nhau trong sản xuất để sản xuất kinh doanh có năng suất, chất lượng và hiệu quả hơn so với kinh tế hộ đã làm.

Tháo gỡ cơ chế kinh tế là cần thiết, nhưng nó đòi hỏi phải có lực lượng sản xuất phát triển thì việc tháo gỡ cơ chế mới có hiệu quả. Tình trạng hiện nay ruộng đất quá manh mún và hạn mức đất có hạn thì không thể phát triển kinh tế hộ khá hơn. Do đó, muốn nâng cao năng suất lao động phải chống tình trạng manh mún ruộng đất, quy hoạch cải tạo đồng ruộng, từng bước thực hiện công nghiệp hóa và đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, song song với việc phân công lại lao động tạo ra hình thức sản xuất đa dạng của kinh tế hộ và hình thành sự liên kết sản xuất. Chi phối quy mô tích tụ ruộng đất và sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp có ba yếu tố chính là phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, phát triển dịch vụ sản xuất trong nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ. Phối hợp tốt các yếu tố đó sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa với giá trị cao, phát huy sức mạnh của hộ nông dân.

4. Phát huy tính chủ động khai thác đất đai ngày càng có hiệu quả của các thành phần kinh tế

Nhu cầu sử dụng đất của các thành phần kinh tế và người dân có ý nghĩa cốt yếu gắn liền với các chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Ở nước CHDCND Lào, vấn đề này vô cùng quan trọng, vì 85% dân số ở nông thôn, làm nông nghiệp và nông nghiệp là cơ sở cho phát triển kinh tế, xã hội và mở ra thời kỳ mới thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ mới, Nhà nước CHDCND Lào đã ban hành Luật Đất đai năm 2003 quy định giao đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp và được thực hiện các quyền. Đây là một nhân tố quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển.

Nhưng khi thực hiện các quyền cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi nông nghiệp nữa. Các đối tượng sử dụng đất đều đòi thực hiện các quyền, thậm chí có đối tượng được Nhà nước giao đất không phải trả tiền sử dụng đất đã mang đất góp vốn liên doanh và mua bán tùy tiện vượt cả phạm vi pháp luật cho phép. Do đó, đòi hỏi phải quy định chặt chẽ, thống nhất nhà nước quản lý với các quyền của các đối tượng sử dụng đất để khỏi mất đất, mất tiền, mất cán bộ, gây rối loạn trong hệ thống tổ chức quản lý của các cấp.

Ngoài đối tượng được giao đất là các hộ gia đình, cá nhân nông dân trực tiếp sản xuất được thực hiện các quyền, thì các đối tượng khác được giao đất không phải nộp tiền sử dụng đất; giao đất phải nộp tiền sử dụng đất và thuê đất theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt cũng đều được hưởng các quyền tương ứng theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1997 và theo thủ tục thực hiện các quyền của từng đối tượng sử dụng đất cụ thể do Chính phủ quy định. Với các quy định như vậy, bảo đảm cơ chế pháp lý rõ ràng trong việc xử lý quan hệ giữa đất đai thuộc sở hữu toàn dân với quyền sử dụng đất của các đối tượng sử dụng đất, nhằm huy động các thành phần kinh tế khác có vốn, trí tuệ để khai thác những vùng đất hoang hóa, đất trống đồi núi trọc và huy động sức lao động theo quy định của Nhà nước. Đồng thời, có chính sách miễn giảm tiền thuê đất đối với những nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa để khai thác mọi tiềm năng của đất đai.

Đất đai là một trong bốn yếu tố của sản xuất và để phát triển sản xuất. Tuy vậy, trong cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất, mà còn là vốn và được chuyển dịch theo cơ chế kinh tế. Vì vậy, Nhà nước phải có những quy định chặt chẽ để không xảy ra những lộn xộn trong quản lý. Đồng thời, thông qua quản lý để điều tiết những khoản thu nhập phát sinh từ giá trị sử dụng đất của từng thời điểm cụ thể.

Chủ động tổ chức thị trường bất động sản. Điều 53 Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1997 đã cho phép hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp được thực hiện 5 quyền và Nhà nước xác định giá các loại đất. Đây cũng là vấn đề quan trọng, Nhà nước không thừa nhận có thị trường đất đai như hàng hóa thông thường. Nhưng trong cơ chế kinh tế thị trường, đất đai trở nên có giá và nó chuyển động theo cơ chế kinh tế mà pháp luật thừa nhận. Song do tổ chức chỉ đạo không nghiêm, thiếu chủ động, bị cơ chế kinh tế thị trường chi phối làm cho thị trường ngầm về đất đai phát triển và gây ra cơn sốt đất đai ở những năm 2005 - 2009. Nhưng từ khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết về quản lý và sử dụng đất của tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và Nghị định 32/CP ngày 05/11/2009 của Chính phủ quy định về việc thi hành Nghị quyết này, thì cơn sốt đất đai đã giảm đi rõ rệt, Nhà nước bước đầu đã chủ động điều tiết thị trường bất động sản. Đây là một vấn đề cần phải nghiên cứu hoàn chỉnh về chủ trương chủ động tổ chức thị trường bất động sản trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước không thừa nhận có thị trường đất đai như thị trường các hàng hóa thông thường khác. Nhưng đất đai lại có giá trị sử dụng và trong thực tế có sự chuyển nhượng. Vì thế, vấn đề đặt ra là mọi hoạt động chuyển nhượng đất đai đều phải qua sự kiểm soát của Nhà nước, tránh tình trạng để đất đai trôi nổi trong cơ chế kinh tế thị trường, bảo đảm thực hiện đúng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào là: “Chủ động tổ chức thị trường bất động sản”.

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Đây là một quan điểm thống nhất xuyên suốt trong quá trình xây dựng luật pháp và chính sách, đất đai phải thực sự góp phần điều chỉnh các chính sách kinh tế xã hội của đất nước để kinh tế ngày càng phát triển, công bằng xã hội ngày càng được bảo đảm.

Nhà nước CHDCND Lào đã có nhiều chính sách quản lý đất đai nhằm sử dụng đất đai có hiệu quả phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Trên cơ sở nắm chắc mục đích sử dụng trong từng thời kỳ, Nhà nước quy định hạn mức, thời gian sử dụng và quyết định thu hồi khi cần thiết, có chính sách đền bù theo quy định của pháp luật. Nhà nước cho phép các đối tượng sử dụng đất được chủ động sử dụng trong cơ chế kinh tế thị trường theo đúng quy định của pháp luật.

Trong những năm vừa qua, tình hình quản lý và sử dụng đất đai diễn biến phức tạp, gây tình trạng khiếu kiện, tranh chấp làm mất ổn định xã hội ở một số nơi, một mặt là do luật quy định còn chưa đầy đủ, mặt khác là do tổ chức thi hành luật của các ngành, các cấp chưa nghiêm, nhất là ở cơ sở. Do vậy, để bảo đảm thực hiện tốt vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và phát huy một cách có hiệu quả quyền của người sử dụng đất, trong thời gian tới, Nhà nước cần tập trung chỉ đạo làm tốt các yêu cầu sau:

- Việc ban hành các văn bản có liên quan đến đất đai của các ngành, các cấp đều phải tôn trọng và thể hiện đúng tinh thần các quy định của Luật Đất đai, không thể tùy tiện ra những quy định trái với Luật;

- Phải đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các đối tượng sử dụng đất, nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý sử dụng đất của từng đối tượng, hoàn thành hồ sơ ban đầu để nắm chắc tình hình đất đai và theo dõi chặt chẽ sự biến động;

- Thống nhất quản lý về mặt nhà nước đối với đất đai, tập trung và phân cấp rõ ràng, tránh tình trạng ngành nào, cấp nào cũng có quyền cấp đất. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của ngành chuyên môn trong công tác quản lý nhà nước về đất đai;

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm bớt phiền hà trong công tác quản lý để tạo cho người sử dụng đất thực hiện các quyền một cách dễ dàng. Quan trọng là tạo ra một mạng lưới thông tin thống nhất giữa các ngành: Địa chính, Thuế và Ngân hàng về số liệu, thủ tục thế chấp, chuyển nhượng đất đai.

Đất đai là một nguồn tài nguyên quý giá, là một tư liệu sản xuất đặc biệt mang ý nghĩa kinh tế, xã hội sâu sắc, nhạy cảm và phức tạp, do đó, cần đi sâu tổng kết để hoàn chỉnh Luật Đất đai và các văn bản dưới luật, vừa phục vụ những nhiệm vụ cấp bách, vừa bảo đảm ổn định lâu dài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

KhămLa LoVanXay

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: