Thứ sáu 13/03/2026 08:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về thẩm định giá trong dự thảo Luật Giá (sửa đổi)

Khi đề cập đến mô hình chủ thể thẩm định giá là đề cập đến hình thái pháp lý để tồn tại cho chủ thể thực hiện hoạt động trong một lĩnh vực nhất định, cụ thể trong trường hợp này là thẩm định giá.

Qua 10 năm thi hành Luật Giá năm 2012, Việt Nam đã có những bước đi dài, quản lý giá đã có thay đổi căn bản. Thay việc Nhà nước “quyết định giá” bằng việc “quản lý” giá nhằm bảo đảm giá cả phù hợp với thị trường, bảo vệ được lợi ích của các chủ thể. Tuy nhiên, cùng với thời gian, nhiều yếu tố mới phát sinh trong nền kinh tế, việc đánh giá lại Luật Giá năm 2012 và đi đến yêu cầu ban hành Luật Giá mới. Một trong những nội dung được quy định tại dự thảo Luật Giá (sửa đổi) là nhóm vấn đề liên quan đến thẩm định giá được điều chỉnh khá cụ thể và bám sát với yêu cầu thực tiễn.

1. Mô hình chủ thể thực hiện thẩm định giá

Khi đề cập đến mô hình chủ thể thẩm định giá là đề cập đến hình thái pháp lý để tồn tại cho chủ thể thực hiện hoạt động trong một lĩnh vực nhất định, cụ thể trong trường hợp này là thẩm định giá.

Chủ thể thực hiện thẩm định giá, dù là hoạt động mang tính nhà nước (thẩm định giá nhà nước) hay là hoạt động kinh doanh (doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thẩm định giá) đều được quy định khá cụ thể và gắn với trách nhiệm pháp lý của từng loại.

1.1. Về mô hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xác định giá hay thẩm định giá

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về mô hình kinh doanh dưới dạng doanh nghiệp bao gồm: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trở lên), công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. Quy định này áp dụng đối với tất cả các chủ thể có nhu cầu hình thành mô hình kinh doanh dưới dạng doanh nghiệp. Đối với các lĩnh vực kinh doanh đặc thù, pháp luật các quốc gia trong đó có Việt Nam quy định về mô hình kinh doanh có thể được hiện diện. Kinh doanh trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) luôn xác định cụ thể các hình thức doanh nghiệp có thể thực hiện. Luật Giá năm 2012 quy định mô hình doanh nghiệp thẩm định giá có thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều này cũng là phù hợp với mục tiêu phát triển thị trường lành mạnh.

Theo dự thảo Luật Giá (sửa đổi), chủ thể cung cấp dịch vụ thẩm định giá tồn tại dưới hình thức theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Bên cạnh đó, dự thảo Luật quy định doanh nghiệp thẩm định giá phải có ít nhất 02 cổ đông/02thành viên góp vốn là thẩm định viên; tổng số vốn góp của các cổ đông/thành viên này phải trên 50% vốn điều lệ. Vấn đề đặt ra là: Những quy định về cổ đông/thành viên góp vốn phải là thẩm định viên (cá nhân) chỉ áp dụng đối với giai đoạn thành lập doanh nghiệp hay suốt quá trình kinh doanh; quy định về tỷ lệ nắm giữ vốn tối thiểu của cổ đông/thành viên nhưng các doanh nghiệp này có thể là các công ty đại chúng được không?

Bên cạnh việc ủng hộ (có đề xuất chỉnh sửa) việc ghi nhận mô hình công ty đối vốn tham gia hoạt động thẩm định giá, tác giả cũng còn băn khoăn đối với mô hình công ty đối nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh). Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, công ty hợp danh cũng có tư cách pháp nhân (khoản 2 Điều 177), không giống như doanh nghiệp tư nhân (Điều 188), như vậy, năng lực chịu trách nhiệm ở góc độ tài chính - tài sản có những hạn chế nhất định. Mặc dù dự thảo Luật Giá (sửa đổi) có những quy định liên quan đến mua bảo hiểm bắt buộc và trích lập các quỹ dự phòng nhưng tác giả cho rằng như vậy là chưa đủ. Đối với công ty đối nhân cũng cần có biện pháp xác định khả năng tài chính vì vấn đề chịu trách nhiệm đến cùng bằng tài sản của thành viên hay chủ doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đảm đương được. Vậy, có nên đặt ra vấn đề ký quỹ hay mua bảo hiểm nghề nghiệp bắt buộc với mức khác biệt so với các mô hình công ty đối vốn hay không? Trường hợp này đặc biệt cần thiết đối với hoạt động thẩm định giá, khi giá trị doanh nghiệp có những điểm “khó” nhất định.

Cũng gắn với mô hình chủ thể cung cấp dịch vụ, việc loại bỏ những quy định liên quan đến tổ chức định giá có yếu tố nước ngoài cũng nên cân nhắc lại[1]. Bởi lẽ, tác giả nhận thấy mặc dù hiện tại “không phát sinh” nhưng không có nghĩa là không có khả năng xảy ra trong tương lai. Thêm nữa, trường hợp các tổ chức Việt Nam có nhu cầu thuê định giá từ các tổ chức định giá nước ngoài, vấn đề này sẽ được giải quyết thế nào, đặc biệt đối với các trường hợp doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu thuê tổ chức định giá nước ngoài để thực hiện kế hoạch niêm yết tại thị trường chứng khoán ngoài lãnh thổ Việt Nam? Pháp luật Việt Nam cũng đã từng đề cập đến trường hợp “doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam”[2] trong quan hệ về thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và không chỉ có thuế thu nhập doanh nghiệp mà còn các loại thuế và nghĩa vụ tài chính khác[3]. Tuy nhiên, những quy định này chỉ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế của bên nước ngoài có kinh doanh (cung ứng dịch vụ, trong đó có dịch vụ thẩm định giá), mà chưa quy định về điều kiện để cho bên nước ngoài thực hiện các hoạt động này tại Việt Nam. Vì vậy, cần phải quy định cụ thể trong Luật Giá các vấn đề về chủ thể định giá có yếu tố nước ngoài, bao gồm mô hình và các cách thức hiện diện tại Việt Nam.

1.2. Về thẩm định giá của Nhà nước

Quy định về thẩm định giá của Nhà nước tại dự thảo Luật Giá (sửa đổi) có một số nội dung cần được làm rõ như sau:

Thứ nhất, liên quan đến phạm vi tài sản được thẩm định giá, dự thảo xác định các loại tài sản cần được Nhà nước thẩm định giá nhưng dường như chưa đủ. Câu hỏi đặt ra là, có đặt ra yêu cầu thẩm định lại các kết luận của doanh nghiệp cung cấp kết quả thẩm định giá trong những trường hợp có dấu hiệu bất thường, có thể ảnh hưởng tới lợi ích của phía Nhà nước hoặc ảnh hưởng tới cộng đồng hay không? Đây là yêu cầu mang tính thực tiễn, đặc biệt trong giai đoạn cụ thể hiện nay, khi chúng ta nói đến những vụ việc lớn về giá của thiết bị, máy móc trong lĩnh vực y tế. Trong lĩnh vực ngân hàng, việc thẩm định có thể chưa đủ, mà còn phải thực hiện “tái thẩm định” bởi nhiều hội đồng khác nhau. Cơ chế tái thẩm định trong chừng mực nhất định sẽ giải quyết được những vấn đề tồn tại trong xã hội thời gian qua.

Thứ hai, về công bố kết quả thẩm định giá của Nhà nước còn có điểm chưa rõ ràng, chưa thể hiện được yêu cầu công khai, minh bạch, nên điều chỉnh lại cho phù hợp. Dự thảo đề cập đến “kết luận của Hội đồng thẩm định giá Nhà nước”, tuy nhiên, nội dung của kết luận này bao gồm những thông tin nào cần được công bố thì chưa được quy định. Dự thảo đề cập đến việc cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giá nhưng lại không quy định rõ khi nào thì cập nhật, thời gian tối đa phải cập nhật là bao lâu kể từ thời điểm có kết quả thẩm định. Chính những điều này làm giảm yếu tố công khai của kết luận và chưa bảo đảm nguyên tắc minh bạch của Luật Giá.

Vì vậy, tác giả đề xuất cần quy định cụ thể hơn về mô hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá và thẩm định giá của Nhà nước.

2. Hoạt động thẩm định giá

Là lĩnh vực đặc thù, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như các quốc gia trên thế giới đều quy định chủ thể cung cấp dịch vụ thẩm định giá và Hội đồng thẩm định giá nhà nước phải đạt được những điều kiện tối thiểu. Luật Giá năm 2012 và các văn bản hướng dẫn đã quy định khá cụ thể. Tại dự thảo Luật Giá (sửa đổi) có đề cập đến nội dung hoạt động của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá, nhiệm vụ của hội đồng thẩm định giá do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Về vấn đề này, có một số nội dung cần được làm rõ như sau:

Thứ nhất, về tên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá: Dự thảo Luật Giá (sửa đổi) quy định, ttrường hợp doanh nghiệp không được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá thì không được sử dụng cụm từ “thẩm định giá” trong tên gọi của doanh nghiệp. Như vậy, có thể hiểu, việc sử dụng cụm từ “thẩm định giá” là quyền của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có thể đặt ra câu hỏi, nếu doanh nghiệp không sử dụng cụm từ này trong tên doanh nghiệp thì có trái quy định của pháp luật không? Tác giả không nhận thấy tại dự thảo có quy định bắt buộc về vấn đề này.

Thứ hai, về nội dung kinh doanh: Nếu doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện hoạt động thẩm định giá, đã có “giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá” thì có được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh khác hay không? Dự thảo không đề cập đến việc doanh nghiệp loại này chỉ được thực hiện hoạt động thẩm định giá. Tác giả cho rằng, đây là nội dung quan trọng cần được làm rõ vì chúng liên quan đến việc sử dụng tài chính, tài sản của doanh nghiệp, nguồn tài chính có bảo đảm cho việc thực hiện hoạt động của doanh nghiệp hay không. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đặc thù như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, pháp luật đều quy định rõ về vấn đề này. Vậy, đối với doanh nghiệp có hoạt động thẩm định giá, có nên quy định cụ thể hơn về lĩnh vực kinh doanh hay không?

Thứ ba, về phương thức giải quyết tranh chấp: Dự thảo đề cập đến phương thức giải quyết bằng trọng tài thương mại. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật đã quy định về hòa giải thương mại[4] và cách thức giải quyết này đã đi vào thực tế đời sống kinh doanh[5] nhưng việc giải quyết bằng con đường hòa giải thương mại chỉ có thể thực hiện khi phương thức này được ghi nhận tại thỏa thuận về thẩm định giá của các bên[6]. Vì vậy, cần bổ sung hình thức giải quyết tranh chấp này như một trong các phương án mà các bên có thể lựa chọn (ghi nhận tại hợp đồng cung ứng dịch vụ thẩm định giá).

PGS.TS. Phạm Thị Giang Thu
Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Tờ trình số 179/TTr-BTC ngày 17/8/2022 của Bộ Tài chính trình Chính phủ về dự thảo Luật Giá (sửa đổi).

[2] Điểm d khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, năm 2015) và các văn bản hướng dẫn thi hành.

[3] Điều 5 Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam.

[4] Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại.

[5] Xem: Sài Gòn Giải Phóng Online (2017), Phân biệt hòa giải thương mại và trọng tài thương mại, https://www.sggp.org.vn/phan-biet-hoa-giai-thuong-mai-va-trong-tai-thuong-mai-479971.html, truy cập ngày 20 20/7/2022.

[6] Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: