Thứ năm 30/04/2026 07:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một vài bình luận về dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Bài viết bình luận, trao đổi về Dự thảo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa với những nội dung chính như: (i) Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; (ii) Đối tượng doanh nghiệp được hỗ trợ; (iii); Các đối tượng tham gia hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; (iv) Bảo đảm sự bình đẳng pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa; (v) Hỗ trợ tiếp cận tín dụng; (vi) Hỗ trợ mặt bằng sản x¬uất kinh doanh; (vii) Một số hỗ trợ đặc thù khác.

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, điều khó nhất cần phải giải quyết là bên cạnh việc phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp, thì đồng thời lại phải thiết lập một số cơ chế pháp lý đặc thù cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Thứ nhất, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp, bao gồm các công ty và doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, mà không điều chỉnh hộ kinh doanh. Với số lượng khoảng 4 - 4,5 triệu hộ kinh doanh đã, đang và sẽ hoạt động như các doanh nghiệp, nhưng đã không được coi trọng điều chỉnh bằng Luật, đã bị luật bỏ rơi suốt mấy chục năm nay. Trong khi về pháp lý, thì hộ kinh doanh còn có thể phức tạp hơn nhiều doanh nghiệp tư nhân, vì doanh nghiệp tư nhân thì chỉ luôn luôn có 1 chủ duy nhất, còn hộ kinh doanh thì ngoài là 1 chủ cá nhân, còn có thể có hai hoặc nhiều hơn số lượng thành viên, có thể là vợ chồng, người trong gia đình hay bất kỳ ai. Thậm chí, công ty trách nhiệm hữu hạn, tối đa chỉ có 50 thành viên, nhưng hộ kinh doanh lại có thể nhiều hơn thế, vì pháp luật chỉ “buông” một câu, hộ kinh doanh có thể gồm “một nhóm người”.

Thứ hai, xét cả về bản chất pháp lý cũng như bản chất kinh tế, hộ kinh doanh chính là doanh nghiệp tư nhân. Điểm khác nhau lớn nhất là, doanh nghiệp tư nhân thì có thể không có, có 01 hoặc nhiều lao động, còn hộ kinh doanh thì chỉ được sử dụng thường xuyên dưới 10 lao động, theo quy định tại khoản 2, Điều 212 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về “hiệu lực thi hành”. Đây rõ ràng không phải là dấu hiệu pháp lý đặc trưng. Ngoài ra, giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân đã không còn sự phân biệt rất lớn về pháp lý trước kia, đó là doanh nghiệp thì có con dấu được thừa nhận cao về pháp lý, còn hộ kinh doanh không có con dấu pháp lý.

Thứ ba, xét theo một góc độ khác, thì cả 03 đạo luật dành cho Doanh nghiệp vào các năm 1999, 2005 và 2014 đều đã gián tiếp thừa nhận hộ kinh doanh là một loại hình doanh nghiệp, vì đều được đề cập đến trong Luật, nhưng rồi lại chỉ dừng lại ở chỗ điểm danh, công nhận sự hiện diện, mà không quy định cho nó một danh phận pháp lý của doanh nghiệp. Vì vậy, đây là dịp phải sửa sai, phải chính thức thừa nhận hộ kinh doanh là loại hình doanh nghiệp tư nhân. Một vấn đề đặc biệt quan trọng là, nếu công nhận hộ kinh doanh là doanh nghiệp tư nhân, thì có thừa nhận doanh nghiệp tư nhân có nhiều hơn 1 chủ doanh nghiệp hay không? Còn nếu không thừa nhận điều này, thì cũng phải coi hộ kinh doanh là mô hình hợp tác kinh doanh, chứ không thể để “lửng lơ” về đặc điểm pháp lý. Thậm chí, hộ kinh doanh còn thường xuyên bị gọi sai theo tên gọi cũ xa xưa là hộ kinh doanh cá thể trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 hay trong Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2006 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 (Nghị quyết số 35/NQ-CP).

Thứ tư, trường hợp không công nhận hộ kinh doanh là doanh nghiệp, thì cần xem xét quy định thêm cơ chế khuyến khích chuyển các hộ kinh doanh thành các doanh nghiệp, một trong những mục tiêu quan trọng để phát triển 01 triệu doanh nghiệp.

2. Đối tượng doanh nghiệp được hỗ trợ

Một là, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 về “đối tượng áp dụng”, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì mọi “doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp” đều thuộc đối tượng được hỗ trợ. Theo số liệu của Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì hiện nay có tới 97,5% tổng số doanh nghiệp là vừa và nhỏ. Việc quy định hỗ trợ cho quá nhiều doanh nghiệp là không hợp lý. Và càng bất hợp lý hơn khi đặt ra các hỗ trợ với mức cào bằng như nhau, không hề có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp có quy mô doanh thu gần 100 tỷ đồng với đa số doanh nghiệp còn lại chỉ có doanh thu 10 tỷ đồng, thậm chí ước tính vài chục phần trăm chỉ có doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm.

Hai là, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 về “tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa”, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như tiêu chí phân loại doanh nghiệp hiện hành, dựa vào số lượng lao động, thì hộ kinh doanh chính là loại doanh nghiệp siêu nhỏ.

Ba là, do nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng rất vừa và nhỏ, nên cũng cần thu hẹp phạm vi và đối tượng hỗ trợ, để bảo đảm hiệu quả, khả thi. Vì vậy, cần tập trung hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, bao gồm cả hộ kinh doanh (với quy mô từ 10 - 20 tỷ đồng doanh thu và hoặc từ 20 - 30 lao động trở xuống), vì đây là nhóm doanh nghiệp rất yếu thế, gặp nhiều khó khăn, lúng túng, vướng mắc. Có thể tham khảo một trong những quy định đã có với loại doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng, thì được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn so với các doanh nghiệp khác theo quy định tại Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013) về “thuế suất”.

Bốn là, không nên hỗ trợ cho nhóm doanh nghiệp vừa hoặc chỉ hỗ trợ một phần nhỏ, ngoại trừ một số lĩnh vực hoặc trường hợp đặc biệt, vì là nhóm ở giữa, tương đối bình thường. Giữa doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, với doanh nghiệp vừa, có sự khác nhau rất lớn về năng lực và quy mô (có khi đến hàng trăm, hàng nghìn lần), nên không thể hỗ trợ bằng như nhau. Đồng thời, cần xem xét loại trừ một số đối tượng không nên hỗ trợ, dù đó là doanh nghiệp vừa hay nhỏ, nếu như đã là công ty đại chúng (có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên và có từ 100 cổ đông trở lên), vì đã là những doanh nghiệp bài bản, có quy mô tương đối lớn. Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp thuộc diện được hỗ trợ cũng cần loại trừ cả các công ty đại chúng. Dự thảo Luật mới chỉ loại trừ công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Điểm b khoản 1 Điều 2 Dự thảo Luật quy định một nội dung mới so với Dự thảo trước đây, đó là không hỗ trợ doanh nghiệp “thuộc nhóm công ty theo quy định tại Luật Doanh nghiệp”. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với các công ty thuộc tập đoàn, tổng công ty và công ty lớn (vì đã được dựa vào thế mạnh rất lớn của công ty mẹ và các công ty trong nhóm), mà không phù hợp với trường hợp công ty nhỏ là lại chỉ là công ty con của công ty nhỏ khác.

Năm là, một lý do nữa không nên hỗ trợ doanh nghiệp vừa, là sẽ dẫn đến tác dụng ngược, bất lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, vì doanh nghiệp vừa thuộc loại lớn nhất cũng được hỗ trợ giống như nhóm doanh nghiệp nhỏ nhất, như Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có việc giảm thuế thu nhập so với doanh nghiệp lớn, thì sẽ đồng nghĩa với việc khuyến khích doanh nghiệp giữ nguyên ở quy mô doanh nghiệp vừa để hưởng nhiều ưu đãi, không phát triển được các doanh nghiệp lớn mạnh như Nghị quyết số 35/NQ-CP với mục tiêu xây dựng “các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh”.

3. Các đối tượng tham gia hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thứ nhất, các đối tượng tham gia hỗ trợ theo Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Dự thảo Luật quy định rất nhiều đối tượng tham gia vào quá trình hỗ trợ doanh nghiệp như: Hội đồng Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa quốc gia, Hội đồng thẩm định Danh mục sản phẩm đổi mới sáng tạo, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (đã có), Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (đã có), Quỹ tương hỗ, Quỹ đầu tư khởi nghiệp, ngân hàng, nhà đầu tư phát triển hạ tầng, các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp hỗ trợ, tổ chức hỗ trợ, hệ thống chuỗi phân phối sản phẩm…

Với số lượng doanh nghiệp hỗ trợ lên đến trên nửa triệu và dự kiến khoảng 05 năm nữa lên đến 01 triệu doanh nghiệp, với khoảng trên 100 nội dung hỗ trợ. Vì vậy, cần phải thành lập 01 cơ quan chuyên trách cấp cục, vụ ở Trung ương và cấp phòng mỗi tỉnh, thành để bảo đảm khả năng hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ hai, doanh nghiệp tham gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Dù có nhiều quy định, với nhiều cá nhân, tổ chức cả chuyên trách và không chuyên trách tham gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như trên, nhưng vẫn rất khó khăn, dàn trải, rất khó đáp ứng được một cách hữu hiệu nhu cầu của quá nhiều doanh nghiệp được hỗ trợ. Vì vậy, cần đặc biệt quan tâm quy định cụ thể và tập trung vào việc hỗ trợ nhóm doanh nghiệp mà toàn bộ hoạt động hoặc một phần nhất định hoạt động nhằm mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trong đó cần xem xét đưa thêm nhóm hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là doanh nghiệp khởi nghiệp, cũng có thể là một trong các mục tiêu của doanh nghiệp xã hội theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Hiện nay, doanh nghiệp xã hội chỉ có “mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng” theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về “tiêu chí, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội”.

4. Bảo đảm sự bình đẳng pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là bảo đảm sự bình đẳng giữa tất cả các loại hình, sở hữu và quy mô doanh nghiệp, không để họ mất cơ hội và quyền lợi đáng ra được hưởng so với doanh nghiệp lớn. Vì vậy, khoản 2 Điều 9 về “cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách hành chính”, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã quy định, nghiêm cấm cơ quan, tổ chức “ban hành quy định phân biệt đối xử về điều kiện kinh doanh, thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận các nguồn lực dựa trên các tiêu chí về quy mô kinh doanh, trừ khi các quy định này được luật quy định” hay “có hành vi phân biệt đối xử, sách nhiễu, gây khó khăn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc không thực thi công vụ theo quy định của pháp luật”. Đây là những quy định hết sức hợp lý và cần thiết.

- Các quy định đã ban hành tại các Nghị định về điều kiện kinh doanh dựa vào quy mô trái với quy định trên như kinh doanh xuất khẩu gạo, vận tải taxi, phân phối gas và các quy định tương tự dưới đây cần phải được bãi bỏ ngay mà không cần chờ đến khi Luật có hiệu lực:

(i) Doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo phải có ít nhất 01 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc; 01 cơ sở xay, xát thóc, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ và kho chứa, cơ sở xay, xát phải thuộc sở hữu của doanh nghiệp và phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thóc, gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc có cảng biển quốc tế có hoạt động xuất khẩu thóc, gạo, được quy định tại Điều 4 về “điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo”, Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 04/11/2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo;

(ii) Doanh nghiệp, kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải có tối thiểu là 10 xe; riêng đối với Hà Nội, Sài Gòn phải có tối thiểu là 50 xe; được quy định tại khoản 7 Điều 17 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tài bằng xe ô tô;

(iii) Doanh nghiệp phân phối bình gas (khí dầu mỏ hóa lỏng - LPG) phải có các bồn chứa với tổng dung tích tối thiểu 300 m3, có số lượng bình ga các loại (không tính bình mini) thuộc sở hữu của doanh nghiệp với tổng dung tích chứa tối thiểu 2.620.000 lít… được quy định tại Điều 9 Nghị định số 19/2016/NĐ-CP ngày 22/3/2016 của Chính phủ về kinh doanh khí, về “điều kiện đối với thương nhân phân phối khí”;

(iv) Thậm chí cả việc quy định về mức vốn pháp định cũng cần phải xem lại đối với nhiều ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp có vốn lớn thì đương nhiên có cơ hội kinh doanh bất động sản tốt hơn. Nhưng doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 20 tỷ đồng, thì cũng vẫn hoàn toàn có nhiều cơ hội kinh doanh bất động sản nhỏ lẻ với quy mô vài chục tỷ đồng, thậm chí vài trăm tỷ đồng.

5. Hỗ trợ tiếp cận tín dụng

- Điều 10 về “hỗ trợ tiếp cận tín dụng tại ngân hàng thương mại”, Dự thảo Luật quy định một số biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có việc hỗ trợ thông qua “Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” và “Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Các định chế tài chính này đang được vận hành trên thực tế, nhưng còn rất hạn chế tác dụng.

- Cái khó của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp, không vay được vốn hoặc phải vay với lãi suất cao là do chưa có thị trường, chưa có tín nhiệm, chưa có thương hiệu, chưa có kinh nghiệm, chưa có hiệu quả, chưa có tài sản bảo đảm… Cho nên đương nhiên sẽ khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay giá rẻ. Vì vậy, Nhà nước đã tạo ra một số cơ chế hỗ trợ tín dụng và đã được ghi nhận tại Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có việc được Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cho vay vốn; được các Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa bảo lãnh vay vốn tại ngân hàng thương mại; được vay vốn của các tổ chức tín dụng vi mô... Tuy nhiên, trên thực tế hàng chục năm nay, các Quỹ này và các tổ chức tín dụng vi mô không có đủ nguồn vốn, hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, nên rất khó hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp. Đặc biệt, với những quy định về điều kiện được cấp tín dụng còn chặt hơn cả với ngân hàng, do đó nếu doanh nghiệp đã không đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng, thì cũng không đủ điều kiện để được các Quỹ cho vay vốn hay bảo lãnh. Vì vậy, doanh nghiệp nhỏ thường phải đi vay vốn bên ngoài với lãi suất cao hơn nhiều lãi suất ngân hàng.

- Do đó, một trong những cơ chế cần xem xét quy định, là cho phép doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được hạch hoán vào chi phí hợp pháp, hợp lệ lãi suất vay vốn vượt trần quy định của pháp luật (hiện nay là 13,5%/năm và từ năm 2017 trở đi là 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và 2015). Hiện nay, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp không cho phép hạch toán phần lãi vay thực tế vượt quá 13,5%/năm.

6. Hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh

- Điều 15 về “Hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh”, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã quy định một số biện pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, cần có quy định hoặc về các chính sách hỗ trợ mặt bằng và dịch vụ thiết thực, phù hợp với thực tế, nhưng lại vướng Luật khác như dưới đây.

- Đó là hỗ trợ việc thiết lập và quản lý sử dụng cơ sở hạ tầng và dịch vụ sử dụng chung đối với doanh nghiệp nhỏ. Đây là một nhu cầu đặc biệt cần thiết và rất có hiệu quả đối với doanh nghiệp nhỏ. Chẳng hạn hình thành mô hình tòa nhà thương mại, cho thuê văn phòng sử dụng chung cơ sở vật chất như phòng họp, phòng đào tạo, phòng tiếp khách, kho tàng, máy photocopy, máy in, máy scan,… Cho phép được sử dụng nhà chung cư thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, thành viên hoặc cổ đông, ví dụ khi sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được phép sử dụng nhà ở với mục đích hỗn hợp vừa để ở, vừa để đặt trụ sở chính, chi nhánh và văn phòng đại diện của công ty. Nhất là trên thị trường (Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng,…) đã xuất hiện loại hình như của thế giới là loại căn hộ thương mại (Shophouse - căn hộ vừa làm nhà ở vừa là nơi bán hàng) và căn hộ văn phòng (Officetel - căn hộ vừa là nhà ở vừa là văn phòng làm việc). Trong khi đó, khoản 11 Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014 về “Các hành vi bị nghiêm cấm” quy định một trong các hành vi bị cấm là “sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở”. Tuy Luật Nhà ở năm 2014 có đề cập đến loại “nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh”, nhưng để chỉ loại nhà có các căn hộ để ở và các gian, tầng để kinh doanh khác nhau.

7. Một số hỗ trợ đặc thù khác

- Cần xem xét quy định được trả mức lương tối thiểu bằng với mức lương cơ sở do Nhà nước trả cho cán bộ, công chức (hiện nay là 1.210.000 đồng), thay vì phải trả mức lương tối thiếu mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động (hiện nay là 2.400.000 - 3.500.000 đồng tuỳ khu vực) trong giai đoạn khởi nghiệp (5 năm đầu).

- Cần xem xét quy định không phải đóng kinh phí công đoàn “bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động” theo quy định tại khoản 2, Điều 26 về “Tài chính công đoàn”, Luật Công đoàn năm 2012, trong giai đoạn khởi nghiệp.

- Cần xem xét quy định không nhất thiết phải có “ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về “Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần”, trong trường hợp công ty cổ phần nhỏ có từ 11 cổ đông trở lên lựa chọn mô hình quản trị công ty không có Ban kiểm soát.

- Cần xem xét quy định không nhất thiết phải có tối thiểu 03 thành viên Ban kiểm soát, không nhất thiết “phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam” và không nhất thiết “Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty”, theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 163 về “Ban kiểm soát”, Luật Doanh nghiệp năm 2014, trong trường hợp công ty cổ phần nhỏ có từ 11 cổ đông trở lên lựa chọn mô hình quản trị có Ban kiểm soát.

- Cần xem xét quy định không bị hạn chế theo quy định về “Doanh nghiệp có vị trí độc quyền”, “Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm” theo quy định tại Điều 12 và Điều 13, Luật Cạnh tranh năm 2004, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.


Luật sư Trương Thanh Đức
Công ty Luật Baisico

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: