Thứ hai 24/08/2026 13:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về thẩm định giá trong dự thảo Luật Giá (sửa đổi)

Khi đề cập đến mô hình chủ thể thẩm định giá là đề cập đến hình thái pháp lý để tồn tại cho chủ thể thực hiện hoạt động trong một lĩnh vực nhất định, cụ thể trong trường hợp này là thẩm định giá.

Qua 10 năm thi hành Luật Giá năm 2012, Việt Nam đã có những bước đi dài, quản lý giá đã có thay đổi căn bản. Thay việc Nhà nước “quyết định giá” bằng việc “quản lý” giá nhằm bảo đảm giá cả phù hợp với thị trường, bảo vệ được lợi ích của các chủ thể. Tuy nhiên, cùng với thời gian, nhiều yếu tố mới phát sinh trong nền kinh tế, việc đánh giá lại Luật Giá năm 2012 và đi đến yêu cầu ban hành Luật Giá mới. Một trong những nội dung được quy định tại dự thảo Luật Giá (sửa đổi) là nhóm vấn đề liên quan đến thẩm định giá được điều chỉnh khá cụ thể và bám sát với yêu cầu thực tiễn.

1. Mô hình chủ thể thực hiện thẩm định giá

Khi đề cập đến mô hình chủ thể thẩm định giá là đề cập đến hình thái pháp lý để tồn tại cho chủ thể thực hiện hoạt động trong một lĩnh vực nhất định, cụ thể trong trường hợp này là thẩm định giá.

Chủ thể thực hiện thẩm định giá, dù là hoạt động mang tính nhà nước (thẩm định giá nhà nước) hay là hoạt động kinh doanh (doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thẩm định giá) đều được quy định khá cụ thể và gắn với trách nhiệm pháp lý của từng loại.

1.1. Về mô hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xác định giá hay thẩm định giá

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về mô hình kinh doanh dưới dạng doanh nghiệp bao gồm: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trở lên), công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. Quy định này áp dụng đối với tất cả các chủ thể có nhu cầu hình thành mô hình kinh doanh dưới dạng doanh nghiệp. Đối với các lĩnh vực kinh doanh đặc thù, pháp luật các quốc gia trong đó có Việt Nam quy định về mô hình kinh doanh có thể được hiện diện. Kinh doanh trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) luôn xác định cụ thể các hình thức doanh nghiệp có thể thực hiện. Luật Giá năm 2012 quy định mô hình doanh nghiệp thẩm định giá có thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều này cũng là phù hợp với mục tiêu phát triển thị trường lành mạnh.

Theo dự thảo Luật Giá (sửa đổi), chủ thể cung cấp dịch vụ thẩm định giá tồn tại dưới hình thức theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Bên cạnh đó, dự thảo Luật quy định doanh nghiệp thẩm định giá phải có ít nhất 02 cổ đông/02thành viên góp vốn là thẩm định viên; tổng số vốn góp của các cổ đông/thành viên này phải trên 50% vốn điều lệ. Vấn đề đặt ra là: Những quy định về cổ đông/thành viên góp vốn phải là thẩm định viên (cá nhân) chỉ áp dụng đối với giai đoạn thành lập doanh nghiệp hay suốt quá trình kinh doanh; quy định về tỷ lệ nắm giữ vốn tối thiểu của cổ đông/thành viên nhưng các doanh nghiệp này có thể là các công ty đại chúng được không?

Bên cạnh việc ủng hộ (có đề xuất chỉnh sửa) việc ghi nhận mô hình công ty đối vốn tham gia hoạt động thẩm định giá, tác giả cũng còn băn khoăn đối với mô hình công ty đối nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh). Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, công ty hợp danh cũng có tư cách pháp nhân (khoản 2 Điều 177), không giống như doanh nghiệp tư nhân (Điều 188), như vậy, năng lực chịu trách nhiệm ở góc độ tài chính - tài sản có những hạn chế nhất định. Mặc dù dự thảo Luật Giá (sửa đổi) có những quy định liên quan đến mua bảo hiểm bắt buộc và trích lập các quỹ dự phòng nhưng tác giả cho rằng như vậy là chưa đủ. Đối với công ty đối nhân cũng cần có biện pháp xác định khả năng tài chính vì vấn đề chịu trách nhiệm đến cùng bằng tài sản của thành viên hay chủ doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đảm đương được. Vậy, có nên đặt ra vấn đề ký quỹ hay mua bảo hiểm nghề nghiệp bắt buộc với mức khác biệt so với các mô hình công ty đối vốn hay không? Trường hợp này đặc biệt cần thiết đối với hoạt động thẩm định giá, khi giá trị doanh nghiệp có những điểm “khó” nhất định.

Cũng gắn với mô hình chủ thể cung cấp dịch vụ, việc loại bỏ những quy định liên quan đến tổ chức định giá có yếu tố nước ngoài cũng nên cân nhắc lại[1]. Bởi lẽ, tác giả nhận thấy mặc dù hiện tại “không phát sinh” nhưng không có nghĩa là không có khả năng xảy ra trong tương lai. Thêm nữa, trường hợp các tổ chức Việt Nam có nhu cầu thuê định giá từ các tổ chức định giá nước ngoài, vấn đề này sẽ được giải quyết thế nào, đặc biệt đối với các trường hợp doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu thuê tổ chức định giá nước ngoài để thực hiện kế hoạch niêm yết tại thị trường chứng khoán ngoài lãnh thổ Việt Nam? Pháp luật Việt Nam cũng đã từng đề cập đến trường hợp “doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam”[2] trong quan hệ về thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và không chỉ có thuế thu nhập doanh nghiệp mà còn các loại thuế và nghĩa vụ tài chính khác[3]. Tuy nhiên, những quy định này chỉ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế của bên nước ngoài có kinh doanh (cung ứng dịch vụ, trong đó có dịch vụ thẩm định giá), mà chưa quy định về điều kiện để cho bên nước ngoài thực hiện các hoạt động này tại Việt Nam. Vì vậy, cần phải quy định cụ thể trong Luật Giá các vấn đề về chủ thể định giá có yếu tố nước ngoài, bao gồm mô hình và các cách thức hiện diện tại Việt Nam.

1.2. Về thẩm định giá của Nhà nước

Quy định về thẩm định giá của Nhà nước tại dự thảo Luật Giá (sửa đổi) có một số nội dung cần được làm rõ như sau:

Thứ nhất, liên quan đến phạm vi tài sản được thẩm định giá, dự thảo xác định các loại tài sản cần được Nhà nước thẩm định giá nhưng dường như chưa đủ. Câu hỏi đặt ra là, có đặt ra yêu cầu thẩm định lại các kết luận của doanh nghiệp cung cấp kết quả thẩm định giá trong những trường hợp có dấu hiệu bất thường, có thể ảnh hưởng tới lợi ích của phía Nhà nước hoặc ảnh hưởng tới cộng đồng hay không? Đây là yêu cầu mang tính thực tiễn, đặc biệt trong giai đoạn cụ thể hiện nay, khi chúng ta nói đến những vụ việc lớn về giá của thiết bị, máy móc trong lĩnh vực y tế. Trong lĩnh vực ngân hàng, việc thẩm định có thể chưa đủ, mà còn phải thực hiện “tái thẩm định” bởi nhiều hội đồng khác nhau. Cơ chế tái thẩm định trong chừng mực nhất định sẽ giải quyết được những vấn đề tồn tại trong xã hội thời gian qua.

Thứ hai, về công bố kết quả thẩm định giá của Nhà nước còn có điểm chưa rõ ràng, chưa thể hiện được yêu cầu công khai, minh bạch, nên điều chỉnh lại cho phù hợp. Dự thảo đề cập đến “kết luận của Hội đồng thẩm định giá Nhà nước”, tuy nhiên, nội dung của kết luận này bao gồm những thông tin nào cần được công bố thì chưa được quy định. Dự thảo đề cập đến việc cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giá nhưng lại không quy định rõ khi nào thì cập nhật, thời gian tối đa phải cập nhật là bao lâu kể từ thời điểm có kết quả thẩm định. Chính những điều này làm giảm yếu tố công khai của kết luận và chưa bảo đảm nguyên tắc minh bạch của Luật Giá.

Vì vậy, tác giả đề xuất cần quy định cụ thể hơn về mô hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá và thẩm định giá của Nhà nước.

2. Hoạt động thẩm định giá

Là lĩnh vực đặc thù, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như các quốc gia trên thế giới đều quy định chủ thể cung cấp dịch vụ thẩm định giá và Hội đồng thẩm định giá nhà nước phải đạt được những điều kiện tối thiểu. Luật Giá năm 2012 và các văn bản hướng dẫn đã quy định khá cụ thể. Tại dự thảo Luật Giá (sửa đổi) có đề cập đến nội dung hoạt động của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá, nhiệm vụ của hội đồng thẩm định giá do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Về vấn đề này, có một số nội dung cần được làm rõ như sau:

Thứ nhất, về tên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá: Dự thảo Luật Giá (sửa đổi) quy định, ttrường hợp doanh nghiệp không được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá thì không được sử dụng cụm từ “thẩm định giá” trong tên gọi của doanh nghiệp. Như vậy, có thể hiểu, việc sử dụng cụm từ “thẩm định giá” là quyền của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có thể đặt ra câu hỏi, nếu doanh nghiệp không sử dụng cụm từ này trong tên doanh nghiệp thì có trái quy định của pháp luật không? Tác giả không nhận thấy tại dự thảo có quy định bắt buộc về vấn đề này.

Thứ hai, về nội dung kinh doanh: Nếu doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện hoạt động thẩm định giá, đã có “giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá” thì có được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh khác hay không? Dự thảo không đề cập đến việc doanh nghiệp loại này chỉ được thực hiện hoạt động thẩm định giá. Tác giả cho rằng, đây là nội dung quan trọng cần được làm rõ vì chúng liên quan đến việc sử dụng tài chính, tài sản của doanh nghiệp, nguồn tài chính có bảo đảm cho việc thực hiện hoạt động của doanh nghiệp hay không. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đặc thù như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, pháp luật đều quy định rõ về vấn đề này. Vậy, đối với doanh nghiệp có hoạt động thẩm định giá, có nên quy định cụ thể hơn về lĩnh vực kinh doanh hay không?

Thứ ba, về phương thức giải quyết tranh chấp: Dự thảo đề cập đến phương thức giải quyết bằng trọng tài thương mại. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật đã quy định về hòa giải thương mại[4] và cách thức giải quyết này đã đi vào thực tế đời sống kinh doanh[5] nhưng việc giải quyết bằng con đường hòa giải thương mại chỉ có thể thực hiện khi phương thức này được ghi nhận tại thỏa thuận về thẩm định giá của các bên[6]. Vì vậy, cần bổ sung hình thức giải quyết tranh chấp này như một trong các phương án mà các bên có thể lựa chọn (ghi nhận tại hợp đồng cung ứng dịch vụ thẩm định giá).

PGS.TS. Phạm Thị Giang Thu
Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Tờ trình số 179/TTr-BTC ngày 17/8/2022 của Bộ Tài chính trình Chính phủ về dự thảo Luật Giá (sửa đổi).

[2] Điểm d khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, năm 2015) và các văn bản hướng dẫn thi hành.

[3] Điều 5 Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam.

[4] Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại.

[5] Xem: Sài Gòn Giải Phóng Online (2017), Phân biệt hòa giải thương mại và trọng tài thương mại, https://www.sggp.org.vn/phan-biet-hoa-giai-thuong-mai-va-trong-tai-thuong-mai-479971.html, truy cập ngày 20 20/7/2022.

[6] Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: