Thứ tư 15/04/2026 07:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến góp ý dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi)

Luật Thanh tra năm 2010 đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động thanh tra, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước và công tác phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, qua 10 năm triển khai thực hiện, Luật Thanh tra năm 2010 cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế và xuất hiện yêu cầu mới đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung. Trên cơ sở nghiên cứu Dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi)[1] (Dự thảo Luật), tác giả bài viết đưa ra một số góp ý nhằm hoàn thiện đạo luật này.


1. Phạm vi điều chỉnh và giải thích từ ngữ

Thứ nhất, quy định về hoạt động kiểm tra và thanh tra nhân dân chưa tương thích với phạm vi điều chỉnh của Dự thảo Luật. Điều 1 Dự thảo Luật quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật gồm “tổ chức, hoạt động thanh tra của các cơ quan hành chính nhà nước, của các cơ quan khác của nhà nước”. Tuy vậy, Mục 2 Chương I (Điều 9, Điều 10) Dự thảo Luật lại quy định về phân định hoạt động thanh tra và kiểm tra; thẩm quyền, trách nhiệm tổ chức hoạt động kiểm tra. Nội dung này dường như chưa tương thích, không thuộc phạm vi điều chỉnh được xác định ngay từ đầu theo quy định tại Điều 1 Dự thảo Luật. Vì vậy, nhất thiết không nên đưa nội dung về kiểm tra vào Dự thảo Luật để bảo đảm tính hiệu lực và phạm vi tác động của văn bản pháp luật. Bên cạnh đó, nội dung về thanh tra nhân dân cũng không phải là nội hàm thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 Dự thảo Luật. Bởi lẽ, chức năng, nhiệm vụ của thanh tra nhân dân là giám sát, khác hoàn toàn với chức năng thanh tra (Điều 118 Dự thảo Luật).

Thứ hai, việc giải thích thuật ngữ “thanh tra”, “thanh tra hành chính” và “thanh tra chuyên ngành” không nằm trong điều luật về giải thích từ ngữ là chưa phù hợp. So với Luật Thanh tra năm 2004 và năm 2010, Dự thảo Luật đã chính thức đưa ra được định nghĩa và có sự giải thích rõ ràng về cụm từ “thanh tra” với tư cách là một thuật ngữ độc lập thay vì gắn liền với cụm từ thanh tra nhà nước như hai luật trên[2]. Tuy vậy, đúng ra phải được định vị tại Điều 2 về giải thích từ ngữ thì thuật ngữ thanh tra lại được giải thích tại khoản 1 Điều 9. Điều này thực sự chưa phù hợp vì diễn giải một từ ngữ mang tính phổ quát và được sử dụng nhiều lần trong chính văn bản đó thì về nguyên tắc cần được đưa lên phần giải thích từ ngữ, qua đó làm kim chỉ nam cho việc hiểu, nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất, minh thị. Mặt khác, nội dung này là quy phạm định nghĩa nên phải thuộc nội dung của Điều 2 về giải thích thuật ngữ sẽ hợp lý hơn. Do vậy, cần đưa việc giải thích thuật ngữ “thanh tra” đặt tại quy định của Điều 2 Dự thảo Luật. Tương tự như vậy, cũng cần đưa việc giải thích thuật ngữ “thanh tra hành chính” và “thanh tra chuyên ngành” theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Dự thảo Luật lên Điều 2 nhằm đạt được mục tiêu tương tự như thuật ngữ “thanh tra”.

2. Chủ thể có thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra

Theo quy định tại Điều 11 Dự thảo Luật, chủ thể có thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra được liệt kê bao gồm: (i) Thủ tướng Chính phủ; (ii) Tổng Thanh tra Chính phủ; (iii) Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; (iv) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Như vậy, ngoài các chức danh đã được liệt kê ở trên thì các chủ thể khác không được trao thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra trên thực tế. Song, điều này rõ ràng chưa có sự thống nhất và đồng bộ nội tại giữa các điều luật với nhau trong Dự thảo Luật. Quy định tại Điều 14 Dự thảo Luật đã liệt kê trong hệ thống hành chính nhà nước có các cơ quan thanh tra sau đây: (i) Thanh tra Chính phủ; (ii) Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là thanh tra bộ); (iii) Thanh tra tổng cục, cục và tương đương (sau đây gọi chung là thanh tra tổng cục, cục); (iv) Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là thanh tra tỉnh); (v) Thanh tra chuyên ngành thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh (sau đây gọi là thanh tra sở); (vi) Thanh tra một số quận, huyện, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là thanh tra huyện). Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 24 Dự thảo Luật thì thanh tra tổng cục, cục có trách nhiệm thanh tra vụ việc khác do bộ trưởng, tổng cục trưởng, cục trưởng giao và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị của thanh tra tổng cục, cục, quyết định xử lý về thanh tra của tổng cục trưởng, cục trưởng. Điều đó cho thấy, tổng cục trưởng, cục trưởng với tư cách là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp với cơ quan thanh tra tổng cục, cục được quyền giao cho cơ quan thanh tra thuộc quyền quản lý của mình tiến hành hoạt động thanh tra theo nhu cầu của hoạt động quản lý. Nói cách khác, các chủ thể trên có thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra trên thực tế. Vấn đề này cũng lặp lại tương tự đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và giám đốc sở (thanh tra huyện và thanh tra sở). Hơn nữa, về mặt lý luận, “thanh tra luôn gắn liền với quản lý nhà nước, với tư cách là một chức năng, một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, hoạt động thanh tra không thể tách rời hoạt động quản lý nhà nước”[3], “thanh tra không có mục đích tự thân mà là để phục vụ cho công tác quản lý điều hành của nhà nước ngày càng có hiệu quả, hiệu lực, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn”[4]. Quy định tại Điều 5 Dự thảo Luật cũng khẳng định chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước là “thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”. Như vậy, rõ ràng, với tư cách là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, tổng cục trưởng, cục trưởng, giám đốc sở và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải được trao thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra, qua đó bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành và lãnh đạo đối với hoạt động thanh tra - cơ quan giúp việc cho hoạt động quản lý của mình.

Vì vậy, cần phải điều chỉnh quy định tại khoản 1 Điều 11 Dự thảo Luật như sau:

“Các chức danh sau đây có thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra:

a) Thủ tướng Chính phủ;

b) Tổng Thanh tra Chính phủ;

c) Bộ trưởng, thủ trưởng có quan ngang bộ;

d) Tổng cục trưởng, cục trưởng và tương đương (sau đây gọi chung là tổng cục trưởng, cục trưởng);

đ) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh);

g) Giám đốc sở và tương đương (sau đây gọi chung là giám đốc sở);

h) Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện)”.

3. Các đơn vị hành chính cấp huyện được tổ chức thanh tra huyện

Theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Dự thảo Luật thì thanh tra huyện được tổ chức ở quận, huyện, thành phố trực thuộc trung ương khi thỏa mãn các điều kiện, tiêu chí theo quy định tại Điều 39 của Luật này. Tuy vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm: Quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Mặt khác, theo tinh thần tại khoản 1 Điều 39 Dự thảo Luật thì thanh tra huyện được thành lập ở huyện có một trong các tiêu chí sau đây: (i) Có dân số từ … dân trở lên; (ii) Thu ngân sách bình quân 05 năm từ … trở lên; (iii) Huyện miền núi, biên giới, hải đảo mà trung tâm hành chính huyện cách trung tâm hành chính tỉnh từ … km trở lên và có điều kiện đi lại khó khăn. Điều đó cho thấy, ở bất kì đơn vị hành chính cấp huyện nào của tỉnh (kể cả thị xã và thành phố thuộc tỉnh hay các đơn vị hành chính cấp huyện khác thuộc tỉnh) nếu đáp ứng các tiêu chí trên đều có thể thành lập thanh tra huyện nhằm bảo đảm hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiếp công dân đạt được hiệu quả. Việc liệt kê nhưng chưa đầy đủ như trên có thể dẫn đến cách hiểu một cách “máy móc” rằng chỉ được thành lập thanh tra huyện ở các đơn vị hành chính cấp huyện như huyện, quận và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương mà không bao gồm các đơn vị hành chính cấp huyện khác.

Như vậy, cần chỉnh lý quy định tại khoản 4 Điều 14 Dự thảo Luật như sau: “Thanh tra một số quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là thanh tra huyện) theo quy định tại Điều 39 của Luật này”. Điều này không những nhằm bảo đảm sự đồng bộ giữa Dự thảo Luật với Luật Tổ chức chính quyền địa phương về các đơn vị hành chính cấp huyện mà còn thể hiện đúng tinh thần của Dự thảo Luật trong việc thành lập thanh tra huyện ở các đơn vị hành chính cấp huyện khi đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chí mà không giới hạn bất kỳ một đơn hành chính cấp huyện cụ thể nào.

4. Quy định về cơ cấu, tổ chức của thanh tra huyện

Theo quy định tại Điều 38 Dự thảo Luật thì thanh tra huyện có chánh thanh tra, thanh tra viên và công chức thanh tra. Điều đó cho thấy thanh tra huyện không tồn tại chức danh phó chánh thanh tra huyện. Quy định này rõ ràng chưa tương thích với quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: “Bình quân mỗi phòng có 02 phó trưởng phòng. Căn cứ số lượng phòng chuyên môn được thành lập và tổng số lượng phó trưởng phòng, Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định cụ thể số lượng phó trưởng phòng của từng phòng chuyên môn cho phù hợp”. Điều đó cho thấy, với tư cách là cơ quan tương đương phòng, thanh tra huyện có ít nhất 02 phó chánh thanh tra. Mặt khác, việc không tồn tại chức danh phó chánh thanh tra của thanh tra huyện cũng không phù hợp về mặt thực tiễn. Lúc này, chánh thanh tra sẽ không có cấp phó giúp việc, các công việc thực sự sẽ khó đảm đương và hoàn thành với một khối lượng lớn công việc đều dồn về người đứng đầu. Trong khi đó, chức năng, nhiệm vụ của thanh tra huyện là khá rộng, không chỉ liên quan đến thanh tra mà còn khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và tiếp công dân (Điều 35 Dự thảo Luật). Địa bàn hoạt động của thanh tra huyện cũng tương đối rộng lớn, đặc biệt là ở những khu vực có đông dân cư, số lượng đơn vị hành chính cấp xã nhiều, kinh tế đang phát triển. Do vậy, sẽ thật khiếm khuyết khi chưa ghi nhận về chức danh phó chánh thanh tra trong tổ chức của thanh tra huyện. Vì thế, cần chỉnh lý quy định tại khoản 1 Điều 39 Dự thảo Luật như sau:

“Thanh tra huyện có chánh thanh tra, phó chánh thanh tra, thanh tra viên và công chức thanh tra.

Chánh thanh tra huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với chánh thanh tra tỉnh.

Phó chánh thanh tra huyện giúp chánh thanh tra huyện thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của chánh thanh tra huyện”.

5. Thẩm quyền, thời gian và trách nhiệm ban hành kế hoạch thanh tra

Thứ nhất, việc không quy định kế hoạch thanh tra của thanh tra tổng cục, thanh tra cục phải được tổng cục trưởng, cục trưởng ban hành hay phê duyệt là chưa phù hợp. Theo quy định tại Điều 24 Dự thảo Luật thì thanh tra tổng cục, cục có nhiệm vụ “xây dựng kế hoạch thanh tra gửi thanh tra bộ thẩm định, tổng hợp trong kế hoạch thanh tra của bộ, trình bộ trưởng ban hành”. Điều này dẫn đến thanh tra tổng cục, cục không bắt buộc phải có trách nhiệm gửi kế hoạch thanh tra cho tổng cục trưởng, cục trưởng ban hành hay phê duyệt. Quy định này rõ ràng là chưa đúng với bản chất của kế hoạch thanh tra và chưa cho thấy được hoạt động thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước. Cụ thể, từ quy định tại khoản 2 Điều 2, khoản 1 Điều 49 Dự thảo Luật cho thấy, kế hoạch thanh tra được xây dựng nhằm đáp ứng đồng thời hai mục tiêu, thứ nhất là để thực hiện Định hướng hoạt động thanh tra hằng năm và thứ hai là theo yêu cầu quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Theo tinh thần của Dự thảo Luật thì tổng cục trưởng, cục trưởng chính là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp với thanh tra tổng cục, cục. Vậy, nếu không trao thẩm quyền ban hành hoặc ít nhất là phê duyệt kế hoạch thanh tra của thanh tra tổng cục, cục đối với tổng cục trưởng, cục trưởng thì khả năng bảo đảm kế hoạch thanh tra đạt được đồng thời hai mục tiêu như trên là không khả thi. Rõ ràng, xuất phát từ yêu cầu của hoạt động quản lý, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong chừng mực nào đó sẽ nảy sinh nhu cầu thanh tra đối với các đối tượng quản lý nhất định, vì vậy, để bảo đảm hoàn thành được mục tiêu đó, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phải có thẩm quyền ban hành kế hoạch thanh tra nhằm điều hướng, bảo đảm hoạt động thanh tra phục vụ cho hoạt động quản lý của mình đạt được hiệu quả. Mặt khác, việc không ghi nhận việc ban hành hay phê duyệt kế hoạch thanh tra của tổng cục trưởng, cục trưởng sẽ làm giảm hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý của những chủ thể này đối với cơ quan thanh tra. Điều này cũng không bảo đảm sự tương thích nội tại trong quy định của Dự thảo Luật bởi quy định tại Điều 23 Dự thảo Luật đã khẳng định rất rõ: “Thanh tra tổng cục, cục là cơ quan của tổng cục, cục để thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và thanh tra tổng cục, cục chịu sự chỉ đạo, điều hành của tổng cục trưởng, cục trưởng, sự hướng dẫn nghiệp vụ của thanh tra bộ”. Hơn nữa, các cơ quan thanh tra khác như thanh tra bộ, thanh tra tỉnh, thanh tra sở và thanh tra huyện, kế hoạch thanh tra của các cơ quan này đều phải được ban hành bởi thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước theo quy định tương ứng tại Điều 20, Điều 28, Điều 32, Điều 36 Dự thảo Luật. Điều này thể hiện rất rõ vai trò chỉ đạo, điều hành của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan thanh tra, thể hiện sự giúp việc của cơ quan thanh tra đối với cơ quan quản lý nhà nước.

Do vậy, cần chỉnh lý quy định tại khoản 1 Điều 24 Dự thảo Luật như sau: “Xây dựng kế hoạch thanh tra trình tổng cục trưởng, cục trưởng ban hành, gửi kế hoạch thanh tra cho thanh tra bộ thẩm định, tổng hợp trong kế hoạch thanh tra của bộ, trình bộ trưởng ban hành”.

Thứ hai, quy định về thời gian ban hành kế hoạch thanh tra của thanh tra sở chưa phù hợp. Kế hoạch thanh tra về nguyên tắc sẽ được tất cả các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra xây dựng và thực hiện cho cơ quan mình vào năm sau. Nguyên lý thiết kế là cơ quan thanh tra tra cấp trên sẽ xây dựng kế hoạch thanh tra trước và cơ quan thanh cấp dưới sẽ tiến hành sau nhằm bảo đảm sự đồng bộ, tránh việc trùng lặp về nội dung, phạm vi, đối tượng thanh tra. Theo quy định tại khoản 5 Điều 49 Dự thảo Luật thì chậm nhất vào ngày 30/9 hàng năm, chánh thanh tra sở căn cứ vào kế hoạch thanh tra của thanh tra bộ, thanh tra tỉnh và yêu cầu công tác quản lý nhà nước trình thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thông qua kế hoạch thanh tra. Theo quy định trên thì kế hoạch thanh tra của thanh tra sở được xây dựng dựa trên kế hoạch thanh tra của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh. Tuy nhiên, Dự thảo Luật quy định kế hoạch thanh tra của thanh tra bộ, thanh tra tỉnh được ban hành chậm nhất vào ngày 31/10 hằng năm. Do vậy, cần điều chỉnh lại cho phù hợp để bảo đảm nguyên tắc thiết kế, xây dựng kế hoạch thanh tra của các cơ quan thanh tra và sự hợp lý về mặt thời gian.

Thứ ba, chưa quy định về việc xây dựng kế hoạch thanh tra của thanh tra huyện và thanh tra tổng cục, cục tại Điều 49 Dự thảo Luật. Theo quy định tại Điều 14, Điều 39 Dự thảo Luật thì cơ quan thanh tra huyện nếu đáp ứng các tiêu chí và điều kiện vẫn được tổ chức và hoạt động trên thực tế. Mặt khác, theo quy định tại Điều 36 Dự thảo Luật thì thanh tra huyện cũng có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thanh tra trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch đó. Như vậy, rõ ràng, cơ quan thanh tra huyện vẫn có thẩm quyền ban hành kế hoạch thanh tra và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra. Tuy vậy, quy định tại Điều 49 Dự thảo Luật về việc xây dựng kế hoạch thanh tra lại hoàn toàn không đề cập đến thời gian ban hành, chủ thể ban hành đối với cơ quan này. Điều này cũng lặp lại tương tự đối với kế hoạch thanh tra của thanh tra tổng cục và cục. Theo quy định tại Điều 24 Dự thảo Luật thì thanh tra tổng cục và cục vẫn phải xây dựng kế hoạch thanh tra cho cơ quan mình và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra đó. Thiết nghĩ, để bảo đảm tính đồng bộ, căn pháp lý và nguyên lý thiết kế việc xây dựng kế hoạch thanh tra cũng như xác định rõ về thời hạn, chủ thể ban hành đối với kế hoạch thanh tra của thanh tra huyện, thanh tra tổng cục, cục thì quy định tại Điều 49 Dự thảo Luật cần điều chỉnh và ghi nhận về vấn đề này.

Như vậy, thông qua các phân tích ở trên, Điều 49 của Dự thảo Luật cần điều chỉnh như sau:

“4. Chậm nhất vào ngày 31 tháng 10 hằng năm, chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra tỉnh, chánh thanh tra tổng cục và cục căn cứ vào định hướng chương trình thanh tra, hướng dẫn của Tổng Thanh tra Chính phủ và yêu cầu công tác quản lý của bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổng cục và cục trình thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phê duyệt kế hoạch thanh tra.

Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổng cục trưởng, cục trưởng có trách nhiệm xem xét, phê duyệt kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 15 tháng 11 hằng năm.

5. Chậm nhất vào ngày 30 tháng 11 hằng năm, chánh thanh tra sở, chánh thanh tra huyện căn cứ vào kế hoạch thanh tra của thanh tra bộ, thanh tra tổng cục, cục, thanh tra tỉnh và yêu cầu công tác quản lý của sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện trình thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thông qua kế hoạch thanh tra của thanh tra sở, thanh tra huyện. Đối với kế hoạch thanh tra của thanh tra sở còn gửi cho thanh tra tỉnh để tổng hợp vào kế hoạch thanh tra của tỉnh trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ban hành”.

6. Xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra và thẩm quyền xử lý chồng chéo, trùng lặp

Thứ nhất, quy định tại Điều 56 Dự thảo Luật chưa liệt kê được đầy đủ các trường hợp còn chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các cơ quan thanh tra với nhau. Xuất phát từ hoạt động quản lý về mặt bản chất khó tránh khỏi việc chồng chéo, trùng lặp giữa các ngành, lĩnh vực và nội dung quản lý. Vì lẽ đó, thẩm quyền, chức năng của các cơ quan thanh tra trong chừng mực nào đó vẫn có sự đan xen, giao thoa. Trách nhiệm của Dự thảo Luật là phải có những quy định nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự chồng chéo, trùng lặp giữa các cơ quan thanh tra với nhau trong quá trình thực hiện chức năng của mình. Điều 56 Dự thảo Luật đã đề cập và đưa ra được bài toán để giải quyết, đây được xem là một hướng đi đúng đắn và tiến bộ. Tuy vậy, Dự thảo Luật chỉ mới liệt kê được một số trường hợp chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các cơ quan sau đây: (i) Thanh tra Chính phủ và thanh tra bộ, thanh tra tỉnh; (ii) Thanh tra bộ và thanh tra tỉnh; (iii) Thanh tra tỉnh và thanh tra tổng cục, thanh tra cục mà chưa đề cập đến tổng thể các trường hợp có thể nảy sinh chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra giữa các cơ quan thanh tra như: (1) Thanh tra bộ với thanh tra sở; (2) Thanh tra tổng cục, cục với thanh tra sở; (3) Thanh tra tỉnh với thanh tra sở và (4) Thanh tra huyện với thanh tra sở. Vì vậy, để bảo đảm hoạt động thanh tra đạt được hiệu lực, hiệu quả trên thực tế, tránh tình trạng “dẫm chân lên nhau” khi thực hiện chức năng của mình, góp phần giảm thiểu việc phiền hà, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra[5] cần phải chỉnh lý và bổ sung nội dung như sau vào quy định tại Điều 56 Dự thảo Luật:

“Khi có sự chồng chéo, trùng lặp giữa hoạt động của thanh tra bộ; thanh tra tổng cục, cục với thanh tra sở thì hoạt động của thanh tra sở được đình chỉ.

Khi có sự chồng chéo, trùng lặp giữa hoạt động của thanh tra tỉnh, thanh tra huyện với thanh tra sở thì chánh thanh tra sở báo cáo, đề xuất chánh thanh tra tỉnh để thống nhất phương án xử lý”

Thứ hai, quy định về thẩm quyền xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra vẫn còn thiếu. Khoản 3 Điều 56 Dự thảo Luật quy định: “Khi có sự chồng chéo, trùng lặp giữa hoạt động của thanh tra tỉnh và thanh tra tổng cục, thanh tra cục thì chánh thanh tra tỉnh báo cáo, đề xuất chánh thanh tra bộ để thống nhất phương án xử lý; trường hợp không thống nhất được thì báo cáo Tổng Thanh tra Chính phủ xem xét, quyết định”. Điều đó cho thấy, Tổng Thanh tra Chính phủ cũng có thẩm quyền xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi thanh tra giữa các cơ quan thanh tra tỉnh với thanh tra tổng cục, thanh tra cục. Tuy vậy, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 18 Dự thảo Luật chỉ xác định Tổng Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ chủ trì xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các cơ quan thanh tra bộ, thanh tra tỉnh mà chưa liệt kê về trường hợp trên làm căn cứ pháp lý để Tổng Thanh tra Chính phủ có cơ sở thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Vì lẽ đó, cần bổ sung nội dung này tại khoản 2 Điều 18 cho tương thích và đồng bộ giữa các điều luật với nhau về cùng một vấn đề. Quy định tại điểm d khoản 2 Điều 18 Dự thảo Luật cần điều chỉnh như sau: “Chủ trì xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các cơ quan thanh tra bộ, thanh tra tỉnh và thanh tra tổng cục, cục.”

Bên cạnh đó, cần ghi nhận thêm thẩm quyền của chánh thanh tra tỉnh trong việc xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra giữa thanh tra tỉnh và thanh tra sở. Cụ thể, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 29 Dự thảo Luật thì: “Chánh thanh tra tỉnh có nhiệm vụ chủ trì xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các thanh tra sở, giữa thanh tra sở với thanh tra huyện; chủ trì phối hợp với chánh thanh tra bộ xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra trên địa bàn tỉnh”. Như vậy, điều luật trên vẫn chưa trao thẩm quyền xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra giữa thanh tra tỉnh và thanh tra sở của chánh thanh tra tỉnh. Vì vậy, cần thiết phải bổ sung nhiệm vụ này đối với chánh thanh tra tỉnh làm cơ sở pháp lý xử lý vấn đề trên. Quy định tại điểm c khoản 1 Điều 29 Dự thảo Luật cần điều chỉnh như sau: “Chánh thanh tra tỉnh có nhiệm vụ chủ trì xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các thanh tra sở, giữa thanh tra sở với thanh tra tỉnh và thanh tra huyện; chủ trì phối hợp với chánh thanh tra bộ xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra trên địa bàn tỉnh”.

ThS. Võ Tấn Đào
Khoa Luật hành chính - nhà nước, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Toàn văn dự thảo xem tại: https://duthaoonline.quochoi.vn/Pages/dsduthao/chitietduthao.aspx?id=425, truy cập ngày 04/8/2021.

[2] Khoản 1 Điều 4 Luật Thanh tra năm 2004 và khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010.

[3] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Tập bài giảng Pháp luật thanh tra, khiếu nại và tố cáo, Nxb.. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, năm 2017, tr. 23.

[4] Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 06/2012 - Chủ đề Thanh tra và pháp luật về thanh tra, Hà Nội, năm 2012, tr. 11.

[5] Đáp ứng nguyên tắc của hoạt động thanh là “không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác” (khoản 2 Điều 4 Dự thảo Luật).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: