Thứ bảy 09/05/2026 05:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc về hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 dưới góc nhìn công chứng

Bài viết này nghiên cứu, phân tích những vướng mắc về hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 dưới góc nhìn công chứng để làm cơ sở cho việc đề xuất hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu, phân tích những vướng mắc về hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 dưới góc nhìn công chứng để làm cơ sở cho việc đề xuất hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Abstract: This article studies and analyzes problems related to property loan contracts under the provisions of the Civil Code of 2015 from the perspective of notarization to serve as a basis for proposing improvement of the law in this field.

Thực tiễn cuộc sống luôn đặt ra nhu cầu vay tài sản để giải quyết những khó khăn tạm thời về kinh tế, do đó, hợp đồng vay tài sản là phương tiện pháp lý được đặt ra để đáp ứng mãn những nhu cầu đó. Pháp luật dân sự đã quy định khá chi tiết về loại hợp đồng này và cách thức triển khai trong thực tiễn. Qua việc nghiên cứu hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 trong hoạt động công chứng hiện nay, tác giả xác định một số khó khăn, vướng mắc áp dụng pháp luật như sau:

Thứ nhất, những quy định chung của pháp luật về “hợp đồng vay tài sản” và “hợp đồng mượn tài sản” được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 còn một số nội dung chưa rõ ràng, có thể gây ra sự nhầm lẫn giữa hai loại hợp đồng này. Trong thực tiễn áp dụng, nhiều chủ thể, kể cả công chứng viên trong một số trường hợp còn xác định nhầm lẫn giữa hai loại hợp đồng này, mặc dù bản chất pháp lý của hai loại hợp đồng này là hoàn toàn khác nhau.

Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Điều 494 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”.

Nếu chỉ xem xét dựa trên hai khái niệm nêu trên, chúng ta thiếu cơ sở pháp lý để phân định một cách rõ ràng giữa hai loại hợp đồng này. Thậm chí, giữa hợp đồng vay tài sản không phải trả lãi với hợp đồng mượn tài sản có nhiều điểm tương đồng. Chỉ sau khi nghiên cứu một số nội dung của điều luật khác có liên quan đến hai loại hợp đồng này trong Bộ luật Dân sự năm 2015, thì quy định về “quyền sở hữu đối với tài sản vay” mới là tiêu chí mấu chốt để phân định giữa loại “hợp đồng vay tài sản” với “hợp đồng mượn tài sản”. Cụ thể là, trong hợp đồng vay tài sản thì bên vay trở thành chủ sở hữu đối với tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó; còn trong hợp đồng mượn tài sản thì không có quy định nào như vậy - tức là bên mượn không được chuyển giao quyền sở hữu tài sản đi mượn.

Thứ hai, xác định tài sản có thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản. Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Tài sản được phân thành 08 nhóm khác nhau: Bất động sản và động sản; hoa lợi, lợi tức; vật chính và vật phụ; vật chia được và vật không chia được; vật tiêu hao và vật không tiêu hao; vật cùng loại và vật đặc định; vật đồng bộ và quyền tài sản. Dựa trên các quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và các quy định nêu trên về tài sản cũng như thực tế, có thể nhận thấy, “tiền” là một loại tài sản phổ biến nhất trong đối tượng của hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, còn những loại tài sản khác đang có nhiều cách hiểu khác nhau trong việc xác định đúng tài sản nào có thể và tài sản nào không thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản?

Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “… khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả lại cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng…”. Đây là một đặc điểm pháp lý quan trọng nhất của hợp đồng vay tài sản. Theo các quy định trên, dường như chỉ có những tài sản có thể thay thế được bằng một tài sản khác cùng loại mới đủ điều kiện đem cho vay. Các bên có thể đi vay hoặc cho vay cùng một lúc một hoặc nhiều tài sản khác nhau. Số lượng và chất lượng của tài sản là hai vấn đề rất quan trọng, công chứng viên đặc biệt chú ý khi soạn thảo văn bản hay xem xét nội dung hợp đồng vay tài sản.

Như vậy, “vật”, “tiền”, “giấy tờ có giá” hoàn toàn có thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản, còn “quyền tài sản” thì không. Tương tự như vậy, thì trong 08 nhóm tài sản nêu trên, có thể cho vay: Vật chính và vật phụ, vật chia được và vật không chia được, vật tiêu hao và vật không tiêu hao… nhưng không cho vay được “bất động sản” hay “vật đặc định”. Ngoài ra, những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, cho dù là loại tài sản nào cũng không thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản. Mà trên thực tế thì người dân vẫn có nhu cầu vay đối với các loại tài sản này, nhưng theo quy định nêu trên thì không thể xác lập giao dịch.

Với tư cách là đối tượng của hợp đồng vay tài sản, “tiền” luôn là tài sản thông dụng nhất. Tuy nhiên, tiền thì bao gồm cả tiền Việt Nam và ngoại tệ, mà ngoại tệ được xác định là một loại ngoại hối. Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Theo đó, có thể hiểu ngoại tệ trở thành một loại ngoại hối bị hạn chế sử dụng và không thể trở thành đối tượng của hợp đồng vay tài sản theo quy định của Pháp Lệnh ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013). Như vậy, quy định này chưa đồng nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong khi đó, việc sử dụng ngoại tệ là đối tượng trong hợp đồng vay tài sản hiện nay là khá phổ biến trên thực tiễn.

Thứ ba, xác định chủ thể tham gia giao kết hợp đồng vay tài sản bao gồm: Bên cho vay và bên vay. Hiện nay, đang tồn tại quan điểm khác nhau liên quan đến chủ thể là doanh nghiệp, xoay quanh hình thức hợp đồng vay tài sản có đối tượng phổ biến nhất là tiền.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh những ngành, nghề đã được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cơ sở pháp lý giải thích cho quan điểm này là khoản 12 Điều 4 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nêu rõ: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Trong khi đó, việc “cấp tín dụng” được xác định “là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” (khoản 14 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010) (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, chỉ có các hình thức tổ chức tín dụng được quy định tại Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới được phép cho vay vốn dưới mọi hình thức. Như vậy, cho vay tiền dường như là ngành, nghề kinh doanh mang tính độc quyền của ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

Quan điểm thứ hai cho rằng, doanh nghiệp có quyền kinh doanh mọi ngành, nghề mà pháp luật không cấm và không cần phải căn cứ vào ngành, nghề đã đăng ký. Như vậy, có nghĩa là doanh nghiệp dù không đăng ký ngành, nghề cho vay tiền thì vẫn được phép thực hiện chức năng này. Điểm d khoản 2 Điều 3 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về thu nhập chịu thuế như sau: “Thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, bán ngoại tệ bao gồm: Lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, lãi cho vay vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật bao gồm cả tiền lãi trả chậm, lãi trả góp, phí bảo lãnh tín dụng và các khoản phí khác trong hợp đồng cho vay vốn; thu nhập từ bán ngoại tệ; khoản chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính; khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ (riêng chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp mới thành lập mà tài sản cố định này chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính). Đối với khoản nợ phải thu, khoản cho vay có gốc ngoại tệ phát sinh trong kỳ thì chênh lệch tỷ giá hối đoái của các khoản nợ phải thu, khoản cho vay này là khoản chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái tại thời điểm thu hồi nợ với tỷ giá hối đoái tại thời điểm ghi nhận khoản nợ phải thu hoặc khoản cho vay ban đầu”. Do đó, mặc dù không có quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể là doanh nghiệp có quyền cho vay vốn, nhưng với quy định này thì doanh nghiệp hoàn toàn có quyền cho vay vốn và sẽ phải chịu thuế thu nhập phát sinh từ việc cho vay vốn đó.

Theo phân tích nêu trên, vấn đề về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng vay tài sản là doanh nghiệp với tư cách là bên cho vay hiện nay chưa có cơ sở pháp lý quy định một cách cụ thể và trực tiếp thể hiện việc cấm hay cho phép chủ thể là doanh nghiệp được thực hiện hoạt động cho vay vốn. Vì vậy, trên thực tiễn, vẫn đang tồn tại hai quan điểm khác nhau dựa trên một số các văn bản quy phạm pháp luật chỉ quy định một cách gián tiếp. Việc chưa có quy định một cách rõ ràng như vậy gây ra không ít vướng mắc, khó khăn cho các công chứng viên. Thực tiễn tại các tổ chức hành nghề công chứng cho thấy, khi gặp tình huống có chủ thể là doanh nghiệp yêu cầu công chứng hợp đồng cho vay tài sản là tiền với tư cách là bên cho vay, công chứng viên sẽ lúng túng không biết có công chứng được hay không? Nếu đồng ý thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng thì dựa trên cơ sở pháp lý nào.

Thứ tư, đối với hợp đồng cho vay tài sản có lãi suất mà đối tượng tài sản của hợp đồng không phải là tiền thì thực hiện như thế nào?

Nếu lấy lãi suất làm tiêu chí, có thể chia hợp đồng vay tài sản thành: Hợp đồng vay tài sản không có lãi và hợp đồng vay tài phải trả lãi. Lãi suất được đề cập trong khái niệm về hợp đồng vay tài sản tại Điều 463 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015: (i) Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thể thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…; (ii) Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Từ những quy định nêu trên, khi soạn thảo hoặc kiểm tra nội dung trong hợp đồng vay tài sản có lãi, các bên có thể đưa ra 02 phương án giải quyết khi đề cập đến yếu tố lãi: Phương án thứ nhất, ấn định luôn một số lãi cụ thể, bất biến; phương án thứ hai, lãi suất do các bên tự thỏa thuận - đây là vấn đề mà các bên cần đặc biệt quan tâm. Trong thực tiễn, đa số các bên khi tham gia giao kết hợp đồng vay tài sản thường lựa chọn phương án thứ hai. Do vậy, khi xác định lãi suất trong hợp đồng vay tài sản thì các bên cần xem xét kỹ nội dung Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, đây là quy định về lãi suất áp dụng đối với đối tượng tài sản trong hợp đồng vay tài sản là “tiền”. Nhưng trên thực tế, đối tượng tài sản của hợp đồng vay tài sản không chỉ có tiền mà còn nhiều loại tài sản khác. Ví dụ như: Vàng cũng là loại tài sản là đối tượng của giao dịch cho vay rất phổ biến trong xã hội. Vàng trong trường hợp này không phải là đối tượng được điều chỉnh theo Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) tại mục d khoản 1 Điều 4 (Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam); không phải là một loại tài sản hay hàng hóa bị nhà nước cấm lưu thông trong nước. Vàng là đối tượng tài sản trong hợp đồng vay tài sản là loại vàng mà người sở hữu có quyền mua bán, tặng cho, cho vay…

Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sản có đối tượng không phải là “tiền”. Vậy một số câu hỏi đặt ra là: Liệu có đủ cơ sở pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch hợp đồng vay tài sản có đối tượng vay không phải là tiền mà có lãi suất hay không? Nếu có thì các chủ thể sẽ lấy cơ sở pháp lý nào để giải quyết vấn đề về lãi suất trong loại hợp đồng vay tài sản này?

Vì vậy, đây chính là một trong những nội dung mà pháp luật chưa có quy định cụ thể, gây ra khó khăn cho các bên tham gia giao dịch. Khi có tranh chấp loại hợp đồng này xảy ra thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ rất khó khăn để giải quyết nếu trong hợp đồng các bên tự thỏa thuận lãi suất; không ấn định mức lãi suất cụ thể, bất biến trong hợp đồng. Đồng thời, từ đó cũng đặt ra vấn đề: Nếu hợp đồng vay tài sản có đối tượng không phải là tiền mà có lãi suất nhưng giữa các bên đã có sự thống nhất về mức lãi suất, ấn định cụ thể và bất biến là một con số cụ thể nào đó. Khi đó vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay tài sản này đã được xử lý một cách rõ ràng, mức lãi suất thì hoàn toàn có thể được công nhận theo mức lãi suất của hợp đồng vay tài sản có đối tượng là tiền được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vậy thì các chủ thể khi có nhu cầu xác lập loại hợp đồng vay tài sản này có thể xác lập được không? Các tổ chức hành nghề công chứng có tiếp nhận để giải quyết yêu cầu công chứng cho các bên không?

Thứ năm, về mục đích sử dụng tài sản vay. Đây là một quy định mang tính đặc thù, chỉ hiện diện ở hợp đồng vay tài sản trong số các loại hợp đồng dẫn tới chuyển dịch chủ sở hữu hoặc sử dụng tài sản. Sau khi quyền sở hữu tài sản đã được chuyển dịch sang cho chủ sở hữu mới thông qua các hình thức khác nhau như: Tặng cho, mua bán hoặc trao đổi, về mặt nguyên tắc chủ sở hữu mới được tự do thực hiện các quyền sở hữu đối với khối tài sản đó theo quy định của pháp luật mà không phải chịu bất cứ sự ràng buộc nào từ phía chủ sở hữu cũ trước đó. Tuy nhiên, tại Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và đòi lại tài sản cho vay trước thời hạn nếu đã có thỏa thuận mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích”. Như vậy, có thể hiểu, mục đích sử dụng tài sản vay chính là tài sản đi vay sẽ được bên vay đem dùng vào công việc gì và mục đích sử dụng tài sản vay phải được bên vay và bên cho vay thỏa thuận trước khi giao kết hợp đồng vay tài sản. Liệu quy định này có tạo nên yếu tố mâu thuẫn với tinh thần của chế định quyền sở hữu khi mà bên cho vay đã chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên vay khi xác lập giao dịch vay tài sản?

Thứ sáu, về hình thức của hợp đồng vay tài sản. Hiện nay, pháp luật chưa quy định hình thức bắt buộc đối với loại hợp đồng này. Vì vậy, các bên khi giao kết hợp đồng vay tài sản có thể tùy ý lựa chọn hình thức của hợp đồng, trong đó hình thức giao kết bằng miệng diễn ra rất phổ biến. Do đó, việc phát sinh các tranh chấp từ loại hợp đồng này hiện nay rất khó xử lý, thậm chí nhiều bên cho vay không thể thu hồi nợ do thiếu cơ sở pháp lý.

Bên cạnh đó, việc xác lập hợp đồng vay tài sản mang tính giả tạo trên thực tế hiện nay cũng rất phổ biến. Đã có nhiều trường hợp các bên thực hiện giao dịch vay tài sản nhưng không ký hợp đồng vay tài sản mà ký hợp đồng mua bán, đặt cọc tài sản. Ví dụ như: Hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, mua bán quyền sử dụng đất; hợp đồng mua bán xe ô tô... Với những trường hợp này, bên cho vay sẽ giữ tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của bên vay. Khi đến hạn trả nợ, nếu bên vay không trả gốc và lãi thì bên cho vay yêu cầu tiến hành thủ tục mua bán tài sản. Trường hợp này, nếu bên vay kiện lên Tòa án thì khó có thể đòi được quyền lợi của mình, vì hình thức của hợp đồng không phải là hợp đồng vay tài sản. Việc xác định mức lãi suất, hạn trả nợ không được quy định trong hợp đồng mà sẽ do các bên thỏa thuận. Mặt khác, bên cho vay sẽ đưa hợp đồng mua bán hay đặt cọc tài sản đó ra làm chứng cứ trước Tòa, dẫn đến Tòa án buộc phải chấp nhận yêu cầu của bên cho vay mà không thể bảo vệ cho bên vay.

ThS. Phạm Thị Yến

Đại học Công nghệ Đông Á

(Ảnh: Internet)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: