Thứ bảy 24/10/2026 08:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc về nghiệp vụ thi hành án dân sự

Việc triển khai và thực hiện Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã góp phần làm cho công tác thi hành án dân sự có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, một số chi cục thi hành án địa phương vẫn còn những khó khăn, vướng mắc về mặt chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự cần phải có giải pháp khắc phục. Để tháo gỡ những vướng mắc này,

Việc triển khai và thực hiện Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã góp phần làm cho công tác thi hành án dân sự có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, một số chi cục thi hành án địa phương vẫn còn những khó khăn, vướng mắc về mặt chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự cần phải có giải pháp khắc phục. Để tháo gỡ những vướng mắc này, Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp đã có những hướng dẫn cụ thể và chi tiết.

1. Vướng mắc về thời hạn xác minh điều kiện thi hành án

Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định: “Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu xác minh của người được thi hành án, chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh. Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải xác minh ngay...”.

Một số ý kiến cho rằng, Luật quy định thời gian xác minh trong thời hạn 10 ngày là quá ít. Bởi theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án. Kể từ khi ra quyết định thi hành án thì trong thời hạn 02 ngày mới phân công chấp hành viên, như vậy, còn 03 ngày thì chấp hành viên không đủ thời gian để tiến hành xác minh. Luật không có gia hạn về thời hạn xác minh, nên tình trạng chấp hành viên vi phạm về thời hạn xác minh điều kiện thi hành án xảy ra nhiều, chưa có biện pháp khắc phục. Việc xác minh điều kiện thi hành án được tiến hành trong thời gian tự nguyện thi hành án; nếu người phải thi hành án tự nguyện thi hành án thì việc xác minh điều kiện thi hành án là không cần thiết.

Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:

Trường hợp này cần hiểu là, thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày và 10 ngày để tính thời gian xác minh là tính từ ngày ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu và trừ 02 ngày phân công chấp hành viên thì còn 08 ngày để chấp hành viên tiến hành xác minh lần đầu. Đồng thời, việc xác minh có thể bằng hình thức chấp hành viên ban hành công văn yêu cầu đơn vị, tổ chức đang nắm giữ thông tin về tài sản hoặc đang quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án cung cấp thông tin về tài sản, hoặc trực tiếp xác minh... Tuy nhiên, trên thực tế cũng có trường hợp cùng một lúc có nhiều quyết định thi hành án được ban hành, nên Tổng cục Thi hành án dân sự sẽ nghiên cứu, đề xuất vào nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

2. Vướng mắc về khoản phải thi hành án cần ưu tiên

Thứ nhất: Trên thực tế phát sinh một số khoản phải thi hành án cần ưu tiên nhưng chưa đưa vào khoản 1 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định về thứ tự thanh toán tiền thi hành án. Ví dụ: Bên phải thi hành án là đơn vị kinh tế phải thanh toán các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội; bên được thi hành án là cơ quan bảo hiểm xã hội, nên ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, nếu không được ưu tiên thanh toán, phải chia theo tỷ lệ (trong trường hợp có nhiều người được thi hành án) là chưa phù hợp.

Vướng mắc này xin hiểu như sau:

Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định về thứ tự thanh toán tiền thi hành án. Các trường hợp không được quy định ưu tiên thì sẽ được thanh toán theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Luật này về “các khoản phải thi hành khác theo bản án, quyết định”.

Thứ hai: Khoản án phí có được ưu tiên thanh toán trước nghĩa vụ được bảo đảm từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể (sau khi trừ đi các chi phí về thi hành án) hay không?

Vấn đề này được Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:

Khoản 3 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định: “Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về thi hành án”. Theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì chấp hành viên có quyền kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế, sau khi xử lý tài sản kê biên người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Như vậy, trong trường hợp xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp, thì số tiền thu được phải ưu tiên thanh toán cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp trước, mà không ưu tiên thanh toán khoản án phí. Tương tự đối với trường hợp bản án, quyết định tuyên kê biên để đảm bảo thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được khi xử lý tài sản sau khi trừ các chi phí về thi hành án được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ cụ thể mà bản án, quyết định đã tuyên, không ưu tiên thanh toán khoản án phí đối với bản án này

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: