Thứ năm 16/04/2026 05:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số yêu cầu và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về vấn đề này là yếu tố đầu tiên, quan trọng, là tiền đề cho việc truyền thông, giáo dục, thúc đẩy về quyền con người thành công. Ở Việt Nam, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến vấn đề tăng cường việc bảo vệ quyền con người cũng như tăng cường truyền thông về quyền con người[1], trong đó hội nhập quốc tế về quyền con người được Đảng và Nhà nước ta quan tâm[2].

1. Những yếu tố ảnh hưởng đến truyền thông về quyền con người ở Việt Nam

1.1. Những điều kiện thuận lợi

Thứ nhất, thuận lợi trước tiên trong việc tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta cũng có những quy định để bảo đảm quyền con người, những quy định của pháp luật về quyền con người liên tục được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình chung trong nước, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Từ năm 2009 đến nay, Quốc hội đã ban hành và sửa đổi nhiều đạo luật quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho việc tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người. Việc sửa đổi Bộ luật Hình sự, Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về kinh tế, văn hóa, giáo dục, môi trường, về tổ chức bộ máy nhà nước...

Được sự quan tâm, chỉ đạo nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, do vậy, hiện nay quyền con người được tuyên truyền, giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau, cho từng loại đối tượng khác nhau đem lại hiệu quả cao. Vừa qua, cuộc thi “Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thu hút nhiều đối tượng người dân tham gia, tạo không khí tìm hiểu Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân, là biện pháp tuyên truyền hiệu quả về Hiến pháp, pháp luật, quyền con người. Đây là một thuận lợi lớn trong quá trình tuyên tuyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông là một thuận lợi lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam

Việc sử dụng công nghệ hiện đại vào việc tạo ra, lưu trữ, truyền dẫn thông tin, xử lý, khai thác thông tin cung cấp cho người dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội một cách thuận tiện, nhanh chóng, ít tốn kém hơn các hình thức tuyên truyền truyền thống khác, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Bên cạnh đó là sự phát triển của ngành truyền thông, hiện nay các hoạt động báo chí, xuất bản đã có bước chuyển mới. Hiện nay, bên cạnh báo nói, báo in, báo hình còn có báo điện tử. Các loại hình báo chí phát triển, các ban, ngành, cơ quan, tổ chức đều có trang thông tin điện tử của mình. Đây là một thuận lợi lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cần triệt để khai thác, sử dụng các tiện ích của mạng internet và các phương tiện truyền thông đại chúng đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy về quyền con người.

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể lựa chọn phương thức, phương tiện truyền thông phù hợp để tuyên truyền cho từng loại đối tượng khác nhau, có thể kết hợp tuyên truyền trên nhiều phương tiện thông tin tuyên truyền khác nhau để đạt được kết quả cao nhất.

Thứ ba, trình độ dân trí và ý thức pháp luật của quần chúng ngày một nâng cao

Qua dữ liệu thực tế cho thấy tình hình dân trí của Việt Nam đã có sự chuyển biến rất xa. Trước Cách mạng tháng 8, hơn 90% dân số Việt Nam không biết đọc biết viết. Còn theo điều tra dân số năm 2009, tức là cách đây đã 6 năm thì có gần 94% người dân biết đọc, biết viết, khoảng 1/4 người Việt Nam đã xong bậc trung học hay cao hơn. Ở người trên 15 tuổi, 4,2% có bằng cử nhân và 0,2% có bằng sau đại học. Theo số liệu thống kê năm học 2013 - 2014, Việt Nam có 214 trường cao đẳng, 214 trường đại học, với gần 600 nghìn sinh viên cao đẳng và hơn 1,46 triệu sinh viên đại học[3]. Việc nâng cao dân trí được chú trọng, nhận thức của người dân được nâng cao, người dân sẽ chủ động tiếp cận thông tin, dễ tiếp thu những tri thức mới điều này góp phần công tác tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người đạt hiệu quả cao.

Thứ tư, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đặt ra yêu cầu cấp bách phải tăng cường công tác giáo dục quyền con người

Cùng với giáo dục pháp luật và các dạng giáo dục khác, truyền thông và giáo dục về quyền con người trực tiếp góp phần tạo ra các nội dung, giá trị của Nhà nước pháp quyền, đảm bảo cho Nhà nước pháp quyền Việt Nam hình thành trong thực tiễn. Thực hiện tốt giáo dục quyền con người còn giúp cho quá trình này được rút ngắn và đi đúng hướng, tránh được những lệch lạc, phiến diện trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Bên cạnh đó, yếu tố lịch sử - văn hoá cũng tác động không nhỏ đến truyền thông và giáo dục quyền con người ở Việt Nam. Các phong tục, tập quán lạc hậu, những quan niệm về đạo đức, lễ giáo phong kiến còn mang đậm dấu ấn và ảnh hưởng lâu dài trong đời sống của nhân dân Việt Nam, có tác động sâu sắc đến nhận thức về quyền con người và giáo dục về quyền con người, trong đó có truyền thông, giáo dục về tư tưởng bình quyền, bình đẳng giới.

Thứ năm, việc thực hiện, bảo đảm quyền con người là khát khao của mỗi cá nhân trong xã hội, phù hợp với xu thế chung của thế giới

Mỗi con người tồn tại trong xã hội đều có mong muốn có cuộc sống bình yên, đầy đủ và hạnh phúc. Do đó, việc tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người nhận được sự ủng hộ của các cá nhân trong xã hội và của cả cộng đồng quốc tế, dễ dàng được tiếp nhận và thực hiện. Điều này cũng phù hợp với xu thế chung của thế giới. Hiện nay, quyền con người ngày càng được cộng đồng quốc tế đề cao, ghi nhận và bảo vệ. Pháp luật quốc tế về quyền con người liên tục được hoàn thiện. Nhiều tổ chức quốc tế được thành lập để tuyên truyền, giáo dục và bảo vệ quyền con người, trong đó phải kể đến Liên Hợp Quốc (Văn phòng cao ủy về nhân quyền, Hội đồng nhân quyền), Tổ chức Theo dõi nhân quyền... Như vậy, việc tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam dễ dàng nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác của cộng đồng quốc tế và các tổ chức quốc tế.

1.2. Một số thách thức

Thứ nhất, vấn đề quyền con người dễ bị một số chủ thể lợi dụng, xuyên tạc phục vụ những mục đích riêng

Xu hướng chung của nhân loại là đề cao quyền con người. Những hành vi trái với quy định chung về quyền con người được nhân loại thừa nhận sẽ bị lên án mạnh mẽ. Cũng chính vì lí do đó, vấn đề quyền con người thường bị một số chủ thể lợi dụng, xuyên tạc phục vụ những mục đích riêng. Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã và đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, trá hình. Cùng với các hoạt động phá hoại vào nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước trên các phương diện khác, chúng ra sức sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là Internet, các blog để chuyển tải thông tin, quan điểm sai trái, thù địch và móc nối, tổ chức lực lượng chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa[4]. Đây thực sự là thách thức lớn nhất cho việc tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam để chống lại các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.

Thứ hai, khi nói đến quyền con người nhiều người cho rằng đây là vấn đề "nhạy cảm", chưa thực sự hiểu và nhìn nhận thẳng thắn về vấn đề này

Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, người dân không xa lạ gì với cụm từ "quyền con người", “quyền công dân”, tuy nhiên, để hiểu rõ được "quyền con người", “quyền công dân” bao gồm những quyền cụ thể gì và việc thực hiện và bảo vệ những quyền này trên thực tiễn như thế nào là vấn đề không phải tất cả mọi người đều biết tường tận. Hơn nữa, khi nói đến quyền con người nhiều người cho rằng đây là vấn đề "nhạy cảm" và tỏ ra cẩn trọng khi đề cập đến vấn đề này. Đây cũng là một trong những khó khăn cho việc tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người ở nước ta. Việc né tránh hay dè dặt của một số người khi nói về vấn đề này sẽ làm cho những vấn đề được thông tin, tuyên truyền không được rành mạch, rõ ràng, dễ bị các đối tượng thù địch lợi dụng, xuyên tạc.

Thứ hai, công tác truyền thông của Việt Nam về lĩnh vực quyền con người thời gian qua chưa được tiến toàn diện và bài bản, chưa có kế hoạch cụ thể và dài hạn.

Công tác truyền thông của Việt Nam về lĩnh vực quyền con người thời gian qua rất được chú trọng nhưng chưa toàn diện và bài bản, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục. Công tác tuyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người hiện nay chưa được quan tâm, đánh giá đúng mức. Các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ta hiện nay chủ yếu đề cập đến vấn đề nhân quyền dưới dạng phê phán sự xuyên tạc, lợi dụng nhân quyền để chống phá Nhà nước của các thế lực phản động, thù địch mà chưa có kế koạch tuyên truyền cụ thể, dài hạn về quyền con người.

Thứ ba, quyền con người, quyền công dân đã được quy định cụ thể tại Chương II Hiến pháp năm 2013, nhưng chưa được cụ thể hóa trong cuộc sống nên việc truyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người hiện nay gặp phải những khó khăn nhất định

Hệ thống pháp luật quy định về quyền con người vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện. Bảo đảm các quyền con người luôn được quan tâm, trú trọng, thể hiện ở các quy định của pháp luật về quyền con người trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, nhiều quyền con người đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, nhưng trên thực tế vẫn chưa có cơ chế bảo đảm thực thi.

Luật Báo chí năm 2016 với nhiều điểm mới nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới và đồng bộ với các luật khác như vấn đề quản lý báo chí điện tử, chế tài đối với các tổ chức từ chối nghĩa vụ cung cấp thông tin cho báo chí… Với những nỗ lực của Đảng và Nhà nước, trong thời gian tới, chúng ta sẽ khắc phục được những hạn chế, cụ thể hóa quyền con người, quyền công dân đã được quy định cụ thể tại Chương II Hiến pháp năm 2013, giúp cho việc truyên truyền, giáo dục, thúc đẩy quyền con người thuận lợi hơn.

Thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội

Khoa học công nghệ phát triển, bên cạnh sự phát triển của các cơ quan truyền thông, các mạng xã hội cũng phát triển mạnh mẽ (facebook, zalo, blog...), việc lan truyền truyền thông tin trên các trang mạng xã hội, nhanh, mạnh hơn cả những thông tin chính thống của các cơ quan nhà nước trên các phương tiện thông tin tuyên truyền khác. Bên cạnh mặt tích cực, còn nhiều tác động tiêu cực như sự phức tạp, nhiễu loạn của thông tin đa chiều, đặc biệt là các thông tin liên quan đến quyền con người. Điều này rất dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng, tuyên truyền thông tin không chính xác, sai lệch chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước về quyền con người.

2. Mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về quyền con người ở Việt Nam

2.1. Mục tiêu cơ bản trong công tác truyền thông việc bảo đảm và thực thi quyền con người

Một là, chủ động, thường xuyên thông tin về tình hình bảo đảm quyền con người gắn với việc Việt Nam là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016; nhằm khẳng định tính đúng đắn trong đường lối, chính sách về quyền con người của Đảng, Nhà nước ta là tôn trọng, bảo đảm quyền con người và chủ trương tăng cường đóng góp, thúc đẩy hợp tác quốc tế. Nêu bật uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc nói riêng, sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu của nước ta trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người. Tuyên truyền về chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; những nội dung liên quan đến bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp năm 2013; những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người; Việt Nam thực hiện những nghĩa vụ, cam kết với tư cách là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc; những đóng góp của Việt Nam đối với các vấn đề khu vực và quốc tế, trong đó có vấn đề quyền con người; những đánh giá tích cực về vai trò, đóng góp của Việt Nam trên cương vị thành viên Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc.

Hai là, tuyên truyền đấu tranh phản bác các thông tin, luận điệu xuyên tạc về quyền con người ở Việt Nam của các thế lực thù địch, bác bỏ những thông tin sai lệch, chưa khách quan về tình hình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Tăng cường quảng bá, nâng cao hình ảnh uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo sự đồng thuận trong xã hội, tranh thủ hơn nữa sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế và kiều bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ba là, tuyên truyền, quảng bá về hình ảnh đất nước, văn hóa, con người Việt Nam nói chung, thành tựu của Việt Nam trên các lĩnh vực tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nói riêng trên địa bàn, thông qua việc tổ chức các sự kiện quan trọng ở địa phương, đơn vị, các hoạt động giao lưu, đối ngoại với các cơ quan đại diện nước ngoài đóng trên địa bàn, đoàn khách quốc tế đến thăm, kiều bào về thăm quê hương, đoàn công tác nước ngoài, các sự kiện văn hóa, hội trợ, triển lãm của địa phương.

2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông quyền con người

Một là, trong thời gian tới, việc truyền thông về quyền con người cần có chiến lược, lâu dài, thường xuyên, liên tục

Nhiệm vụ quan trọng nhất đối với các cơ quan truyền thông hiện nay là làm cho xã hội hiểu đúng về quyền con người. Các cơ quan nhà nước cần có kế hoạch cụ thể, thiết thực về việc tuyên truyền, giáo dục về quyền con người. Để nâng cao hiệu quả và chất lượng truyền thông về quyền con người, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể cần biên tập, xuất bản các tài liệu hướng dẫn, phổ biến nâng cao kiến thức, nhận thức về quyền con người, đồng thời cần tăng cường cung cấp thông tin cho báo chí về nỗ lực của Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người. Các phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam cũng cần cố gắng cải tiến phương pháp tuyên truyền nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về quyền con người. Việc truyền thông về quyền con người trên báo chí cần tiến hành thường xuyên, liên tục, chủ động và toàn diện, mang tính thuyết phục.

Hai là, nâng cao uy tín, độ tin cậy của các cơ quan truyền thông

Nhiệm vụ quan trọng đối với các cơ quan truyền thông là nâng cao uy tín, độ tin cậy của nhân dân đối với người dân, để họ tin tưởng vào cơ quan thông tin. Để làm được điều đó, phải đổi mới cách thức tiếp nhận, thu thập và xử lý thông tin về quyền con người, nâng cao trình độ của người làm công tác tuyên truyền, người làm công tác thông tin tuyên truyền phải am hiểu chuyên sâu về vấn đề quyền con người, am hiểu pháp luật, từ đó đưa ra những thông tin chính xác cho nhân dân, định hướng đúng trong dư luận xã hội, tạo niềm tin cho nhân dân vào các cơ quan truyền thông chính thống. Truyền thông về quyền con người cần phải khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc của họ, để họ hiểu được những quyền cơ bản của mình và lựa chọn cơ chế bảo vệ phù hợp.

Ba là, cải tiến phương pháp tuyên truyền, hướng tới từng đối tượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về quyền con người

Để đạt hiệu quả cao, công tác tuyên truyền phải có sự đổi mới thực sự cả về nội dung, cách thức theo hướng chủ động kịp thời hơn, nhạy bén, sâu sắc hơn, toàn diện, hiệu quả hơn. Về nội dung thông tin, tuyên truyền cần phải phù hợp, thiết thực với từng đối tượng, như: Các công ước quốc tế về quyền con người; những quy định mới của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; các quy định về quyền con người, quyền công dân trong các đạo luật có liên quan; quyền của người cao tuổi, quyền của phụ nữ, quyền của trẻ em; các quyền khác có liên quan…; làm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân…

Về hình thức thông tin, tuyên truyền, cần đa dạng hóa các loại hình trong từng nội dung, từng thời điểm cần phải lựa chọn hình thức phù hợp, hiệu quả. Các cơ quan truyền thông cần nêu cao vai trò, trách nhiệm, tích cực, chủ động trong phối hợp các cơ quan, đơn vị có liên quan để tổ chức có hiệu quả các loại hình thông tin, tuyên truyền. Cần tăng cường mở diễn đàn, chuyên mục “Hỏi - Đáp về bảo vệ quyền con người, quyền công dân” để tuyên truyền, tiếp nhận ý kiến phản hồi của cá nhân, tổ chức về các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền con người, quyền công dân…

Nhà nước cần có chính sách đầu tư nguồn lực, kỹ thuật thích hợp cho các cơ quan thông tin tuyên truyền, đặc biệt là các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo chí để các cơ quan này có điều kiện thuận lợi thực hiện hoạt động của mình.

Bốn là, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và người dân

Nâng cao trình độ của người làm công tác tuyên truyền, người làm công tác thông tin tuyên truyền phải am hiểu chuyên sâu về vấn đề quyền con người, từ đó đưa ra những thông tin chính xác cho nhân dân, định hướng đúng trong dư luận xã hội, tạo niềm tin cho nhân dân vào các cơ quan truyền thông chính thống.

Việc nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và người dân hiểu được những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quyền con người thì họ sẽ tự chọn lọc được thông tin trên các trang mạng xã hội. Việc đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân về quyền con người sẽ đem lại hiệu quả tích cực, dễ thực hiện hơn việc ngăn cản và kiểm soát các thông tin trên mạng xã hội ở thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay. Làm được điều này, mọi tầng lớp nhân dân hiểu được chính sách của Đảng và Nhà nước, các thế lực thù địch không có cơ hội tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước để gây chia rẽ, mất đoàn kết, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý về bảo đảm và thực thi hiệu quả quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam

Để phục vụ và tạo điều kiện cho việc hội nhập quốc tế của đất nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu của thể chế pháp lý quốc tế, việc hoàn thiện thể chế pháp lý trong nước của Việt Nam cần được triển khai trên các hướng sau:

- Về các quyền dân sự - chính trị: Trọng tâm là hoàn thiện thể chế dân chủ, nhằm bảo đảm quyền của người dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia xây dựng và kiểm soát quyền lực nhà nước, quyền được bày tỏ chính kiến, lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền sở hữu trí tuệ.

- Về các quyền kinh tế: Trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền sở hữu, kinh doanh của người dân một cách công bằng, không bị phân biệt đối xử. Đó là những quy định pháp lý liên quan tới bình đẳng trong tiếp cận vốn, đất đai, tài nguyên và các dịch vụ công khác.

- Về các quyền văn hóa, xã hội: Trọng tâm là hoàn thiện chế độ an sinh xã hội (đặc biệt là chế độ bảo hiểm xã hội, cứu trợ và chăm sóc các đối tượng chính sách và có hoàn cảnh khó khăn, bất lợi); hoàn thiện chế độ giáo dục, hệ thống chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế cho người dân. Quyền sinh đẻ, di cư là những vấn đề rất đáng được thể chế hóa để vừa bảo đảm quyền cá nhân, vừa bảo đảm lợi ích chung của xã hội, không vì mặt này mà ảnh hưởng đến mặt kia.

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người: Hiến pháp năm 2013 đã được triển khai trên thực tiễn. Cần phải tiến hành rà soát một cách đồng bộ trong hệ thống pháp luật, nội dung rà soát trước hết cần bảo đảm nguyên tắc mới của Hiến pháp năm 2013. Sau khi rà soát, các cơ quan có thẩm quyền đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp mới.

- Tăng cường pháp chế trong bảo vệ quyền con người. Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, lấy sức mạnh kinh tế làm nền tảng lâu dài cải thiện quyền con người, đồng thời làm sức hút với quốc tế và ngăn cản các thế lực muốn lợi dụng vấn đề quyền con người để can thiệp vào nước ta.

Tóm lại, quyền con người hiện nay là một giá trị phổ quát lớn của nhân loại được tất cả các nước trên thế giới hết sức quan tâm và đề cao, do đó, chúng ta cần phải nỗ lực nâng cao chất lượng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao ý thức và nhận thức về vấn đề nhân quyền trong các cơ quan Đảng, chính quyền và các tổ chức xã hội và trong nhân dân, tránh bị lợi dụng, xuyên tạc về quyền con người nhằm mục đích gây chia rẽ, mất đoàn kết, ảnh hưởng đến an ninh chính trị trong nước và quá trình hợp tác quốc tế của nước ta.



Nhóm nghiên cứu Đề tài

(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ "Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam").


[1] Ví dụ như: Chỉ thị số 12/CT-TW về “vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”; Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong đó xác định những định hướng chủ yếu của quá trình hội nhập quốc tế, trong đó nhấn mạnh “chủ động và tích cực tham gia các thể chế đa phương, góp phần xây dựng trật tự chính trị và kinh tế công bằng, dân chủ, ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, củng cố hòa bình, đẩy mạnh hợp tác cùng có lợi”.

[2] Chúng ta đã chủ động tham gia các điều ước quốc tế quan trọng của Liên Hợp Quốc về quyền con người như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 (ICESCR); Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW); Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD); Công ước về quyền trẻ em (CRC); Công ước phòng, chống tra tấn...

[3] http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/nghich-ly-dan-tri-viet-nam-luc-cao-luc-thap-1435026687.htm.

[4] "Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng", Đại tá.PGS.TS. Trần Nam Chuân, Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng, đăng tải trên Trang thông tin tổng hợp của Ban Nội chính trung ương ngày 18/02/2015.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm mua bán người trong bối cảnh hội nhập quốc tế Một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay Đưa Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vào cuộc sống theo lời Bác Hồ Một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Luật Hợp tác xã Những vấn đề cần chứng minh trong tố tụng hành chính Công tác phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-Pu-Chia đánh bạc thực trạng và giải pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: