Thứ năm 14/05/2026 02:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về việc lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Bài viết trình bày thực trạng và phân tích những hạn chế, bất cập trong quy trình lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định hiện hành. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động quan trọng này trong thủ tục xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.


1. Ý nghĩa, vai trò của việc lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Trong quá trình xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, các chủ thể có thẩm quyền thực hiện cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân địa phương để bàn bạc, nghiên cứu tiếp thu nhằm làm cho các chính sách được đề xuất sau khi được luật hóa sẽ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống. Sự tham gia này là một trong những điều kiện quan trọng và không thể thiếu giúp bảo đảm tính khả thi của nghị quyết trong thực tiễn thi hành, bảo đảm pháp luật “sát dân, gần dân”, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân góp phần bảo đảm hài hòa các quyền, lợi ích trong xã hội. Có thể thấy, việc lấy ý kiến của các đối tượng trực tiếp chịu sự điều chỉnh của nghị quyết, của các chuyên gia, nhà khoa học, của người dân có ý nghĩa vô cùng quan trọng:

Thứ nhất, thông qua việc lấy ý kiến của người dân, cơ quan soạn thảo sẽ có thông tin về thực tế cuộc sống để đưa ra được những quy định phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương. Từ đó, nghị quyết sẽ có tính khả thi cao, tránh được bệnh chủ quan duy ý chí, áp đặt từ một phía. Trên thực tế, có những nghị quyết rất cần thiết ban hành nhưng địa phương lại không đáp ứng được điều kiện về kinh tế - xã hội để thực thi.

Thứ hai, nếu như kết quả lấy ý kiến nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp của nghị quyết cho thấy là phù hợp với tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của đa số quần chúng nhân dân địa phương thì nghị quyết sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống. Niềm tin của nhân dân đối với chính quyền địa phương sẽ được củng cố. Ngược lại, nếu nội dung nghị quyết không phù hợp với lợi ích của một số nhóm nào đó thì quy trình lấy ý kiến là cơ hội để các cơ quan có thẩm quyền có những biện pháp tuyên truyền để người dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm với cộng đồng xã hội. Từ đó, tránh được hiện tượng người dân phản ứng khi lợi ích của họ bị ảnh hưởng dưới tác động của nghị quyết.

Thứ ba, đây cũng là một hình thức tuyên truyền mang tính tích cực, chủ động để người dân nghiên cứu, thảo luận, tiếp cận trước với nghị quyết, tạo điều kiện thuận lợi để nghị quyết đi vào cuộc sống khi được chính thức ban hành.

2. Thực trạng hoạt động lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hiện nay

Hiểu rõ tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn của việc lấy ý kiến nhân dân trong công tác xây dựng pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 (Luật năm 2020) đều thống nhất, không có sự thay đổi khi quy định việc lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh là hoạt động bắt buộc phải thực hiện. Trên cơ sở tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, cơ quan soạn thảo cần xác định đối tượng cần và phải lấy ý kiến. Nếu dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh trình, cơ quan được phân công chủ trì soạn thảo cần và nên lấy ý kiến tất cả các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ, các ban của HĐND có liên quan. Việc xác định các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết căn cứ vào nội dung của từng văn bản, được hiểu là những đối tượng trực tiếp thi hành và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng nghị quyết đó sau khi được ban hành. Khi tiến hành lấy ý kiến, cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất 30 ngày kể từ ngày tổ chức để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo và bắt buộc cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo. Quy định này có thể được hiểu, một khi cơ quan chủ trì soạn thảo gửi dự thảo nghị quyết yêu cầu góp ý thì những chủ thể này bắt buộc phải có ý kiến mà không có quyền từ chối.

Dù Luật năm 2015 và Luật năm 2020 đều không có quy định cụ thể nhưng việc lấy ý kiến có thể được thực hiện dưới các hình thức khác nhau từ trực tiếp đến gián tiếp như: Trao đổi trực tiếp với cơ quan soạn thảo, gửi dự thảo nghị quyết để góp ý, tổ chức hội thảo, hội nghị, thông qua trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng, internet… Từ thực tiễn những năm gần đây của HĐND cấp tỉnh khi tham gia Dự án 00049114 của Văn phòng Quốc hội và UNDP[1], cũng có những cách thức lấy ý kiến rất hiệu quả như: Hội nghị tham vấn tại địa bàn rộng; thảo luận nhóm nhỏ theo trọng tâm; họp các hộ dân một khu dân cư; khảo sát thực địa, thị sát; phỏng vấn sâu từng cá nhân; tiếp nhận ý kiến qua báo chí, internet, các phương tiện liên lạc; tọa đàm với các nhóm đối tượng hẹp; điều tra dư luận xã hội; phát phiếu hỏi; điều trần (hội nghị các bên liên quan). Bất kể hình thức nào cũng đều có ưu, nhược điểm riêng cho nên tùy từng trường hợp cơ quan tổ chức lấy ý kiến sẽ đan xen, tổng hợp, linh hoạt trong việc lựa chọn các hình thức để đạt được hiệu quả cao nhất. Chẳng hạn như hình thức lấy ý kiến thông qua báo chí, phương tiện thông tin đại chúng, internet có ưu điểm là việc nêu yêu cầu và tiếp nhận ý kiến trở nên nhanh chóng, thuận tiện, phạm vi đối tượng được lấy ý kiến rộng, tuy nhiên, nhược điểm của hình thức này đòi hỏi phải phổ biến công nghệ thông tin, các ý kiến thường bị “loãng” do không phân loại được đối tượng lấy ý kiến hoặc việc lấy ý kiến thông qua hội thảo, hội nghị có thể thu được những ý kiến đa chiều thế nhưng quy mô hạn chế, đối tượng tham gia có giới hạn…

Như vậy, Luật năm 2015 đã có những quy định tiến bộ, công khai, minh bạch hóa việc soạn thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, đặc biệt trong công tác lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết nhằm tăng cường tính dân chủ, phát huy sự tham gia tích cực, đông đảo của tất cả các thành phần, tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong việc lấy ý kiến và tham gia ý kiến của nhân dân đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh:

Thứ nhất, phương thức lấy ý kiến còn hình thức

Tính hình thức thể hiện rõ nét khi tổ chức lấy ý kiến các dự thảo nghị quyết mang tính kỹ thuật chuyên môn, phức tạp hoặc đồ sộ trong khi trình độ dân trí và kiến thức của người dân nói chung chưa cao, do đó, dù được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của tỉnh/thành phố nhưng thực tế qua khảo sát ở một số địa phương[2], tỷ lệ lượng truy cập cho ý kiến cực thấp, gần như không có. Mặt khác, pháp luật quy định đăng dự thảo nghị quyết mà không kèm theo tờ trình, báo cáo giải trình những tài liệu quan trọng hỗ trợ cho người được lấy ý kiến hiểu rõ hơn về nội dung chính của dự thảo. Điều này làm cho người dân khó có điều kiện góp ý một cách có ý nghĩa mà phần lớn khi được hỏi đều trả lời cho qua “đồng ý với dự thảo” mà không có ý kiến gì thêm.

Thứ hai, việc lấy ý kiến còn chưa thực chất, hiệu quả

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này: (i) Ý thức của người dân đối với việc đóng góp ý kiến còn chưa cao. Mặc dù vấn đề tuyên truyền và phổ biến, giáo dục pháp luật đã được luật hóa thành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với phạm vi điều chỉnh là quy định quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân nhưng thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương, người dân vẫn còn thái độ “bàng quan” vì cho rằng đây là công việc của các cơ quan nhà nước và bản thân họ không có trách nhiệm phải thực hiện. (ii) Hoạt động này vẫn chưa được thực hiện chặt chẽ theo một quy chuẩn, quy trình cụ thể nhằm bảo đảm sự tham gia của người dân trong quá trình lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết. (iii) Ngân sách nhà nước cấp cho công tác này còn rất hạn chế nên khó có thể tổ chức lấy ý kiến diện rộng. Việc khảo sát cán bộ tư pháp một số địa phương về đối tượng lấy ý kiến đã cho kết quả: Cơ quan nhà nước là đối tượng thường xuyên được lấy ý kiến nhất (97,6%), 43% là số cán bộ được khảo sát đã lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động của dự thảo và chỉ có 38% từ các tổ chức chính trị xã hội, còn việc lấy ý kiến của chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp là rất ít, không đáng kể. Việc cơ quan chủ trì soạn thảo chủ yếu lấy ý kiến của các cơ quan nhà nước, bởi việc thực hiện sẽ tiết kiệm chi phí, đồng thời, những ý kiến góp ý sẽ sát với thực tế hoạt động quản lý nhà nước, dễ tiếp thu hơn, nhưng khi đó, hoạt động lấy ý kiến sẽ chỉ mang ý chí của nhà quản lý để “quản lý” thuận tiện chứ không xuất phát từ người dân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết.

Xây dựng pháp luật là một hoạt động phải thể hiện tính dân chủ, nếu không, nó sẽ chỉ là hoạt động đơn phương áp đặt “phiến diện” của nhà cầm quyền. Cho nên, khi đã lấy ý kiến thì phải có cơ chế phản hồi ý kiến hiệu quả, nếu không sẽ phản tác dụng không khuyến khích được sự tham gia ý kiến. Cách tốt nhất để thể hiện sự lắng nghe về những tham vấn của người dân là việc phải trả lời cho họ biết nội dung đã tiếp thu, không tiếp thu để chỉnh lý dự thảo ban đầu. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật hiện nay dường như thiếu vắng cơ chế này ở mức độ công khai với người đã góp ý.

Thứ ba, chất lượng ý kiến góp ý chưa cao, có sự chênh lệch giữa đối tượng được xin ý kiến

Mặc dù, đối tượng lấy ý kiến trên thực tế hiện nay chủ yếu là cơ quan nhà nước nhưng chất lượng ý kiến của đối tượng này không cao, mang nặng tính hình thức. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do hạn chế về năng lực và trách nhiệm chưa cao của các cơ quan được hỏi ý kiến hoặc cũng có thể cơ quan soạn thảo chưa chú trọng công tác phản hồi ý kiến nên không khuyến khích được sự tham gia; dự thảo nghị quyết được lấy ý kiến ít hoặc không liên quan đến lĩnh vực hoạt động của cơ quan được xin ý kiến... cùng với việc thiếu tờ trình và báo cáo giải trình nêu rõ nội dung chính của dự thảo nên khó góp ý; do thời gian góp ý ngắn… Bên cạnh đó, cơ quan soạn thảo cũng chưa chú trọng việc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động của nghị quyết. Thực tế sản phẩm của việc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp không được thể hiện bằng văn bản cụ thể, trừ trường hợp đối tượng tác động đó là cơ quan, ban, ngành và chỉ được tích hợp chung trong các báo cáo đánh giá tác động chính sách. Vì vậy, khó để có được cái nhìn tổng quan và đánh giá cụ thể được đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản là ai và bao nhiêu phần trăm (%) trong số đó đã được lấy ý kiến và quan điểm của họ như thế nào về nội dung được lấy ý kiến. Bên cạnh các nguyên nhân nêu trên, qua tìm hiểu thực tế, tác giả còn nhận thấy rằng, so sánh với các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương, đa phần văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở địa phương nói chung và của HĐND cấp tỉnh nói riêng ít thu hút được ý kiến góp ý hơn. Tình trạng này có thể được giải thích bởi lẽ: (i) Việc phản ánh dự thảo chính sách mới ở địa phương thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, truyền hình rất hạn chế vì có quá nhiều vấn đề phát sinh ở nhiều địa phương khác nhau cho nên, các cơ quan truyền thông không thể nào theo dõi, đưa tin các vấn đề ở phạm vi hẹp, không phải vấn đề “nóng”, cấp thiết cho nên không có đủ nguồn thông tin cho các chủ thể quan tâm; (ii) Mỗi địa phương chỉ có duy nhất một trang web của địa phương đó nhưng do kinh phí hạn hẹp, không được đầu tư cho nên việc truy cập khó khăn, chưa kể tới thông tin chính sách không được cập nhật thường xuyên do hạn chế về trình độ công nghệ thông tin của các cán bộ trực tiếp quản lý trang web, chính vì vậy đã cản trở lớn tới việc các cá nhân, tổ chức tiếp cận thông tin chính sách mới để đóng góp những ý kiến thiết thực.

3. Một số kiến nghị

Để nâng cao chất lượng dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, khi được ban hành có sự đồng thuận cao, để việc lấy ý kiến dự thảo thể hiện được đúng ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng trong việc xây dựng, ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, cần:

- Thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quy trình xây dựng, lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh.

- Mỗi địa phương cần có hướng dẫn về cơ chế trong việc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, trong đó, quy định rõ ràng hơn về chủ thể tiến hành lấy ý kiến, xác định rõ hơn sản phẩm của việc lấy ý kiến đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp cũng như chế tài để đảm bảo thực hiện nội dung này.

- Địa phương phải xây dựng cơ chế cụ thể để khắc phục những hạn chế liên quan đến phương thức và đối tượng lấy ý kiến dự thảo nghị quyết. Cần mở rộng, phát huy trí tuệ toàn dân, đặc biệt là đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia, cơ quan chuyên môn có trách nhiệm, tránh hình thức. Việc lấy ý kiến cần cụ thể hóa và được thực hiện bởi quy định chặt chẽ hơn theo quy trình cụ thể, như từ yêu cầu thực tiễn để đề xuất xây dựng nghị quyết, xác định trách nhiệm, lấy ý kiến xây dựng kênh thông tin tuyên truyền dự thảo nghị quyết, gợi mở các vấn đề cần lấy ý kiến, khuyến khích sự tham gia cơ chế giải trình, tiếp thu, phản hồi ý kiến, bố trí thời gian hợp lý để người dân có đủ điều kiện đóng góp ý kiến. Đặc biệt, phải đảm bảo điều kiện cho việc lấy ý kiến được thuận tiện, dễ dàng nhất, trong đó, chú trọng việc nâng cấp, hoàn thiện trang thông tin điện tử của tỉnh, như vậy sẽ thu thập được nhiều ý kiến, nâng cao hiệu quả dự thảo nghị quyết và đảm bảo tính khả thi, tính ổn định.

- Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm lấy ý kiến thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình lấy ý kiến theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục được triệt để tính hình thức trong việc tổ chức lấy ý kiến; việc tổng hợp, đánh giá và phản ánh một cách khách quan, đầy đủ những diễn biến từ thực tiễn cuộc sống có vai trò hết sức quan trọng đối với cơ quan xây dựng văn bản, không chỉ giúp việc xây dựng được các quy định phù hợp với điều kiện của thực tiễn xã hội, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của người chịu sự tác động trực tiếp, đưa người dân vào đúng vị trí của họ trong quá trình xây dựng nghị quyết, đây cũng sẽ là một hình thức tuyên truyền chủ động để người dân được tiếp cận trước với dự thảo nghị quyết và khi ban hành sẽ đạt tính khả thi cao.

- Phát huy vai trò của các tổ đại biểu, đại biểu HĐND của các tỉnh, thành phố. Trước mỗi kỳ họp HĐND, việc nắm bắt, tiếp cận sâu rộng kiến nghị và lấy ý kiến cử tri địa phương đối với nội dung, dự thảo nghị quyết được trình tại kỳ họp là vô cùng quan trọng. Thông qua những kiến nghị, ý kiến của cử tri địa phương, tổ đại biểu và các đại biểu HĐND sẽ được nghiêm túc tiếp thu, tổng hợp báo cáo tại kỳ họp HĐND cấp tỉnh. Từ đó, các đại biểu HĐND sẽ có nhiều thông tin từ thực tế hơn và thông tin đa chiều từ nhân dân, từ đối tượng điều chỉnh của nghị quyết, của chuyên gia làm cơ sở cho việc biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết đúng đắn, có tính khả thi.

Bên cạnh việc quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước với nhau thì cần nâng cao chất lượng, hiểu quả của sự tham gia, góp ý của các cơ quan, tổ chức và toàn thể nhân dân trong quá trình xây dựng, ban hành nghị quyết, đó là một trong những giải pháp quan trọng để đảm bảo nguyên tắc dân chủ trong xây dựng pháp luật, để đáp ứng mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả.

ThS. Hoàng Ngọc Hải
Khoa Luật, Đại học Văn hóa Hà Nội


[1]. Dự án Tăng cường lực cho các cơ quan đại diện ở Việt Nam (UNDP, 00049114) của Văn phòng Quốc hội giai đoạn III, hợp phần thí điểm tham vấn ý kiến công chúng trong quá trình ban hành chính sách của Hội đồng nhân dân.

[2]. Truy cập vào Cổng thông tin góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh Hậu Giang (https://haugiang.gov.vn/xin-y-kien-nhan-dan) (truy cập ngày 16/12/2020) gần như không có ý kiến góp ý nào, như: Dự thảo Nghị quyết Quy định chế độ chi tiêu hành chính sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang lấy ý kiến từ 06/11-06/12/2020 thì không có góp ý nào, Dự thảo Nghị quyết thông qua Đề án “Chính quyền điện tử và Đô thị thông minh tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2020 - 2025 lấy ý kiến từ 18/9-18/10/2020 cũng không có ý kiến góp ý…; hay khi truy cập vào Chuyên trang điện tử online, Cổng thông tin điện tử tỉnh Nghệ An (http://duthaovanban.nghean.gov.vn) (truy cập ngày 17/12/2020) thì số lượng góp ý rất ít gần như không có, như Dự thảo Nghị quyết Quy định một số chính sách hỗ trợ thực hiện chương trình mỗi xã hội một sản phẩm (OCOP) trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2021 - 2025 lấy ý kiến từ 02/11 - 02/12/2020 thì chỉ có 01 góp ý, Dự thảo Nghị quyết Quy định chính sách hỗ trợ đối với người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng thuộc gia đình hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2025 (lần 2) lấy ý kiến từ ngày 30/10 - 30/11/2020 thì không có góp ý nào…

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: