Thứ bảy 02/05/2026 23:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về triển khai Luật Hộ tịch

Giảm nhiều giấy tờ không cần thiết, tăng cường xuất trình bản chính giấy tờ, hạn chế tối đa việc sao chụp, đặc biệt quy định chỉ cấp 02 loại bản chính Giấy khai sinh và Giấy chứng nhận kết hôn, còn các sự kiện hộ tịch khác sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký, người yêu cầu đăng ký hộ tịch được cấp trích lục hộ tịch tương ứng với từng sự kiện hộ tịch đã đăng ký, bản chính trích lục hộ tịch được chứng thực bản sao.

Hộ tịch là những sự kiện như khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, xác định và nhận cha, mẹ, con… xác nhận tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết; đăng ký hộ tịch là việc xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch những sự kiện hộ tịch. Trước đây, đăng ký và quản lý hộ tịch chủ yếu được điều chỉnh bởi Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch; Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực. Đến nay, Quốc hội đã thông qua Luật Hộ tịch vào ngày 20/11/2014 và Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016. Đây là bước đột phá về thể chế của công tác hộ tịch, là cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, là cơ sở quan trọng để xây dựng hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Luật Hộ tịch năm 2014 có nhiều nội dung mới cải cách mạnh mẽ công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nói riêng và quản lý dân cư nói chung.

Trong phạm vi bài viết, tác giả xin nêu những điểm mới nổi bật và đề cập một số vấn đề khi triển khai, thực hiện Luật Hộ tịch năm 2014.

1. Thủ tục đăng ký hộ tịch

Theo quy định tại Luật Hộ tịch năm 2014, thủ tục đăng ký hộ tịch được đơn giản, tạo nhiều thuận lợi cho người dân như:

Giảm nhiều giấy tờ không cần thiết, tăng cường xuất trình bản chính giấy tờ, hạn chế tối đa việc sao chụp, đặc biệt quy định chỉ cấp 02 loại bản chính Giấy khai sinh và Giấy chứng nhận kết hôn, còn các sự kiện hộ tịch khác sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký, người yêu cầu đăng ký hộ tịch được cấp trích lục hộ tịch tương ứng với từng sự kiện hộ tịch đã đăng ký, bản chính trích lục hộ tịch được chứng thực bản sao.

Giảm thời hạn giải quyết đối với hầu hết các việc hộ tịch, những việc hộ tịch đơn giản, Luật quy định được giải quyết ngay trong ngày, trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo.

Người dân có thể lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch mà không phụ thuộc vào nơi cư trú như trước đây: Có thể lựa chọn đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống, không nhất thiết phải theo thứ tự ưu tiên nơi đăng ký thường trú. Bên cạnh đó, Luật cũng cho phép được lựa chọn đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú của cha hoặc mẹ thay vì quy định ưu tiên nơi cư trú của mẹ như trước.

Việc nộp hồ sơ đăng ký hộ tịch có thể lựa chọn nộp trực tiếp cho cơ quan đăng ký hộ tịch hoặc gửi qua bưu chính hoặc qua hệ thống đăng ký trực tuyến. Khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được hoàn thành và liên thông với nhau thì việc giải quyết các vấn đề hộ tịch qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến sẽ bảo đảm nhanh chóng, gọn nhẹ và giảm thiểu chi phí, thời gian trong thực hiện thủ tục hành chính về hộ tịch

Tuy nhiên, những quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 về thủ tục đăng ký hộ tịch cũng sẽ nảy sinh một số vấn đề:

- Việc quy định được lựa chọn nơi đăng ký hộ tịch tạo ra áp lực không nhỏ đối với cơ quan hộ tịch ở những địa phương mà có nhiều người tạm trú, người đang sinh sống không có hộ khẩu thường trú. Đây là điều mà Ủy ban nhân dân cấp xã nhiều địa phương đang rất lo lắng. Theo đó, không những lượng công việc sẽ tăng lên đáng kể, mà độ phức tạp của công việc cũng vì thế mà tăng theo. Những người không có hộ khẩu thường trú sẽ dễ thường xuyên biến động, gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như thực hiện việc đăng ký hộ tịch.

- Với tình trạng cán bộ và lượng công việc như hiện nay, thì quy định giảm thời hạn giải quyết đăng ký hộ tịch sẽ khó tránh khỏi việc trễ hẹn, tạo sự bức xúc cho người dân. Quy định rút ngắn thời hạn là quy định tích cực, mang tính cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, nhưng cùng với đó thì chúng ta cũng cần phải giải quyết phù hợp về số lượng, về khoản bồi dưỡng cho cán bộ để khuyến khích họ tâm huyết, nhiệt tình giải quyết tốt công việc.

- Thói quen của người đi đăng ký khai sinh thường là đồng thời đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi đó, nên khi quy định về việc được đăng ký khai sinh tại cơ quan đăng ký nơi tạm trú, nơi đang sinh sống thì nhiều khi người dân chỉ thực hiện đăng ký khai sinh mà quên làm thêm thủ tục về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.

- Việc quy định yêu cầu người đi đăng ký hộ tịch ký tên vào Sổ hộ tịch trong trường hợp nộp hồ sơ qua bưu chính, hệ thống trực tuyến mà không trực tiếp đi đăng ký cũng gây lúng túng cho cơ quan, cán bộ hộ tịch nếu không có hướng dẫn cụ thể.

Những khó khăn trên đòi hỏi cán bộ hộ tịch phải rất linh hoạt, có trách nhiệm thì mới có thể giải quyết những tốt việc hộ tịch, tạo thuận lợi cho người dân.

2. Miễn phí đăng ký hộ tịch

Luật Hộ tịch năm 2014 quy định miễn phí đăng ký hộ tịch trong những trường hợp: (i) Đăng ký hộ tịch cho người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật; (ii) Đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn, giám hộ, kết hôn của công dân Việt Nam cư trú ở trong nước. Đây là quy định mới, vừa thể hiện tính nhân văn, vừa góp phần thúc đẩy, khuyến khích cho người dân đăng ký hộ tịch đúng hạn.

3. Cấp Số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh

Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Hộ tịch năm 2014, nội dung khai sinh sẽ được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân (số được cấp cho mỗi công dân Việt Nam, không lặp lại ở người khác), đối với người dưới 14 tuổi, số định danh cá nhân được ghi vào giấy khai sinh và đây là số thẻ căn cước công dân khi đủ 14 tuổi.

Cấp số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh được nhận định là quy định mang tính đột phá trong công tác quản lý hộ tịch và quản lý dân cư, là tiền đề quan trọng để tiến tới mục tiêu cắt giảm nhiều loại giấy tờ, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân khi tham gia giao dịch, thực hiện thủ tục hành chính.

Bộ Công an đang Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân, theo đó, quy định trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đăng ký khai sinh, đã đăng ký khai sinh và đăng ký thường trú; cấp số định danh cá nhân cho trẻ em khi đăng ký khai sinh trong cả 2 trường hợp Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đã kết nối và chưa kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Dù được đánh giá quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 sẽ giúp giải quyết việc hộ tịch cho người dân nhanh chóng, thuận tiện hơn, nhưng cũng có ý kiến cho rằng, với quy định thủ tục cấp số định danh cá nhân khi khai sinh tại Dự thảo Nghị định này trong trường hợp Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử chưa kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ là bước lùi so với quy định hiện hành, bởi phải mất 06 ngày mới cấp được Giấy khai sinh. Do đó, đã có ý kiến đề xuất cần có phương án giải quyết tốt hơn

Thực hiện Kế hoạch triển khai thi hành Luật Hộ tịch, bảo đảm đồng bộ với các quy định của Luật Căn cước công dân có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016, đặc biệt là việc cấp số định danh cá nhân cho trẻ được khai sinh từ ngày 01/01/2016, Bộ Tư pháp sẽ triển khai đưa vào sử dụng thí điểm phần mềm đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã trên địa bàn 04 thành phố trực thuộc trung ương bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh[1]. Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với Cục Công nghệ thông tin xây dựng dự án khả thi Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, đặc biệt, sẽ phối hợp để thí điểm việc thực hiện phần mềm đăng ký khai sinh và cấp số định danh cá nhân. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa chính thức có quy định hướng dẫn cấp số định danh cá nhân, hiện Cục Công nghệ thông tin mới thỏa thuận thống nhất với C72 Bộ Công an kết nối về kỹ thuật để từ ngày 01/01/2016 chính thức cấp số định danh cá nhân và số định danh là số căn cước. Đối với vấn đề thí điểm này, có ý kiến dự liệu, về mặt kỹ thuật, 1 ngày cấp được 70 nghìn số định danh cá nhân, nhưng thực tế chỉ có thể cấp được 2 nghìn, kể cả đối với việc đăng ký lại[2]. Khi thực hiện thí điểm, do Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân chưa được ban hành, do đó, khi triển khai thí điểm cấp số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh, cần chú ý để tránh trường hợp thực hiện thí điểm nhưng lại mâu thuẫn, không phù hợp với quy định của Nghị định này khi nó được ban hành.

4. Việc phân cấp thẩm quyền cho chính quyền địa phương

Luật Hộ tịch năm 2014 quy định phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết toàn bộ các việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú trong nước, xác định lại dân tộc, trừ việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam. Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký các việc hộ tịch còn lại.

Việc phân cấp thẩm quyền cho chính quyền địa phương, ngoài việc giúp người dân tiết kiệm thời gian và thuận lợi trong thực hiện thủ tục, thì cũng sẽ tạo cho chính quyền địa phương chủ động hơn, phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm của chính quyền địa phương, tránh chồng chéo thẩm quyền, giúp chính quyền gần dân hơn, nắm chắc một cách toàn diện công tác hộ tịch tại địa phương bảo đảm tăng cường vai trò quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tiến tới mục tiêu lâu dài là phân cấp triệt để thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho chính quyền cơ sở khi điều kiện cho phép. Tuy nhiên, đây vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với cơ quan đăng ký hộ tịch.

Nhiệm vụ được chuyển giao nhiều, nhiều việc không thể giải quyết ngay mà cần phải xác minh, thụ lý trong nhiều ngày, trong khi đó, sẽ là mâu thuẫn nếu công tác cán bộ không được giải quyết phù hợp.

Một vấn đề được Ủy ban nhân dân cấp huyện quan tâm nhiều nhất chính là việc tiếp nhận thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Hầu hết các địa phương đều lo lắng về yêu cầu trình độ ngoại ngữ của cán bộ, những quy định về phỏng vấn, hay không có sự hỗ trợ đồng bộ từ các cơ quan chức năng liên quan (công an, ngoại vụ, công chứng, dịch thuật, sứ quan…), những bỡ ngỡ ban đầu khi thực hiện nhiệm vụ mới… Tuy nhiên, hiện nay, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016) đã quy định tương đối cụ thể và thuận lợi cho cán bộ hộ tịch cấp huyện, giảm tối đa quy trình thủ tục như: Về vấn đề phỏng vấn kết hôn có yếu tố nước ngoài không phải được thực hiện trong mọi trường hợp mà chỉ khi “căn cứ tình hình cụ thể, khi cần thiết, Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ quy định bổ sung thủ tục phỏng vấn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và hiệu quả quản lý nhà nước” (khoản 3 Điều 31); bên cạnh đó, hồ sơ, giấy tờ có yếu tố nước ngoài thì trên thực tế tất cả các giấy tờ này đều được dịch ra tiếng Việt, hợp pháp hóa lãnh sự và có chứng thực hợp lệ nên không nhất thiết yêu cầu công chức hộ tịch phải học ngoại ngữ; khi giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài thì trong giai đoạn đầu, đối với địa phương nào có nhiều việc, chắc chắn cũng sẽ có những bỡ ngỡ, khó khăn ban đầu, nhưng theo Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ tư pháp, Cục đã lưu ý các địa phương căn cứ vào tình hình thực tế, Sở Tư pháp có thể biệt phái cán bộ xuống huyện một thời gian, khi nào ở cấp huyện làm tốt thì rút người lên hoặc tăng cường tập huấn, chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ cấp huyện[3].

Mặc dù vậy, đối với thủ tục phỏng vấn khi đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, cũng đã có nhiều quan điểm xung quanh vấn đề này. Có nhiều ý kiến ủng hộ quy định bỏ thủ tục phỏng vấn như trong Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, coi đây là “bước cải cách mạnh mẽ”, hướng tới bảo đảm quyền công dân, quyền con người trong việc thực hiện kết hôn, tránh được hình thức, phiền hà cho người dân. Quan điểm này cho rằng, việc triển khai quy định phỏng vấn có nhiều bất cập và dễ nảy sinh tiêu cực, theo phản ánh của nhiều địa phương, đây là thủ tục nặng về hình thức, thực tế, hãn hữu mới có trường hợp kết hôn bị từ chối thông qua kết quả phỏng vấn, mục đích phỏng vấn lại rất rộng, vượt ngoài khả năng hiểu biết của cán bộ làm công tác hộ tịch, bởi ngoài việc đánh giá mức độ hiểu biết hoàn cảnh gia đình, cá nhân của nhau, phỏng vấn còn để đánh giá mức độ hiểu biết của các bên về văn hóa, lịch sử, pháp luật, phong tục tập quán… mỗi nước. Chính vì vậy, việc bỏ thủ tục phỏng vấn là hợp lý và cần thiết. Trong khi đó, lại có quan điểm không đồng tình, còn băn khoăn về việc bỏ thủ tục phỏng vấn. Bởi theo quy định hiện hành, biện pháp “phỏng vấn” lại được xem như một “rào cản pháp lý” nhằm góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và bảo vệ quyền lợi của các bên khi kết hôn, việc bỏ thủ tục phỏng vấn có thể sẽ gây ra nhiều hệ lụy, thực tế cũng đã có địa phương đã thực hiện từ chối kết hôn nhiều trường hợp qua phỏng vấn do những cặp này chưa thực sự hiểu về nhau.

Dù vẫn còn những ý kiến trái chiều, nhưng có cần sửa đổi tiếp quy định về phỏng vấn hay không thì cần được kiểm nghiệm qua thực tiễn khi Luật Hộ tịch cũng như Nghị định số 123/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành

5. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

Theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được lập để lưu giữ, cập nhật, quản lý, tra cứu thông tin hộ tịch, phục vụ yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến; được kết nối để cung cấp, trao đổi thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Thông tin hộ tịch của cá nhân sẽ được quản lý tập trung, thống nhất; các Bộ, ngành, địa phương sử dụng thông tin công dân từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để phục vụ công tác quản lý của Bộ, ngành, địa phương mình (mà không phải nhập lại), cũng như giải quyết thủ tục hành chính cho người dân. Ở nước ta, việc ứng dụng công nghệ thông tin mới chỉ dừng ở mức in biểu mẫu hộ tịch từ máy tính. Tuy một số địa phương có sử dụng phần mềm đăng ký hộ tịch, nhưng chủ yếu ở mức độ đăng ký riêng lẻ từng loại việc, chưa có sự liên thông, thống nhất giữa các sự kiện hộ tịch của cùng một cá nhân, chưa kết nối giữa các cơ quan đăng ký hộ tịch với nhau và với cơ quan đăng ký hộ tịch cấp trên. Theo đánh giá của các địa phương, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch và xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử mang lại nhiều thuận lợi, khắc phục được tình trạng đăng ký và quản lý hộ tịch có sai sót, giảm thời gian thao tác, thuận tiện cho việc tra cứu, thống kê hộ tịch[4]. Hiện nay, Đề án “Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc” theo quy định tại Luật Hộ tịch đã được Bộ trưởng Bộ Tư pháp thông qua. Đây là một Đề án quan trọng nhằm ứng dụng đồng bộ công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch trên phạm vi toàn quốc, hình thành Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử tập trung, có sự quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương, từng bước hiện đại hóa công tác đăng ký hộ tịch, tiến tới đăng ký trực tuyến; bảo đảm kết nối để cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan. Dự kiến là từ năm 2020 trở đi, chúng ta sẽ thực hiện đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử, giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến (mức độ 3 hoặc mức độ 4: Theo quy định tại điểm c, d khoản 4 Điều 3 Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước: “(c) Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ; (d) Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng”[5]). Các giải pháp thực hiện Đề án được đưa ra là:

Thứ nhất, cần xây dựng văn bản pháp luật quy định về quá trình vận hành, khai thác, quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

Thứ hai, tiếp tục sử dụng, nâng cấp thiết bị sẵn có tại các địa phương, chỉ trang bị mới khi thực sự cần thiết, bảo đảm mỗi cán bộ 01 máy có kết nối mạng Internet phục vụ riêng cho công tác hộ tịch; ưu tiên thuê hạ tầng công nghệ thông tin của doanh nghiệp.

Thứ ba, phần mềm đăng ký hộ tịch phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cần thiết.

Thứ tư, sử dụng tối đa năng lực của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch hiện nay, trên cơ sở cân đối bố trí đủ biên chế; tổ chức đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ.

Thứ năm, tạo lập cơ chế chỉ đạo điều hành thống nhất; khảo sát và đánh giá tổng thể thực trạng địa phương.

Thứ sáu, ưu tiên giải pháp thuê dịch vụ công nghệ thông tin.

Trong quá trình này, một số địa phương cũng đã đưa ra đề xuất, kiến nghị: Khi xây dựng phần mềm mẫu thì cần bảo đảm được sự kết nối với các phần mềm do các địa phương đã và đang ứng dụng, tránh việc không có sự tương tác dẫn đến phải hủy bỏ các phần mềm đó của địa phương; đồng thời hạn chế thấp nhất việc thay đổi hệ thống biểu mẫu hộ tịch để hạn chế việc phải cài đặt, thay đổi biểu mẫu trong phần mềm…

6. Công tác cán bộ

Khi triển khai thi hành Luật Hộ tịch năm 2014, công tác cán bộ là vấn đề đặc biệt quan trọng, ở chừng mực nào đó được coi là vấn đề mấu chốt ảnh hưởng tới hiệu quả của việc triển khai, thực hiện.

Luật hộ tịch quy định theo hướng tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho người dân nhưng song song với đó thì nó cũng sẽ tạo ra những áp lực cho các cơ quan, cán bộ thực hiện công tác hộ tịch.

Do việc tiếp nhận thêm nhiều việc, cũng như những quy định về tạo điều kiện cho người dân được lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch, thời hạn giải quyết rút ngắn… nên không thể tránh khỏi yêu cầu về tăng cường số lượng công chức tư pháp - hộ tịch. Tuy nhiên, theo điều kiện cần phải tinh giản biên chế như hiện nay, việc bổ sung thêm biên chế là rất khó khăn. Trong khi công chức tư pháp - hộ tich ngoài thực hiện công tác tư pháp, có khi còn phải kiêm nhiệm thêm nhiều công việc khác nữa. Điều này dễ dẫn đến tình trạng quá tải trong công việc gây ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng của công việc và cũng sẽ cản trở việc học tập, trau dồi nâng cao kiến thức của các cán bộ.

Về chất lượng, cán bộ tư pháp - hộ tịch cần được chuẩn hóa theo quy định tại Điều 72 Luật Hộ tịch năm 2014. Theo đó, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã phải có có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch; công chức làm công tác hộ tịch tại Phòng Tư pháp phải có trình độ cử nhân luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch. Đối với một số địa phương, đây không phải là vấn đề lo ngại, bởi hầu hết các cán bộ đều đạt được tiêu chuẩn này hoặc tại địa phương đã có trường trung cấp luật, trường đại học đào tạo ngành luật nên sẽ tạo thuận lợi hơn cho việc đào tạo, bồi dưỡng. Tuy nhiên, đối với nhiều địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, những nơi trình độ dân trí thấp, kinh tế kém phát triển, những địa phương nhân lực vốn đã, đang bị quá tải trong công việc thì vấn đề bồi dưỡng để chuẩn hóa đội ngũ cán bộ theo quy định của Luật không phải đơn giản, sẽ khó khăn từ bố trí thời gian, bố trí người thay thế, kinh phí…

Bên cạnh đó, những nhiệm vụ mới, với những quy định trình tự, thủ tục thay đổi, với việc ứng dụng công nghệ… cũng đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ. Do đó, cần phải thường xuyên có các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ này.

Từ vấn đề bổ sung biên chế, đến bồi dưỡng nghiệp vụ, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ đều cần phải có sự rà soát kỹ lưỡng và có kế hoạch thực hiện phù hợp. Để chuẩn hóa đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rà soát, bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch và kiện toàn đội ngũ này. Dự kiến đến năm 2016 sẽ chuẩn hóa đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch và đến trước ngày 01/01/2020 phải hoàn thành việc đào tạo lại đối với toàn bộ đội ngũ này. Cùng với đó, Bộ Tư pháp sẽ chủ trì, phố hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức các lớp tập huấn cho viên chức ngoại giao, lãnh sự được phân công làm công tác hộ tịch tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài[6]. Từ ngày 01/01/2016 (ngày Luật Hộ tịch năm 2014 có hiệu lực thi hành) thì tất cả các địa phương trong cả nước chỉ tuyển dụng mới công chức làm công tác hộ tịch đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo Luật Hộ tịch năm 2014, đây là tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 15/01/2015 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Hộ tịch.

Để triển khai thi hành Luật Hộ tịch đồng bộ, hiệu quả và thống nhất, các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đều đang rất khẩn trương chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện. Về các văn bản hướng dẫn thi hành, hiện nay đã ban hành được Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư số 15/2015 ngày 16/11/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Một số nghị định, thông tư hướng dẫn khác cũng đang trong quá trình dự thảo và đang quyết liệt để có thể được ban hành sớm. Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc đã được phê duyệt. Các công tác khác như việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến Luật Hộ tịch; tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản hướng dẫn; rà soát, bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ có thể nói là đã và đang được thực hiện theo như Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra. Tất cả đều đang sẵn sàng cho việc triển khai, thi hành Luật Hộ tịch năm 2014.

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: