Thứ ba 22/09/2026 20:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến góp ý dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi)

Luật Thanh tra năm 2010 đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động thanh tra, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước và công tác phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, qua 10 năm triển khai thực hiện, Luật Thanh tra năm 2010 cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế và xuất hiện yêu cầu mới đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung. Trên cơ sở nghiên cứu Dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi)[1] (Dự thảo Luật), tác giả bài viết đưa ra một số góp ý nhằm hoàn thiện đạo luật này.


1. Phạm vi điều chỉnh và giải thích từ ngữ

Thứ nhất, quy định về hoạt động kiểm tra và thanh tra nhân dân chưa tương thích với phạm vi điều chỉnh của Dự thảo Luật. Điều 1 Dự thảo Luật quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật gồm “tổ chức, hoạt động thanh tra của các cơ quan hành chính nhà nước, của các cơ quan khác của nhà nước”. Tuy vậy, Mục 2 Chương I (Điều 9, Điều 10) Dự thảo Luật lại quy định về phân định hoạt động thanh tra và kiểm tra; thẩm quyền, trách nhiệm tổ chức hoạt động kiểm tra. Nội dung này dường như chưa tương thích, không thuộc phạm vi điều chỉnh được xác định ngay từ đầu theo quy định tại Điều 1 Dự thảo Luật. Vì vậy, nhất thiết không nên đưa nội dung về kiểm tra vào Dự thảo Luật để bảo đảm tính hiệu lực và phạm vi tác động của văn bản pháp luật. Bên cạnh đó, nội dung về thanh tra nhân dân cũng không phải là nội hàm thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 Dự thảo Luật. Bởi lẽ, chức năng, nhiệm vụ của thanh tra nhân dân là giám sát, khác hoàn toàn với chức năng thanh tra (Điều 118 Dự thảo Luật).

Thứ hai, việc giải thích thuật ngữ “thanh tra”, “thanh tra hành chính” và “thanh tra chuyên ngành” không nằm trong điều luật về giải thích từ ngữ là chưa phù hợp. So với Luật Thanh tra năm 2004 và năm 2010, Dự thảo Luật đã chính thức đưa ra được định nghĩa và có sự giải thích rõ ràng về cụm từ “thanh tra” với tư cách là một thuật ngữ độc lập thay vì gắn liền với cụm từ thanh tra nhà nước như hai luật trên[2]. Tuy vậy, đúng ra phải được định vị tại Điều 2 về giải thích từ ngữ thì thuật ngữ thanh tra lại được giải thích tại khoản 1 Điều 9. Điều này thực sự chưa phù hợp vì diễn giải một từ ngữ mang tính phổ quát và được sử dụng nhiều lần trong chính văn bản đó thì về nguyên tắc cần được đưa lên phần giải thích từ ngữ, qua đó làm kim chỉ nam cho việc hiểu, nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất, minh thị. Mặt khác, nội dung này là quy phạm định nghĩa nên phải thuộc nội dung của Điều 2 về giải thích thuật ngữ sẽ hợp lý hơn. Do vậy, cần đưa việc giải thích thuật ngữ “thanh tra” đặt tại quy định của Điều 2 Dự thảo Luật. Tương tự như vậy, cũng cần đưa việc giải thích thuật ngữ “thanh tra hành chính” và “thanh tra chuyên ngành” theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Dự thảo Luật lên Điều 2 nhằm đạt được mục tiêu tương tự như thuật ngữ “thanh tra”.

2. Chủ thể có thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra

Theo quy định tại Điều 11 Dự thảo Luật, chủ thể có thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra được liệt kê bao gồm: (i) Thủ tướng Chính phủ; (ii) Tổng Thanh tra Chính phủ; (iii) Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; (iv) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Như vậy, ngoài các chức danh đã được liệt kê ở trên thì các chủ thể khác không được trao thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra trên thực tế. Song, điều này rõ ràng chưa có sự thống nhất và đồng bộ nội tại giữa các điều luật với nhau trong Dự thảo Luật. Quy định tại Điều 14 Dự thảo Luật đã liệt kê trong hệ thống hành chính nhà nước có các cơ quan thanh tra sau đây: (i) Thanh tra Chính phủ; (ii) Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là thanh tra bộ); (iii) Thanh tra tổng cục, cục và tương đương (sau đây gọi chung là thanh tra tổng cục, cục); (iv) Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là thanh tra tỉnh); (v) Thanh tra chuyên ngành thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh (sau đây gọi là thanh tra sở); (vi) Thanh tra một số quận, huyện, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là thanh tra huyện). Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 24 Dự thảo Luật thì thanh tra tổng cục, cục có trách nhiệm thanh tra vụ việc khác do bộ trưởng, tổng cục trưởng, cục trưởng giao và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị của thanh tra tổng cục, cục, quyết định xử lý về thanh tra của tổng cục trưởng, cục trưởng. Điều đó cho thấy, tổng cục trưởng, cục trưởng với tư cách là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp với cơ quan thanh tra tổng cục, cục được quyền giao cho cơ quan thanh tra thuộc quyền quản lý của mình tiến hành hoạt động thanh tra theo nhu cầu của hoạt động quản lý. Nói cách khác, các chủ thể trên có thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra trên thực tế. Vấn đề này cũng lặp lại tương tự đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và giám đốc sở (thanh tra huyện và thanh tra sở). Hơn nữa, về mặt lý luận, “thanh tra luôn gắn liền với quản lý nhà nước, với tư cách là một chức năng, một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, hoạt động thanh tra không thể tách rời hoạt động quản lý nhà nước”[3], “thanh tra không có mục đích tự thân mà là để phục vụ cho công tác quản lý điều hành của nhà nước ngày càng có hiệu quả, hiệu lực, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn”[4]. Quy định tại Điều 5 Dự thảo Luật cũng khẳng định chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước là “thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”. Như vậy, rõ ràng, với tư cách là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, tổng cục trưởng, cục trưởng, giám đốc sở và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải được trao thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra, qua đó bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành và lãnh đạo đối với hoạt động thanh tra - cơ quan giúp việc cho hoạt động quản lý của mình.

Vì vậy, cần phải điều chỉnh quy định tại khoản 1 Điều 11 Dự thảo Luật như sau:

“Các chức danh sau đây có thẩm quyền tổ chức hoạt động thanh tra:

a) Thủ tướng Chính phủ;

b) Tổng Thanh tra Chính phủ;

c) Bộ trưởng, thủ trưởng có quan ngang bộ;

d) Tổng cục trưởng, cục trưởng và tương đương (sau đây gọi chung là tổng cục trưởng, cục trưởng);

đ) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh);

g) Giám đốc sở và tương đương (sau đây gọi chung là giám đốc sở);

h) Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện)”.

3. Các đơn vị hành chính cấp huyện được tổ chức thanh tra huyện

Theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Dự thảo Luật thì thanh tra huyện được tổ chức ở quận, huyện, thành phố trực thuộc trung ương khi thỏa mãn các điều kiện, tiêu chí theo quy định tại Điều 39 của Luật này. Tuy vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm: Quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Mặt khác, theo tinh thần tại khoản 1 Điều 39 Dự thảo Luật thì thanh tra huyện được thành lập ở huyện có một trong các tiêu chí sau đây: (i) Có dân số từ … dân trở lên; (ii) Thu ngân sách bình quân 05 năm từ … trở lên; (iii) Huyện miền núi, biên giới, hải đảo mà trung tâm hành chính huyện cách trung tâm hành chính tỉnh từ … km trở lên và có điều kiện đi lại khó khăn. Điều đó cho thấy, ở bất kì đơn vị hành chính cấp huyện nào của tỉnh (kể cả thị xã và thành phố thuộc tỉnh hay các đơn vị hành chính cấp huyện khác thuộc tỉnh) nếu đáp ứng các tiêu chí trên đều có thể thành lập thanh tra huyện nhằm bảo đảm hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiếp công dân đạt được hiệu quả. Việc liệt kê nhưng chưa đầy đủ như trên có thể dẫn đến cách hiểu một cách “máy móc” rằng chỉ được thành lập thanh tra huyện ở các đơn vị hành chính cấp huyện như huyện, quận và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương mà không bao gồm các đơn vị hành chính cấp huyện khác.

Như vậy, cần chỉnh lý quy định tại khoản 4 Điều 14 Dự thảo Luật như sau: “Thanh tra một số quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là thanh tra huyện) theo quy định tại Điều 39 của Luật này”. Điều này không những nhằm bảo đảm sự đồng bộ giữa Dự thảo Luật với Luật Tổ chức chính quyền địa phương về các đơn vị hành chính cấp huyện mà còn thể hiện đúng tinh thần của Dự thảo Luật trong việc thành lập thanh tra huyện ở các đơn vị hành chính cấp huyện khi đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chí mà không giới hạn bất kỳ một đơn hành chính cấp huyện cụ thể nào.

4. Quy định về cơ cấu, tổ chức của thanh tra huyện

Theo quy định tại Điều 38 Dự thảo Luật thì thanh tra huyện có chánh thanh tra, thanh tra viên và công chức thanh tra. Điều đó cho thấy thanh tra huyện không tồn tại chức danh phó chánh thanh tra huyện. Quy định này rõ ràng chưa tương thích với quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: “Bình quân mỗi phòng có 02 phó trưởng phòng. Căn cứ số lượng phòng chuyên môn được thành lập và tổng số lượng phó trưởng phòng, Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định cụ thể số lượng phó trưởng phòng của từng phòng chuyên môn cho phù hợp”. Điều đó cho thấy, với tư cách là cơ quan tương đương phòng, thanh tra huyện có ít nhất 02 phó chánh thanh tra. Mặt khác, việc không tồn tại chức danh phó chánh thanh tra của thanh tra huyện cũng không phù hợp về mặt thực tiễn. Lúc này, chánh thanh tra sẽ không có cấp phó giúp việc, các công việc thực sự sẽ khó đảm đương và hoàn thành với một khối lượng lớn công việc đều dồn về người đứng đầu. Trong khi đó, chức năng, nhiệm vụ của thanh tra huyện là khá rộng, không chỉ liên quan đến thanh tra mà còn khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và tiếp công dân (Điều 35 Dự thảo Luật). Địa bàn hoạt động của thanh tra huyện cũng tương đối rộng lớn, đặc biệt là ở những khu vực có đông dân cư, số lượng đơn vị hành chính cấp xã nhiều, kinh tế đang phát triển. Do vậy, sẽ thật khiếm khuyết khi chưa ghi nhận về chức danh phó chánh thanh tra trong tổ chức của thanh tra huyện. Vì thế, cần chỉnh lý quy định tại khoản 1 Điều 39 Dự thảo Luật như sau:

“Thanh tra huyện có chánh thanh tra, phó chánh thanh tra, thanh tra viên và công chức thanh tra.

Chánh thanh tra huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với chánh thanh tra tỉnh.

Phó chánh thanh tra huyện giúp chánh thanh tra huyện thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của chánh thanh tra huyện”.

5. Thẩm quyền, thời gian và trách nhiệm ban hành kế hoạch thanh tra

Thứ nhất, việc không quy định kế hoạch thanh tra của thanh tra tổng cục, thanh tra cục phải được tổng cục trưởng, cục trưởng ban hành hay phê duyệt là chưa phù hợp. Theo quy định tại Điều 24 Dự thảo Luật thì thanh tra tổng cục, cục có nhiệm vụ “xây dựng kế hoạch thanh tra gửi thanh tra bộ thẩm định, tổng hợp trong kế hoạch thanh tra của bộ, trình bộ trưởng ban hành”. Điều này dẫn đến thanh tra tổng cục, cục không bắt buộc phải có trách nhiệm gửi kế hoạch thanh tra cho tổng cục trưởng, cục trưởng ban hành hay phê duyệt. Quy định này rõ ràng là chưa đúng với bản chất của kế hoạch thanh tra và chưa cho thấy được hoạt động thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước. Cụ thể, từ quy định tại khoản 2 Điều 2, khoản 1 Điều 49 Dự thảo Luật cho thấy, kế hoạch thanh tra được xây dựng nhằm đáp ứng đồng thời hai mục tiêu, thứ nhất là để thực hiện Định hướng hoạt động thanh tra hằng năm và thứ hai là theo yêu cầu quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Theo tinh thần của Dự thảo Luật thì tổng cục trưởng, cục trưởng chính là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp với thanh tra tổng cục, cục. Vậy, nếu không trao thẩm quyền ban hành hoặc ít nhất là phê duyệt kế hoạch thanh tra của thanh tra tổng cục, cục đối với tổng cục trưởng, cục trưởng thì khả năng bảo đảm kế hoạch thanh tra đạt được đồng thời hai mục tiêu như trên là không khả thi. Rõ ràng, xuất phát từ yêu cầu của hoạt động quản lý, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong chừng mực nào đó sẽ nảy sinh nhu cầu thanh tra đối với các đối tượng quản lý nhất định, vì vậy, để bảo đảm hoàn thành được mục tiêu đó, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phải có thẩm quyền ban hành kế hoạch thanh tra nhằm điều hướng, bảo đảm hoạt động thanh tra phục vụ cho hoạt động quản lý của mình đạt được hiệu quả. Mặt khác, việc không ghi nhận việc ban hành hay phê duyệt kế hoạch thanh tra của tổng cục trưởng, cục trưởng sẽ làm giảm hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý của những chủ thể này đối với cơ quan thanh tra. Điều này cũng không bảo đảm sự tương thích nội tại trong quy định của Dự thảo Luật bởi quy định tại Điều 23 Dự thảo Luật đã khẳng định rất rõ: “Thanh tra tổng cục, cục là cơ quan của tổng cục, cục để thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và thanh tra tổng cục, cục chịu sự chỉ đạo, điều hành của tổng cục trưởng, cục trưởng, sự hướng dẫn nghiệp vụ của thanh tra bộ”. Hơn nữa, các cơ quan thanh tra khác như thanh tra bộ, thanh tra tỉnh, thanh tra sở và thanh tra huyện, kế hoạch thanh tra của các cơ quan này đều phải được ban hành bởi thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước theo quy định tương ứng tại Điều 20, Điều 28, Điều 32, Điều 36 Dự thảo Luật. Điều này thể hiện rất rõ vai trò chỉ đạo, điều hành của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan thanh tra, thể hiện sự giúp việc của cơ quan thanh tra đối với cơ quan quản lý nhà nước.

Do vậy, cần chỉnh lý quy định tại khoản 1 Điều 24 Dự thảo Luật như sau: “Xây dựng kế hoạch thanh tra trình tổng cục trưởng, cục trưởng ban hành, gửi kế hoạch thanh tra cho thanh tra bộ thẩm định, tổng hợp trong kế hoạch thanh tra của bộ, trình bộ trưởng ban hành”.

Thứ hai, quy định về thời gian ban hành kế hoạch thanh tra của thanh tra sở chưa phù hợp. Kế hoạch thanh tra về nguyên tắc sẽ được tất cả các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra xây dựng và thực hiện cho cơ quan mình vào năm sau. Nguyên lý thiết kế là cơ quan thanh tra tra cấp trên sẽ xây dựng kế hoạch thanh tra trước và cơ quan thanh cấp dưới sẽ tiến hành sau nhằm bảo đảm sự đồng bộ, tránh việc trùng lặp về nội dung, phạm vi, đối tượng thanh tra. Theo quy định tại khoản 5 Điều 49 Dự thảo Luật thì chậm nhất vào ngày 30/9 hàng năm, chánh thanh tra sở căn cứ vào kế hoạch thanh tra của thanh tra bộ, thanh tra tỉnh và yêu cầu công tác quản lý nhà nước trình thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thông qua kế hoạch thanh tra. Theo quy định trên thì kế hoạch thanh tra của thanh tra sở được xây dựng dựa trên kế hoạch thanh tra của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh. Tuy nhiên, Dự thảo Luật quy định kế hoạch thanh tra của thanh tra bộ, thanh tra tỉnh được ban hành chậm nhất vào ngày 31/10 hằng năm. Do vậy, cần điều chỉnh lại cho phù hợp để bảo đảm nguyên tắc thiết kế, xây dựng kế hoạch thanh tra của các cơ quan thanh tra và sự hợp lý về mặt thời gian.

Thứ ba, chưa quy định về việc xây dựng kế hoạch thanh tra của thanh tra huyện và thanh tra tổng cục, cục tại Điều 49 Dự thảo Luật. Theo quy định tại Điều 14, Điều 39 Dự thảo Luật thì cơ quan thanh tra huyện nếu đáp ứng các tiêu chí và điều kiện vẫn được tổ chức và hoạt động trên thực tế. Mặt khác, theo quy định tại Điều 36 Dự thảo Luật thì thanh tra huyện cũng có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thanh tra trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch đó. Như vậy, rõ ràng, cơ quan thanh tra huyện vẫn có thẩm quyền ban hành kế hoạch thanh tra và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra. Tuy vậy, quy định tại Điều 49 Dự thảo Luật về việc xây dựng kế hoạch thanh tra lại hoàn toàn không đề cập đến thời gian ban hành, chủ thể ban hành đối với cơ quan này. Điều này cũng lặp lại tương tự đối với kế hoạch thanh tra của thanh tra tổng cục và cục. Theo quy định tại Điều 24 Dự thảo Luật thì thanh tra tổng cục và cục vẫn phải xây dựng kế hoạch thanh tra cho cơ quan mình và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra đó. Thiết nghĩ, để bảo đảm tính đồng bộ, căn pháp lý và nguyên lý thiết kế việc xây dựng kế hoạch thanh tra cũng như xác định rõ về thời hạn, chủ thể ban hành đối với kế hoạch thanh tra của thanh tra huyện, thanh tra tổng cục, cục thì quy định tại Điều 49 Dự thảo Luật cần điều chỉnh và ghi nhận về vấn đề này.

Như vậy, thông qua các phân tích ở trên, Điều 49 của Dự thảo Luật cần điều chỉnh như sau:

“4. Chậm nhất vào ngày 31 tháng 10 hằng năm, chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra tỉnh, chánh thanh tra tổng cục và cục căn cứ vào định hướng chương trình thanh tra, hướng dẫn của Tổng Thanh tra Chính phủ và yêu cầu công tác quản lý của bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổng cục và cục trình thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phê duyệt kế hoạch thanh tra.

Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổng cục trưởng, cục trưởng có trách nhiệm xem xét, phê duyệt kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 15 tháng 11 hằng năm.

5. Chậm nhất vào ngày 30 tháng 11 hằng năm, chánh thanh tra sở, chánh thanh tra huyện căn cứ vào kế hoạch thanh tra của thanh tra bộ, thanh tra tổng cục, cục, thanh tra tỉnh và yêu cầu công tác quản lý của sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện trình thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thông qua kế hoạch thanh tra của thanh tra sở, thanh tra huyện. Đối với kế hoạch thanh tra của thanh tra sở còn gửi cho thanh tra tỉnh để tổng hợp vào kế hoạch thanh tra của tỉnh trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ban hành”.

6. Xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra và thẩm quyền xử lý chồng chéo, trùng lặp

Thứ nhất, quy định tại Điều 56 Dự thảo Luật chưa liệt kê được đầy đủ các trường hợp còn chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các cơ quan thanh tra với nhau. Xuất phát từ hoạt động quản lý về mặt bản chất khó tránh khỏi việc chồng chéo, trùng lặp giữa các ngành, lĩnh vực và nội dung quản lý. Vì lẽ đó, thẩm quyền, chức năng của các cơ quan thanh tra trong chừng mực nào đó vẫn có sự đan xen, giao thoa. Trách nhiệm của Dự thảo Luật là phải có những quy định nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự chồng chéo, trùng lặp giữa các cơ quan thanh tra với nhau trong quá trình thực hiện chức năng của mình. Điều 56 Dự thảo Luật đã đề cập và đưa ra được bài toán để giải quyết, đây được xem là một hướng đi đúng đắn và tiến bộ. Tuy vậy, Dự thảo Luật chỉ mới liệt kê được một số trường hợp chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các cơ quan sau đây: (i) Thanh tra Chính phủ và thanh tra bộ, thanh tra tỉnh; (ii) Thanh tra bộ và thanh tra tỉnh; (iii) Thanh tra tỉnh và thanh tra tổng cục, thanh tra cục mà chưa đề cập đến tổng thể các trường hợp có thể nảy sinh chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra giữa các cơ quan thanh tra như: (1) Thanh tra bộ với thanh tra sở; (2) Thanh tra tổng cục, cục với thanh tra sở; (3) Thanh tra tỉnh với thanh tra sở và (4) Thanh tra huyện với thanh tra sở. Vì vậy, để bảo đảm hoạt động thanh tra đạt được hiệu lực, hiệu quả trên thực tế, tránh tình trạng “dẫm chân lên nhau” khi thực hiện chức năng của mình, góp phần giảm thiểu việc phiền hà, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra[5] cần phải chỉnh lý và bổ sung nội dung như sau vào quy định tại Điều 56 Dự thảo Luật:

“Khi có sự chồng chéo, trùng lặp giữa hoạt động của thanh tra bộ; thanh tra tổng cục, cục với thanh tra sở thì hoạt động của thanh tra sở được đình chỉ.

Khi có sự chồng chéo, trùng lặp giữa hoạt động của thanh tra tỉnh, thanh tra huyện với thanh tra sở thì chánh thanh tra sở báo cáo, đề xuất chánh thanh tra tỉnh để thống nhất phương án xử lý”

Thứ hai, quy định về thẩm quyền xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra vẫn còn thiếu. Khoản 3 Điều 56 Dự thảo Luật quy định: “Khi có sự chồng chéo, trùng lặp giữa hoạt động của thanh tra tỉnh và thanh tra tổng cục, thanh tra cục thì chánh thanh tra tỉnh báo cáo, đề xuất chánh thanh tra bộ để thống nhất phương án xử lý; trường hợp không thống nhất được thì báo cáo Tổng Thanh tra Chính phủ xem xét, quyết định”. Điều đó cho thấy, Tổng Thanh tra Chính phủ cũng có thẩm quyền xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi thanh tra giữa các cơ quan thanh tra tỉnh với thanh tra tổng cục, thanh tra cục. Tuy vậy, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 18 Dự thảo Luật chỉ xác định Tổng Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ chủ trì xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các cơ quan thanh tra bộ, thanh tra tỉnh mà chưa liệt kê về trường hợp trên làm căn cứ pháp lý để Tổng Thanh tra Chính phủ có cơ sở thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Vì lẽ đó, cần bổ sung nội dung này tại khoản 2 Điều 18 cho tương thích và đồng bộ giữa các điều luật với nhau về cùng một vấn đề. Quy định tại điểm d khoản 2 Điều 18 Dự thảo Luật cần điều chỉnh như sau: “Chủ trì xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các cơ quan thanh tra bộ, thanh tra tỉnh và thanh tra tổng cục, cục.”

Bên cạnh đó, cần ghi nhận thêm thẩm quyền của chánh thanh tra tỉnh trong việc xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra giữa thanh tra tỉnh và thanh tra sở. Cụ thể, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 29 Dự thảo Luật thì: “Chánh thanh tra tỉnh có nhiệm vụ chủ trì xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các thanh tra sở, giữa thanh tra sở với thanh tra huyện; chủ trì phối hợp với chánh thanh tra bộ xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra trên địa bàn tỉnh”. Như vậy, điều luật trên vẫn chưa trao thẩm quyền xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra giữa thanh tra tỉnh và thanh tra sở của chánh thanh tra tỉnh. Vì vậy, cần thiết phải bổ sung nhiệm vụ này đối với chánh thanh tra tỉnh làm cơ sở pháp lý xử lý vấn đề trên. Quy định tại điểm c khoản 1 Điều 29 Dự thảo Luật cần điều chỉnh như sau: “Chánh thanh tra tỉnh có nhiệm vụ chủ trì xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra giữa các thanh tra sở, giữa thanh tra sở với thanh tra tỉnh và thanh tra huyện; chủ trì phối hợp với chánh thanh tra bộ xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thanh tra trên địa bàn tỉnh”.

ThS. Võ Tấn Đào
Khoa Luật hành chính - nhà nước, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Toàn văn dự thảo xem tại: https://duthaoonline.quochoi.vn/Pages/dsduthao/chitietduthao.aspx?id=425, truy cập ngày 04/8/2021.

[2] Khoản 1 Điều 4 Luật Thanh tra năm 2004 và khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010.

[3] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Tập bài giảng Pháp luật thanh tra, khiếu nại và tố cáo, Nxb.. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, năm 2017, tr. 23.

[4] Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 06/2012 - Chủ đề Thanh tra và pháp luật về thanh tra, Hà Nội, năm 2012, tr. 11.

[5] Đáp ứng nguyên tắc của hoạt động thanh là “không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác” (khoản 2 Điều 4 Dự thảo Luật).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: