Chủ nhật 15/03/2026 08:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mức tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản

Tóm tắt: Bài viết nêu lên một số hạn chế, vướng mắc liên quan đến mức tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản, đồng thời phân tích nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế đó. Từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này.


Abstract: The paper points out some insufficiencies, entanglements relating to level of costs for examination, re-examination on site, assets measurement and valuation, at the same time, analyses causes of such insufficiencies and entanglements. From that point, the author makes recommendations, proposals for completion of legal provisions concerning this issue.

Xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là những biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ do đương sự yêu cầu hoặc do thẩm phán chủ động tiến hành khi xét thấy cần thiết và được thực hiện theo trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản được quy định cụ thể tại Điều 101 và Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nghĩa vụ tạm ứng chi phí đo đạc không được quy định cụ thể tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, việc đo đạc là rất cần thiết, đo đạc để xác định diện tích, ranh giới đất tranh chấp, cây trồng, vật kiến trúc trên đất để làm cơ sở giải quyết vụ án. Do đó, tạm ứng chi phí đo đạc là một vấn đề rất cần thiết và thực tế Tòa án cũng yêu cầu đương sự nộp tạm ứng chi phí đo đạc.

1. Một số hạn chế, vướng mắc liên quan đến mức tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản

Thứ nhất, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì mức để Tòa án ấn định cho đương sự nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ[1] và tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản là số tiền mà Hội đồng định giá tạm tính để tiến hành việc định giá tài sản theo quyết định của Tòa án[2], Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định tiền tạm ứng chi phí đo đạc nhưng thực tiễn giải quyết vụ án cho thấy, số tiền tạm ứng trên cũng sẽ do Tòa án tạm tính để tiến hành việc đo đạc. Vì vậy, mức tạm ứng các chi phí tố tụng bao gồm xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản sẽ do Tòa án quyết định và Tòa án sẽ ấn định mức trên dựa vào tạm tính thực tế số tiền sẽ chi cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản để thông báo cho đương sự nộp tạm ứng. Hiện nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn chi tiết những khoản cần phải chi trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản. Thông thường, những khoản cần phải chi trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản sẽ bao gồm những khoản sau: (i) Chi phí đo vẽ nhà đất, được tính theo giá của cơ quan có chức năng đo vẽ nhà, đất, đây là chi phí có hợp đồng, biên lai thu tiền; (ii) Chi phí cho phương tiện đi lại, nếu địa điểm ở xa thì chi phí được tính theo giá vận chuyển, sẽ có hóa đơn, chứng từ, nếu địa điểm gần thì cán bộ Tòa án và thành viên sẽ tự túc phương tiện; (iii) Chi phí cho đại diện Ủy ban nhân dân xã, phường tham gia phối hợp cùng Tòa án để tiến hành xác định vị trí đất, ranh giới đất; (iv) Chi phí cho Hội đồng định giá. Ngoài những khoản chi như trên thì một số Tòa án sẽ còn những khoản chi khác và những khoản chi đó đa phần sẽ có hóa đơn, chứng từ để sau này có thể quyết toán lại với đương sự.

Thứ hai, hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết về trình tự và thủ tục thu, chi liên quan đến chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản nên việc ấn định mức tạm ứng thường theo ý chủ quan của Tòa án dẫn đến mỗi Tòa án thực hiện mỗi cách khác nhau. Đồng thời, các khoản chi có cần hóa đơn, chứng từ hay không cũng cần phải quy định chi tiết. Đối với các khoản chi có hóa đơn, chứng từ thì việc thu, chi tương đối dễ dàng nhưng các khoản chi trên phải nhằm phục vụ cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản của Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế có một số khoản chi không thể có hóa đơn, chứng từ, các trường hợp trên có được tính vào số tiền để Tòa án thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản hay không (như: Tiền xăng xe cá nhân của thẩm phán và thư ký để đi đến địa điểm cần phải xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản...). Đối với các trường hợp trên thì thực tế Tòa án vẫn tính vào tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản, bởi vì số tiền mà Tòa án chi trên đều nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản. Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ căn cứ vào quy định của pháp luật; tại khoản 2 Điều 163 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì chi phí định giá tài sản là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho công việc định giá tài sản và do Hội đồng định giá tính căn cứ vào quy định của pháp luật. Như vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định các khoản chi của Tòa án cần phải có hóa đơn, chứng từ, mà các khoản chi phải là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả. Quy định như trên rất chung chung nên dễ dẫn đến trường hợp Tòa án chi những khoản chi không phù hợp nhưng Tòa án lại cho rằng, những khoản chi đó là cần thiết và hợp lý phải chi trả.

Có thể thấy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định mức tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là số tiền Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản nhưng chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết rõ ràng về trình tự và thủ tục thu, chi liên quan đến chi phí trên nên việc ấn định mức tạm ứng thường theo ý chủ quan của Tòa án. Do đó, có nhiều trường hợp thẩm phán sẽ cố tình ra thông báo tạm ứng chi phí tố tụng rất cao so với thực tế với mục đích gây khó khăn cho đương sự, đương sự không có khả năng nộp tiền tạm ứng thì Toà án sẽ căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án. Đồng thời, theo khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn sẽ không được khởi kiện lại vụ án. Tuy nhiên, thực tế còn xảy ra trường hợp Tòa án ra thông báo để đương sự nộp tạm ứng chi phí tố tụng với số tiền khá cao và đương sự chỉ có số tiền ít hơn số tiền Tòa án đã thông báo và đương sự cho rằng số tiền đó đã đủ để Tòa trưng cầu cơ quan chuyên môn để tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản, đương sự chỉ nộp số tiền như trên. Đối với trường hợp này, thông thường, Toà án sẽ không đồng ý, bởi vì Toà án đã ra thông báo để đương sự nộp đủ số tiền như đã thông báo. Vì vậy, khi nào đương sự đủ số tiền Tòa án thông báo thì Tòa án mới lập biên bản giao nhận tiền, nếu không đủ thì Tòa án sẽ không thực hiện việc lập biên bản giao nhận tiền và nếu quá thời hạn nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng thì Tòa án sẽ giải quyết theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 và khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tác giả không đồng ý với việc Tòa án từ chối giao nhận tiền khi đương sự nộp, vì số tiền Tòa án đưa ra có thể cao hơn rất nhiều so với chi phí thực tế tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản. Tuy nhiên, khi đương sự nộp số tiền ít hơn số tiền Tòa án thông báo và cho rằng số tiền trên đã đủ để Tòa án trưng cầu cơ quan chuyên môn thực hiện thì đương sự phải chứng minh cho lời trình bày của mình, có thể thông qua những hợp đồng đo đạc, định giá những phần tài sản tranh chấp tương tự trong thực tế.

Đối với mức tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì hiện nay có hai quan điểm khi Tòa án ra thông báo yêu cầu đương sự tạm ứng chi phí tố tụng như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định mức tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là số tiền Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản. Do đó, việc xác định mức tạm ứng sẽ do thẩm phán giải quyết vụ án tạm tính trên cơ sở số tiền sẽ chi cho việc trưng cầu cơ quan chuyên môn để thực hiện. Số tiền trên sẽ dựa vào những tham khảo trên thực tế, cộng với những chi phí phát sinh để thẩm phán tính toán ra mức tạm ứng cuối cùng và thông báo cho đương sự yêu cầu được biết để nộp tạm ứng. Tuy nhiên, thực tế sẽ xảy ra rất nhiều rủi ro do số tiền tạm ứng chi phí tố tụng là do Tòa án tạm tính, số tiền trên sẽ dựa vào ý chí chủ quan của thẩm phán giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, do phụ thuộc và ý chí chủ quan nên mỗi thẩm phán sẽ có cách tính toán khác nhau và thông báo số tiền tạm ứng khác nhau. Từ đó, sẽ dẫn đến không thống nhất giữa các Tòa án và khó khăn cho đương sự khi Tòa án ra thông báo với mức khá cao so với thực tế.

Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định mức tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là số tiền Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản. Tuy nhiên, với số tiền tạm ứng, Tòa án phải dựa trên những chi phí Tòa án chi trên thực tế thông qua cơ quan chuyên môn cung cấp cho Tòa án. Do đó, để tiến hành thông báo số tiền tạm ứng chi phí tố tụng cho đương sự thì trước tiên Tòa án phải liên hệ với cơ quan Tòa án tiến hành trưng cầu để các cơ quan đó cung cấp cho Tòa án bản dự tính số tiền thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản. Sau đó, Tòa án sẽ tổng hợp tất cả số tiền tạm tính và ra thông báo tạm ứng chi phí tố tụng kèm theo bản kê chi tiết số tiền tạm tính chi, những khoản cần phải chi. Khi đó, nếu đương sự không nộp số tiền tạm ứng trên thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án mới thuyết phục.

Với hai quan điểm trên, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định và chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết nhưng hiểu theo quan điểm thứ hai sẽ hợp lý, đảm bảo quyền lợi chính đáng của đương sự, khi đó thông báo tạm ứng chi phí tố tụng của Tòa án sẽ có giá trị pháp lý và thuyết phục. Bởi vì, số tiền Tòa án thông báo là những khoản Tòa án sẽ chi được liệt kê chi tiết và cung cấp cho đương sự, đây là số tiền cần thiết để Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản đã được cơ quan chuyên môn xác nhận. Nếu mức tạm ứng Tòa án đưa ra và buộc đương sự phải nộp trong khoảng thời gian nhất định nhưng đương sự không thể nộp thì Tòa án không thể tiến hành những biện pháp thu thập chứng cứ trên được, dẫn đến vụ án không thể nào giải quyết được. Vì vậy, khi hết thời hạn nộp tạm ứng chi phí tố tụng mà đương sự không nộp mà không có lý do chính đáng thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là hoàn toàn thuyết phục.

Ngoài ra, đối với mức tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản còn xảy ra trường hợp Tòa án tạm tính số tiền để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản nhưng thực tế chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết rõ ràng về trình tự và thủ tục thu, chi liên quan đến chi phí trên nên việc ấn định mức tạm ứng thường theo ý chủ quan của Tòa án và Tòa án đã tạm tính số tiền quá thấp, dẫn đến trường hợp khi thanh toán cho cơ quan chuyên môn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản thì số tiền tạm ứng không đủ để thanh toán. Đối với vấn đề trên thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định Tòa án tạm tính số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản để thông báo và yêu cầu đương sự nộp. Trong trường hợp này, Tòa án đã thông báo yêu cầu đương sự nộp số tiền cụ thể, đương sự đã nộp đủ, nhưng số tiền đương sự đã nộp không đủ thanh toán cho cơ quan chuyên môn thì Tòa án có thể thông báo để đương sự nộp thêm số tiền để đủ thanh toán hay không và nếu đương sự không nộp thì Tòa án sẽ xử lý như thế nào. Tòa án không thể căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá và chi phí tố tụng khác, bởi vì nguyên đơn có nộp tiền đầy đủ theo thông báo của Tòa án nhưng số tiền nguyên đơn nộp không đủ để thanh toán. Nếu Tòa án thông báo đương sự nộp thêm số tiền nhưng đương sự không nộp thì Tòa án không thể cho rằng đương sự không nộp tạm ứng theo yêu cầu của Tòa án do đương sự đã nộp theo thông báo lần đầu của Tòa án và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định nên không có căn cứ để Tòa án thông báo cho đương sự nộp đầy đủ số tiền, trường hợp này lỗi thuộc về Tòa án do Tòa án tạm tính số tiền không đủ để thanh toán cho cơ quan chuyên môn. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu không thanh toán đủ chi phí cho cơ quan chuyên môn thì Tòa án không thể nào lấy kết quả để phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án được. Theo quan điểm của tác giả, đối với trường hợp trên thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định số tiền tạm ứng chi phí tố tụng sẽ do Tòa án tạm tính nên thực tế thẩm phán giải quyết vụ án phải tạm tính số tiền tạm ứng cao hơn số tiền thanh toán cho cơ quan chuyên môn, nhưng không được tạm tính quá cao hoặc vừa đủ để thanh toán, bởi vì quá trình giải quyết vụ án ngoài việc thanh toán cho cơ quan chuyên môn thì có thể còn phát sinh một số chi phí tố tụng khác và thẩm phán có thể có số tiền tạm ứng để thanh toán mà không phải thông báo yêu cầu đương sự tiếp tục nộp.

Nguyên nhân chính dẫn đến mức tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản có những vướng mắc trên thực tế áp dụng là do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định chi phí tố tụng do Tòa án tạm tính, nhưng không quy định chi tiết cách tạm tính như thế nào và không hướng dẫn về trình tự, thủ tục thu, chi liên quan đến chi phí tố tụng trên. Do đó, số tiền tạm ứng chi phí tố tụng được Tòa án tạm tính dựa trên ý chí chủ quan của cá nhân thẩm phán giải quyết vụ án, chính vì dựa ý chí chủ quan mà không có bất kỳ văn bản hướng dẫn chung nên mỗi thẩm phán giải quyết vụ án sẽ nhìn nhận khác nhau và thông báo khác nhau đối với vụ án họ được phân công giải quyết. Từ đó, dẫn đến trường hợp có vụ án Tòa án thông báo yêu cầu đương sự nộp tạm ứng chi phí tố tụng nhưng sau khi thanh toán toàn bộ chi phí đối với các cơ quan chuyên môn thì số tiền còn lại dư rất nhiều và trường hợp khác thì số tiền Tòa án thông báo cho đương sự nộp lại không đủ để thanh toán chi phí với cơ quan chuyên môn.

2. Một số đề xuất, kiến nghị

Từ những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật tác giả kiến nghị cần phải có văn bản hướng dẫn Điều 155 và Điều 163 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng như sau:

Thứ nhất, cần quy định trường hợp trước khi Tòa án tiến hành thông báo số tiền để đương sự nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản thì Tòa án phải có bản dự tính số tiền thực hiện thông qua số tiền Tòa án dự kiến chi được cung cấp từ cơ quan chuyên môn. Cụ thể, đối với việc xem xét, thẩm định tại chỗ thì: “Trong trường hợp Tòa án thông báo tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì Tòa án sẽ lập bản kê chi tiết những khoản Tòa án sẽ phải chi và thẩm phán phải ký tên đóng dấu xác nhận”. Đối với việc đo đạc, định giá tài sản thì: “Toà án sẽ tiến hành liên hệ với cơ quan đo vẽ, định giá để các cơ quan trên cung cấp cho Tòa án bản dự kiến tạm tính số tiền đo đạc, định giá trên diện tích khu đất, nhà đang tranh chấp và xác nhận vào bản dự kiến tạm tính số tiền đo đạc để cung cấp cho Tòa án”. Sau đó, Tòa án sẽ tổng hợp tất cả số tiền tạm tính chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là bao nhiêu và Tòa án sẽ ra thông báo tạm ứng chi phí tố tụng kèm theo bản kê chi tiết số tiền tạm tính chi và những khoản cần phải chi để cung cấp cho đương sự. Quy định như trên sẽ bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và đương sự sẽ biết được những khoản cần phải chi và số tiền cụ thể Tòa án phải chi để đương sự thực hiện nghĩa vụ tạm ứng chi phí tố tụng. Trong trường hợp đương sự không nộp tạm ứng chi phí tố tụng thì việc đình chỉ giải quyết vụ án mới có căn cứ và thuyết phục.

Thứ hai, cần phải có văn bản hướng dẫn quy định chi tiết những khoản cần phải chi khi tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản để tránh trường hợp Tòa án chi vào những khoản không đúng quy định của pháp luật và ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Tác giả kiến nghị nên có văn bản hướng dẫn những khoản cần phải chi khi tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản theo hướng: “Khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản thì những khoản Tòa án cần phải chi bao gồm: Chi phí đo vẽ nhà đất, được tính theo giá của cơ quan có chức năng đo vẽ nhà, đất; chi phí cho phương tiện đi lại; chi phí cho đại diện Ủy ban nhân dân xã, phường tham gia phối hợp cùng Tòa án để tiến hành xác định vị trí đất, ranh đất; chi phí cho Hội đồng định giá, các chi phí Tòa án chi phải có hóa đơn, chứng từ và được lưu trong hồ sơ vụ án”. Hướng giải quyết này sẽ giúp Tòa án xác định được chính xác những khoản cần phải chi trả khi tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản, sẽ đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự.

Nguyễn Minh Hiếu

Tòa án nhân dân TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Khoản 1 Điều 163 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: