Thứ hai 25/05/2026 14:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về thẩm định giá trong dự thảo Luật Giá (sửa đổi)

Khi đề cập đến mô hình chủ thể thẩm định giá là đề cập đến hình thái pháp lý để tồn tại cho chủ thể thực hiện hoạt động trong một lĩnh vực nhất định, cụ thể trong trường hợp này là thẩm định giá.

Qua 10 năm thi hành Luật Giá năm 2012, Việt Nam đã có những bước đi dài, quản lý giá đã có thay đổi căn bản. Thay việc Nhà nước “quyết định giá” bằng việc “quản lý” giá nhằm bảo đảm giá cả phù hợp với thị trường, bảo vệ được lợi ích của các chủ thể. Tuy nhiên, cùng với thời gian, nhiều yếu tố mới phát sinh trong nền kinh tế, việc đánh giá lại Luật Giá năm 2012 và đi đến yêu cầu ban hành Luật Giá mới. Một trong những nội dung được quy định tại dự thảo Luật Giá (sửa đổi) là nhóm vấn đề liên quan đến thẩm định giá được điều chỉnh khá cụ thể và bám sát với yêu cầu thực tiễn.

1. Mô hình chủ thể thực hiện thẩm định giá

Khi đề cập đến mô hình chủ thể thẩm định giá là đề cập đến hình thái pháp lý để tồn tại cho chủ thể thực hiện hoạt động trong một lĩnh vực nhất định, cụ thể trong trường hợp này là thẩm định giá.

Chủ thể thực hiện thẩm định giá, dù là hoạt động mang tính nhà nước (thẩm định giá nhà nước) hay là hoạt động kinh doanh (doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thẩm định giá) đều được quy định khá cụ thể và gắn với trách nhiệm pháp lý của từng loại.

1.1. Về mô hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xác định giá hay thẩm định giá

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về mô hình kinh doanh dưới dạng doanh nghiệp bao gồm: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trở lên), công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. Quy định này áp dụng đối với tất cả các chủ thể có nhu cầu hình thành mô hình kinh doanh dưới dạng doanh nghiệp. Đối với các lĩnh vực kinh doanh đặc thù, pháp luật các quốc gia trong đó có Việt Nam quy định về mô hình kinh doanh có thể được hiện diện. Kinh doanh trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) luôn xác định cụ thể các hình thức doanh nghiệp có thể thực hiện. Luật Giá năm 2012 quy định mô hình doanh nghiệp thẩm định giá có thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều này cũng là phù hợp với mục tiêu phát triển thị trường lành mạnh.

Theo dự thảo Luật Giá (sửa đổi), chủ thể cung cấp dịch vụ thẩm định giá tồn tại dưới hình thức theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Bên cạnh đó, dự thảo Luật quy định doanh nghiệp thẩm định giá phải có ít nhất 02 cổ đông/02thành viên góp vốn là thẩm định viên; tổng số vốn góp của các cổ đông/thành viên này phải trên 50% vốn điều lệ. Vấn đề đặt ra là: Những quy định về cổ đông/thành viên góp vốn phải là thẩm định viên (cá nhân) chỉ áp dụng đối với giai đoạn thành lập doanh nghiệp hay suốt quá trình kinh doanh; quy định về tỷ lệ nắm giữ vốn tối thiểu của cổ đông/thành viên nhưng các doanh nghiệp này có thể là các công ty đại chúng được không?

Bên cạnh việc ủng hộ (có đề xuất chỉnh sửa) việc ghi nhận mô hình công ty đối vốn tham gia hoạt động thẩm định giá, tác giả cũng còn băn khoăn đối với mô hình công ty đối nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh). Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, công ty hợp danh cũng có tư cách pháp nhân (khoản 2 Điều 177), không giống như doanh nghiệp tư nhân (Điều 188), như vậy, năng lực chịu trách nhiệm ở góc độ tài chính - tài sản có những hạn chế nhất định. Mặc dù dự thảo Luật Giá (sửa đổi) có những quy định liên quan đến mua bảo hiểm bắt buộc và trích lập các quỹ dự phòng nhưng tác giả cho rằng như vậy là chưa đủ. Đối với công ty đối nhân cũng cần có biện pháp xác định khả năng tài chính vì vấn đề chịu trách nhiệm đến cùng bằng tài sản của thành viên hay chủ doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đảm đương được. Vậy, có nên đặt ra vấn đề ký quỹ hay mua bảo hiểm nghề nghiệp bắt buộc với mức khác biệt so với các mô hình công ty đối vốn hay không? Trường hợp này đặc biệt cần thiết đối với hoạt động thẩm định giá, khi giá trị doanh nghiệp có những điểm “khó” nhất định.

Cũng gắn với mô hình chủ thể cung cấp dịch vụ, việc loại bỏ những quy định liên quan đến tổ chức định giá có yếu tố nước ngoài cũng nên cân nhắc lại[1]. Bởi lẽ, tác giả nhận thấy mặc dù hiện tại “không phát sinh” nhưng không có nghĩa là không có khả năng xảy ra trong tương lai. Thêm nữa, trường hợp các tổ chức Việt Nam có nhu cầu thuê định giá từ các tổ chức định giá nước ngoài, vấn đề này sẽ được giải quyết thế nào, đặc biệt đối với các trường hợp doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu thuê tổ chức định giá nước ngoài để thực hiện kế hoạch niêm yết tại thị trường chứng khoán ngoài lãnh thổ Việt Nam? Pháp luật Việt Nam cũng đã từng đề cập đến trường hợp “doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam”[2] trong quan hệ về thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và không chỉ có thuế thu nhập doanh nghiệp mà còn các loại thuế và nghĩa vụ tài chính khác[3]. Tuy nhiên, những quy định này chỉ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế của bên nước ngoài có kinh doanh (cung ứng dịch vụ, trong đó có dịch vụ thẩm định giá), mà chưa quy định về điều kiện để cho bên nước ngoài thực hiện các hoạt động này tại Việt Nam. Vì vậy, cần phải quy định cụ thể trong Luật Giá các vấn đề về chủ thể định giá có yếu tố nước ngoài, bao gồm mô hình và các cách thức hiện diện tại Việt Nam.

1.2. Về thẩm định giá của Nhà nước

Quy định về thẩm định giá của Nhà nước tại dự thảo Luật Giá (sửa đổi) có một số nội dung cần được làm rõ như sau:

Thứ nhất, liên quan đến phạm vi tài sản được thẩm định giá, dự thảo xác định các loại tài sản cần được Nhà nước thẩm định giá nhưng dường như chưa đủ. Câu hỏi đặt ra là, có đặt ra yêu cầu thẩm định lại các kết luận của doanh nghiệp cung cấp kết quả thẩm định giá trong những trường hợp có dấu hiệu bất thường, có thể ảnh hưởng tới lợi ích của phía Nhà nước hoặc ảnh hưởng tới cộng đồng hay không? Đây là yêu cầu mang tính thực tiễn, đặc biệt trong giai đoạn cụ thể hiện nay, khi chúng ta nói đến những vụ việc lớn về giá của thiết bị, máy móc trong lĩnh vực y tế. Trong lĩnh vực ngân hàng, việc thẩm định có thể chưa đủ, mà còn phải thực hiện “tái thẩm định” bởi nhiều hội đồng khác nhau. Cơ chế tái thẩm định trong chừng mực nhất định sẽ giải quyết được những vấn đề tồn tại trong xã hội thời gian qua.

Thứ hai, về công bố kết quả thẩm định giá của Nhà nước còn có điểm chưa rõ ràng, chưa thể hiện được yêu cầu công khai, minh bạch, nên điều chỉnh lại cho phù hợp. Dự thảo đề cập đến “kết luận của Hội đồng thẩm định giá Nhà nước”, tuy nhiên, nội dung của kết luận này bao gồm những thông tin nào cần được công bố thì chưa được quy định. Dự thảo đề cập đến việc cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giá nhưng lại không quy định rõ khi nào thì cập nhật, thời gian tối đa phải cập nhật là bao lâu kể từ thời điểm có kết quả thẩm định. Chính những điều này làm giảm yếu tố công khai của kết luận và chưa bảo đảm nguyên tắc minh bạch của Luật Giá.

Vì vậy, tác giả đề xuất cần quy định cụ thể hơn về mô hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá và thẩm định giá của Nhà nước.

2. Hoạt động thẩm định giá

Là lĩnh vực đặc thù, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như các quốc gia trên thế giới đều quy định chủ thể cung cấp dịch vụ thẩm định giá và Hội đồng thẩm định giá nhà nước phải đạt được những điều kiện tối thiểu. Luật Giá năm 2012 và các văn bản hướng dẫn đã quy định khá cụ thể. Tại dự thảo Luật Giá (sửa đổi) có đề cập đến nội dung hoạt động của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá, nhiệm vụ của hội đồng thẩm định giá do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Về vấn đề này, có một số nội dung cần được làm rõ như sau:

Thứ nhất, về tên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá: Dự thảo Luật Giá (sửa đổi) quy định, ttrường hợp doanh nghiệp không được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá thì không được sử dụng cụm từ “thẩm định giá” trong tên gọi của doanh nghiệp. Như vậy, có thể hiểu, việc sử dụng cụm từ “thẩm định giá” là quyền của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có thể đặt ra câu hỏi, nếu doanh nghiệp không sử dụng cụm từ này trong tên doanh nghiệp thì có trái quy định của pháp luật không? Tác giả không nhận thấy tại dự thảo có quy định bắt buộc về vấn đề này.

Thứ hai, về nội dung kinh doanh: Nếu doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện hoạt động thẩm định giá, đã có “giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá” thì có được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh khác hay không? Dự thảo không đề cập đến việc doanh nghiệp loại này chỉ được thực hiện hoạt động thẩm định giá. Tác giả cho rằng, đây là nội dung quan trọng cần được làm rõ vì chúng liên quan đến việc sử dụng tài chính, tài sản của doanh nghiệp, nguồn tài chính có bảo đảm cho việc thực hiện hoạt động của doanh nghiệp hay không. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đặc thù như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, pháp luật đều quy định rõ về vấn đề này. Vậy, đối với doanh nghiệp có hoạt động thẩm định giá, có nên quy định cụ thể hơn về lĩnh vực kinh doanh hay không?

Thứ ba, về phương thức giải quyết tranh chấp: Dự thảo đề cập đến phương thức giải quyết bằng trọng tài thương mại. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật đã quy định về hòa giải thương mại[4] và cách thức giải quyết này đã đi vào thực tế đời sống kinh doanh[5] nhưng việc giải quyết bằng con đường hòa giải thương mại chỉ có thể thực hiện khi phương thức này được ghi nhận tại thỏa thuận về thẩm định giá của các bên[6]. Vì vậy, cần bổ sung hình thức giải quyết tranh chấp này như một trong các phương án mà các bên có thể lựa chọn (ghi nhận tại hợp đồng cung ứng dịch vụ thẩm định giá).

PGS.TS. Phạm Thị Giang Thu
Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Tờ trình số 179/TTr-BTC ngày 17/8/2022 của Bộ Tài chính trình Chính phủ về dự thảo Luật Giá (sửa đổi).

[2] Điểm d khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, năm 2015) và các văn bản hướng dẫn thi hành.

[3] Điều 5 Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam.

[4] Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại.

[5] Xem: Sài Gòn Giải Phóng Online (2017), Phân biệt hòa giải thương mại và trọng tài thương mại, https://www.sggp.org.vn/phan-biet-hoa-giai-thuong-mai-va-trong-tai-thuong-mai-479971.html, truy cập ngày 20 20/7/2022.

[6] Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: