Thứ hai 13/04/2026 08:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một vài bình luận về dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Bài viết bình luận, trao đổi về Dự thảo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa với những nội dung chính như: (i) Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; (ii) Đối tượng doanh nghiệp được hỗ trợ; (iii); Các đối tượng tham gia hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; (iv) Bảo đảm sự bình đẳng pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa; (v) Hỗ trợ tiếp cận tín dụng; (vi) Hỗ trợ mặt bằng sản x¬uất kinh doanh; (vii) Một số hỗ trợ đặc thù khác.

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, điều khó nhất cần phải giải quyết là bên cạnh việc phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp, thì đồng thời lại phải thiết lập một số cơ chế pháp lý đặc thù cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Thứ nhất, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp, bao gồm các công ty và doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, mà không điều chỉnh hộ kinh doanh. Với số lượng khoảng 4 - 4,5 triệu hộ kinh doanh đã, đang và sẽ hoạt động như các doanh nghiệp, nhưng đã không được coi trọng điều chỉnh bằng Luật, đã bị luật bỏ rơi suốt mấy chục năm nay. Trong khi về pháp lý, thì hộ kinh doanh còn có thể phức tạp hơn nhiều doanh nghiệp tư nhân, vì doanh nghiệp tư nhân thì chỉ luôn luôn có 1 chủ duy nhất, còn hộ kinh doanh thì ngoài là 1 chủ cá nhân, còn có thể có hai hoặc nhiều hơn số lượng thành viên, có thể là vợ chồng, người trong gia đình hay bất kỳ ai. Thậm chí, công ty trách nhiệm hữu hạn, tối đa chỉ có 50 thành viên, nhưng hộ kinh doanh lại có thể nhiều hơn thế, vì pháp luật chỉ “buông” một câu, hộ kinh doanh có thể gồm “một nhóm người”.

Thứ hai, xét cả về bản chất pháp lý cũng như bản chất kinh tế, hộ kinh doanh chính là doanh nghiệp tư nhân. Điểm khác nhau lớn nhất là, doanh nghiệp tư nhân thì có thể không có, có 01 hoặc nhiều lao động, còn hộ kinh doanh thì chỉ được sử dụng thường xuyên dưới 10 lao động, theo quy định tại khoản 2, Điều 212 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về “hiệu lực thi hành”. Đây rõ ràng không phải là dấu hiệu pháp lý đặc trưng. Ngoài ra, giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân đã không còn sự phân biệt rất lớn về pháp lý trước kia, đó là doanh nghiệp thì có con dấu được thừa nhận cao về pháp lý, còn hộ kinh doanh không có con dấu pháp lý.

Thứ ba, xét theo một góc độ khác, thì cả 03 đạo luật dành cho Doanh nghiệp vào các năm 1999, 2005 và 2014 đều đã gián tiếp thừa nhận hộ kinh doanh là một loại hình doanh nghiệp, vì đều được đề cập đến trong Luật, nhưng rồi lại chỉ dừng lại ở chỗ điểm danh, công nhận sự hiện diện, mà không quy định cho nó một danh phận pháp lý của doanh nghiệp. Vì vậy, đây là dịp phải sửa sai, phải chính thức thừa nhận hộ kinh doanh là loại hình doanh nghiệp tư nhân. Một vấn đề đặc biệt quan trọng là, nếu công nhận hộ kinh doanh là doanh nghiệp tư nhân, thì có thừa nhận doanh nghiệp tư nhân có nhiều hơn 1 chủ doanh nghiệp hay không? Còn nếu không thừa nhận điều này, thì cũng phải coi hộ kinh doanh là mô hình hợp tác kinh doanh, chứ không thể để “lửng lơ” về đặc điểm pháp lý. Thậm chí, hộ kinh doanh còn thường xuyên bị gọi sai theo tên gọi cũ xa xưa là hộ kinh doanh cá thể trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 hay trong Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2006 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 (Nghị quyết số 35/NQ-CP).

Thứ tư, trường hợp không công nhận hộ kinh doanh là doanh nghiệp, thì cần xem xét quy định thêm cơ chế khuyến khích chuyển các hộ kinh doanh thành các doanh nghiệp, một trong những mục tiêu quan trọng để phát triển 01 triệu doanh nghiệp.

2. Đối tượng doanh nghiệp được hỗ trợ

Một là, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 về “đối tượng áp dụng”, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì mọi “doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp” đều thuộc đối tượng được hỗ trợ. Theo số liệu của Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì hiện nay có tới 97,5% tổng số doanh nghiệp là vừa và nhỏ. Việc quy định hỗ trợ cho quá nhiều doanh nghiệp là không hợp lý. Và càng bất hợp lý hơn khi đặt ra các hỗ trợ với mức cào bằng như nhau, không hề có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp có quy mô doanh thu gần 100 tỷ đồng với đa số doanh nghiệp còn lại chỉ có doanh thu 10 tỷ đồng, thậm chí ước tính vài chục phần trăm chỉ có doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm.

Hai là, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 về “tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa”, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như tiêu chí phân loại doanh nghiệp hiện hành, dựa vào số lượng lao động, thì hộ kinh doanh chính là loại doanh nghiệp siêu nhỏ.

Ba là, do nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng rất vừa và nhỏ, nên cũng cần thu hẹp phạm vi và đối tượng hỗ trợ, để bảo đảm hiệu quả, khả thi. Vì vậy, cần tập trung hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, bao gồm cả hộ kinh doanh (với quy mô từ 10 - 20 tỷ đồng doanh thu và hoặc từ 20 - 30 lao động trở xuống), vì đây là nhóm doanh nghiệp rất yếu thế, gặp nhiều khó khăn, lúng túng, vướng mắc. Có thể tham khảo một trong những quy định đã có với loại doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng, thì được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn so với các doanh nghiệp khác theo quy định tại Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013) về “thuế suất”.

Bốn là, không nên hỗ trợ cho nhóm doanh nghiệp vừa hoặc chỉ hỗ trợ một phần nhỏ, ngoại trừ một số lĩnh vực hoặc trường hợp đặc biệt, vì là nhóm ở giữa, tương đối bình thường. Giữa doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, với doanh nghiệp vừa, có sự khác nhau rất lớn về năng lực và quy mô (có khi đến hàng trăm, hàng nghìn lần), nên không thể hỗ trợ bằng như nhau. Đồng thời, cần xem xét loại trừ một số đối tượng không nên hỗ trợ, dù đó là doanh nghiệp vừa hay nhỏ, nếu như đã là công ty đại chúng (có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên và có từ 100 cổ đông trở lên), vì đã là những doanh nghiệp bài bản, có quy mô tương đối lớn. Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp thuộc diện được hỗ trợ cũng cần loại trừ cả các công ty đại chúng. Dự thảo Luật mới chỉ loại trừ công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Điểm b khoản 1 Điều 2 Dự thảo Luật quy định một nội dung mới so với Dự thảo trước đây, đó là không hỗ trợ doanh nghiệp “thuộc nhóm công ty theo quy định tại Luật Doanh nghiệp”. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với các công ty thuộc tập đoàn, tổng công ty và công ty lớn (vì đã được dựa vào thế mạnh rất lớn của công ty mẹ và các công ty trong nhóm), mà không phù hợp với trường hợp công ty nhỏ là lại chỉ là công ty con của công ty nhỏ khác.

Năm là, một lý do nữa không nên hỗ trợ doanh nghiệp vừa, là sẽ dẫn đến tác dụng ngược, bất lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, vì doanh nghiệp vừa thuộc loại lớn nhất cũng được hỗ trợ giống như nhóm doanh nghiệp nhỏ nhất, như Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có việc giảm thuế thu nhập so với doanh nghiệp lớn, thì sẽ đồng nghĩa với việc khuyến khích doanh nghiệp giữ nguyên ở quy mô doanh nghiệp vừa để hưởng nhiều ưu đãi, không phát triển được các doanh nghiệp lớn mạnh như Nghị quyết số 35/NQ-CP với mục tiêu xây dựng “các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh”.

3. Các đối tượng tham gia hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thứ nhất, các đối tượng tham gia hỗ trợ theo Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Dự thảo Luật quy định rất nhiều đối tượng tham gia vào quá trình hỗ trợ doanh nghiệp như: Hội đồng Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa quốc gia, Hội đồng thẩm định Danh mục sản phẩm đổi mới sáng tạo, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (đã có), Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (đã có), Quỹ tương hỗ, Quỹ đầu tư khởi nghiệp, ngân hàng, nhà đầu tư phát triển hạ tầng, các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp hỗ trợ, tổ chức hỗ trợ, hệ thống chuỗi phân phối sản phẩm…

Với số lượng doanh nghiệp hỗ trợ lên đến trên nửa triệu và dự kiến khoảng 05 năm nữa lên đến 01 triệu doanh nghiệp, với khoảng trên 100 nội dung hỗ trợ. Vì vậy, cần phải thành lập 01 cơ quan chuyên trách cấp cục, vụ ở Trung ương và cấp phòng mỗi tỉnh, thành để bảo đảm khả năng hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ hai, doanh nghiệp tham gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Dù có nhiều quy định, với nhiều cá nhân, tổ chức cả chuyên trách và không chuyên trách tham gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như trên, nhưng vẫn rất khó khăn, dàn trải, rất khó đáp ứng được một cách hữu hiệu nhu cầu của quá nhiều doanh nghiệp được hỗ trợ. Vì vậy, cần đặc biệt quan tâm quy định cụ thể và tập trung vào việc hỗ trợ nhóm doanh nghiệp mà toàn bộ hoạt động hoặc một phần nhất định hoạt động nhằm mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trong đó cần xem xét đưa thêm nhóm hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là doanh nghiệp khởi nghiệp, cũng có thể là một trong các mục tiêu của doanh nghiệp xã hội theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Hiện nay, doanh nghiệp xã hội chỉ có “mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng” theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về “tiêu chí, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội”.

4. Bảo đảm sự bình đẳng pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là bảo đảm sự bình đẳng giữa tất cả các loại hình, sở hữu và quy mô doanh nghiệp, không để họ mất cơ hội và quyền lợi đáng ra được hưởng so với doanh nghiệp lớn. Vì vậy, khoản 2 Điều 9 về “cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách hành chính”, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã quy định, nghiêm cấm cơ quan, tổ chức “ban hành quy định phân biệt đối xử về điều kiện kinh doanh, thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận các nguồn lực dựa trên các tiêu chí về quy mô kinh doanh, trừ khi các quy định này được luật quy định” hay “có hành vi phân biệt đối xử, sách nhiễu, gây khó khăn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc không thực thi công vụ theo quy định của pháp luật”. Đây là những quy định hết sức hợp lý và cần thiết.

- Các quy định đã ban hành tại các Nghị định về điều kiện kinh doanh dựa vào quy mô trái với quy định trên như kinh doanh xuất khẩu gạo, vận tải taxi, phân phối gas và các quy định tương tự dưới đây cần phải được bãi bỏ ngay mà không cần chờ đến khi Luật có hiệu lực:

(i) Doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo phải có ít nhất 01 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc; 01 cơ sở xay, xát thóc, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ và kho chứa, cơ sở xay, xát phải thuộc sở hữu của doanh nghiệp và phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thóc, gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc có cảng biển quốc tế có hoạt động xuất khẩu thóc, gạo, được quy định tại Điều 4 về “điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo”, Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 04/11/2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo;

(ii) Doanh nghiệp, kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải có tối thiểu là 10 xe; riêng đối với Hà Nội, Sài Gòn phải có tối thiểu là 50 xe; được quy định tại khoản 7 Điều 17 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tài bằng xe ô tô;

(iii) Doanh nghiệp phân phối bình gas (khí dầu mỏ hóa lỏng - LPG) phải có các bồn chứa với tổng dung tích tối thiểu 300 m3, có số lượng bình ga các loại (không tính bình mini) thuộc sở hữu của doanh nghiệp với tổng dung tích chứa tối thiểu 2.620.000 lít… được quy định tại Điều 9 Nghị định số 19/2016/NĐ-CP ngày 22/3/2016 của Chính phủ về kinh doanh khí, về “điều kiện đối với thương nhân phân phối khí”;

(iv) Thậm chí cả việc quy định về mức vốn pháp định cũng cần phải xem lại đối với nhiều ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp có vốn lớn thì đương nhiên có cơ hội kinh doanh bất động sản tốt hơn. Nhưng doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 20 tỷ đồng, thì cũng vẫn hoàn toàn có nhiều cơ hội kinh doanh bất động sản nhỏ lẻ với quy mô vài chục tỷ đồng, thậm chí vài trăm tỷ đồng.

5. Hỗ trợ tiếp cận tín dụng

- Điều 10 về “hỗ trợ tiếp cận tín dụng tại ngân hàng thương mại”, Dự thảo Luật quy định một số biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có việc hỗ trợ thông qua “Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” và “Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Các định chế tài chính này đang được vận hành trên thực tế, nhưng còn rất hạn chế tác dụng.

- Cái khó của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp, không vay được vốn hoặc phải vay với lãi suất cao là do chưa có thị trường, chưa có tín nhiệm, chưa có thương hiệu, chưa có kinh nghiệm, chưa có hiệu quả, chưa có tài sản bảo đảm… Cho nên đương nhiên sẽ khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay giá rẻ. Vì vậy, Nhà nước đã tạo ra một số cơ chế hỗ trợ tín dụng và đã được ghi nhận tại Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có việc được Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cho vay vốn; được các Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa bảo lãnh vay vốn tại ngân hàng thương mại; được vay vốn của các tổ chức tín dụng vi mô... Tuy nhiên, trên thực tế hàng chục năm nay, các Quỹ này và các tổ chức tín dụng vi mô không có đủ nguồn vốn, hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, nên rất khó hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp. Đặc biệt, với những quy định về điều kiện được cấp tín dụng còn chặt hơn cả với ngân hàng, do đó nếu doanh nghiệp đã không đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng, thì cũng không đủ điều kiện để được các Quỹ cho vay vốn hay bảo lãnh. Vì vậy, doanh nghiệp nhỏ thường phải đi vay vốn bên ngoài với lãi suất cao hơn nhiều lãi suất ngân hàng.

- Do đó, một trong những cơ chế cần xem xét quy định, là cho phép doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được hạch hoán vào chi phí hợp pháp, hợp lệ lãi suất vay vốn vượt trần quy định của pháp luật (hiện nay là 13,5%/năm và từ năm 2017 trở đi là 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và 2015). Hiện nay, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp không cho phép hạch toán phần lãi vay thực tế vượt quá 13,5%/năm.

6. Hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh

- Điều 15 về “Hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh”, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã quy định một số biện pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, cần có quy định hoặc về các chính sách hỗ trợ mặt bằng và dịch vụ thiết thực, phù hợp với thực tế, nhưng lại vướng Luật khác như dưới đây.

- Đó là hỗ trợ việc thiết lập và quản lý sử dụng cơ sở hạ tầng và dịch vụ sử dụng chung đối với doanh nghiệp nhỏ. Đây là một nhu cầu đặc biệt cần thiết và rất có hiệu quả đối với doanh nghiệp nhỏ. Chẳng hạn hình thành mô hình tòa nhà thương mại, cho thuê văn phòng sử dụng chung cơ sở vật chất như phòng họp, phòng đào tạo, phòng tiếp khách, kho tàng, máy photocopy, máy in, máy scan,… Cho phép được sử dụng nhà chung cư thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, thành viên hoặc cổ đông, ví dụ khi sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được phép sử dụng nhà ở với mục đích hỗn hợp vừa để ở, vừa để đặt trụ sở chính, chi nhánh và văn phòng đại diện của công ty. Nhất là trên thị trường (Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng,…) đã xuất hiện loại hình như của thế giới là loại căn hộ thương mại (Shophouse - căn hộ vừa làm nhà ở vừa là nơi bán hàng) và căn hộ văn phòng (Officetel - căn hộ vừa là nhà ở vừa là văn phòng làm việc). Trong khi đó, khoản 11 Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014 về “Các hành vi bị nghiêm cấm” quy định một trong các hành vi bị cấm là “sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở”. Tuy Luật Nhà ở năm 2014 có đề cập đến loại “nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh”, nhưng để chỉ loại nhà có các căn hộ để ở và các gian, tầng để kinh doanh khác nhau.

7. Một số hỗ trợ đặc thù khác

- Cần xem xét quy định được trả mức lương tối thiểu bằng với mức lương cơ sở do Nhà nước trả cho cán bộ, công chức (hiện nay là 1.210.000 đồng), thay vì phải trả mức lương tối thiếu mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động (hiện nay là 2.400.000 - 3.500.000 đồng tuỳ khu vực) trong giai đoạn khởi nghiệp (5 năm đầu).

- Cần xem xét quy định không phải đóng kinh phí công đoàn “bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động” theo quy định tại khoản 2, Điều 26 về “Tài chính công đoàn”, Luật Công đoàn năm 2012, trong giai đoạn khởi nghiệp.

- Cần xem xét quy định không nhất thiết phải có “ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về “Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần”, trong trường hợp công ty cổ phần nhỏ có từ 11 cổ đông trở lên lựa chọn mô hình quản trị công ty không có Ban kiểm soát.

- Cần xem xét quy định không nhất thiết phải có tối thiểu 03 thành viên Ban kiểm soát, không nhất thiết “phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam” và không nhất thiết “Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty”, theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 163 về “Ban kiểm soát”, Luật Doanh nghiệp năm 2014, trong trường hợp công ty cổ phần nhỏ có từ 11 cổ đông trở lên lựa chọn mô hình quản trị có Ban kiểm soát.

- Cần xem xét quy định không bị hạn chế theo quy định về “Doanh nghiệp có vị trí độc quyền”, “Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm” theo quy định tại Điều 12 và Điều 13, Luật Cạnh tranh năm 2004, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.


Luật sư Trương Thanh Đức
Công ty Luật Baisico

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: