Thứ năm 30/04/2026 14:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng truyền thông góp phần tuyên truyền, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, vấn đề công tác xã hội được quy định rải rác ở rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Các văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo tiền đề pháp lý quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương từng bước phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam.

1. Vai trò của truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp

1.1. Truyền thông góp phần đưa công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp vào cuộc sống

Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, hiện đại thì công tác xã hội là một trong những yếu tố quan trọng, dành được nhiều quan tâm của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và các cấp lãnh đạo. Công tác xã hội hướng đến trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng yếu thế như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già, nạn nhân của bạo hành và tệ nạn xã hội... phát triển khả năng và sử dụng các nguồn lực riêng của họ và của cộng đồng, xã hội để giải quyết vấn đề khó khăn, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân. Công tác xã hội cũng hướng đến hỗ trợ giải quyết các vấn đề an sinh xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phòng chống bạo lực, xóa bỏ bất đình đẳng... Nhiệm vụ của công tác xã hội là hỗ trợ con người phát triển những tiềm năng, làm phong phú cuộc sống của họ, phòng ngừa những vấn đề khó khăn đến với họ và giúp họ giải quyết được vấn đề của chính mình.

Ở nước ta, tinh thần tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp, nhiều hoạt động đã có từ lâu trong cộng đồng là cơ sở cho phát triển công tác xã hội như phòng ngừa, phát triển cộng đồng và trợ giúp, hỗ trợ đối với người cao tuổi, trẻ em mồ côi, khuyết tật, những người gặp hoàn cảnh khó khăn do các cá nhân, tổ chức thực hiện... Công tác xã hội trong từng lĩnh vực có những đặc thù riêng, vì vậy nhiệm vụ, vai trò của truyền thông sẽ góp phần tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn để người dân hiểu về công tác xã hội trong từng lĩnh vực cụ thể, nhất là về một vấn đề khó như lĩnh vực tư pháp, đòi hỏi phải hiểu biết pháp luật, phải tuân thủ quy trình, thủ tục chặt chẽ…

Truyền thông có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội. Mục đích của quá trình truyền thông nhằm thay đổi nhận thức, hành vi và thái độ sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội. Truyền thông tác động đến nhận thức của đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ đó, sẽ tác động đến hành động và ứng xử của mọi người trong xã hội. Khi mà một ứng xử của người dân được lặp đi lặp lại sẽ thành nề nếp, tập quán cuối cùng trở thành những chuẩn mực của xã hội. Việc truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp sẽ góp phần giúp xã hội biết, hiểu, hiểu đúng về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp, từ đó, có những tư duy đúng, hành động đúng. Qua công tác truyền thông sẽ góp phần đưa công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp vào cuộc sống.

1.2. Góp phần thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp

Trong xã hội hiện đại, trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nhu cầu được thông tin của người dân là rất lớn. Trước thực trạng đó, các cơ quan quản lý nhà nước đã sử dụng các phương tiện truyền thông để hỗ trợ trong quá trình triển khai công vụ, thực hiện vai trò quản lý nhà nước. Phát huy được vai trò của truyền thông trong quá trình thực thi công vụ vừa đáp ứng quyền được cung cấp thông tin của người dân, đồng thời, là biện pháp để các cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ của mình. Việc cung cấp thông tin cho người dân, phổ biến, nhanh nhất hiện nay người dân dễ tiếp cận đó là thông qua các phương tiện truyền thông. Đối với công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp, truyền thông giữ vai trò định hướng dư luận xã hội, tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy phát triển công tác xã hội nói chung, công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp nói riêng; tạo môi trường xã hội thuận lợi cho việc xây dựng đường lối, chủ trương, luật pháp, chính sách cũng như thực hiện công tác tổ chức, quản lý đối với công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp. Truyền thông sẽ đóng góp tích cực vào việc truyền đạt, giải thích, hướng dẫn việc thực hiện đường lối, chủ trương, luật pháp, chính sách của Đảng, Nhà nước và những phương hướng công tác lớn của công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp. Bên cạnh việc tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp đến đông đảo quần chúng nhân dân, thông tin có chọn lọc, trao đổi ý kiến, kinh nghiệm về các khâu trong công tác này. Qua đó, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp.

2. Thực trạng công tác truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vự tư pháp

2.1. Truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp chưa thực sự được quan tâm và đầu tư thoả đáng

Trong những năm gần đây, mặc dù khái niệm về “công tác xã hội” được nhắc đến nhiều trên các phương tiện tuyền thông báo chí. Tuy nhiên, công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp vẫn còn khá mới mẻ đối với nhiều người. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội, các hoạt động công tác xã hội đã và đang ngày càng được định hình rõ ràng và thích ứng với xu hướng phát triển công tác xã hội của thế giới; đã được các cấp, các ngành, các tổ chức và các cá nhân ngày càng quan tâm; các hoạt động này đã ngày càng được phát triển mạnh mẽ hơn.

Xuất phát từ nhu cầu xã hội và để đáp ứng được sự phát triển của thực tiễn xã hội, ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020. Đây là một văn bản quan trọng đặt nền tảng cho sự phát triển nghề công tác xã hội ở nước ta. Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 đã tăng cường hiểu biết của xã hội và các cấp, các ngành, các nhà hoạch định chính sách thúc đẩy phát triển nghề công tác xã hội tại Việt Nam. Đến nay, công tác tuyên truyền về Đề án này đã đạt được kết quả nhất định, nhiều người đã biết đến nghề mới - nghề công tác xã hội. Tiếp theo đó, năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 25/3 hàng năm là Ngày Công tác xã hội Việt Nam như một hình thức vinh danh những người tham gia một công việc thầm lặng - công tác xã hội.

Mặc dù nhu cầu đào tạo về nghề công tác xã hội được Nhà nước thừa nhận để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, nhưng nhiều người vẫn không hiểu rõ về công tác xã hội và nghề công tác xã hội. Đánh giá chính xác về vai trò công tác xã hội vẫn chưa thống nhất ở cả các tổ chức nhà nước và các tổ chức phi chính phủ liên quan đến lĩnh vực an sinh xã hội. Vì thế trên thực tế vẫn còn có những nhầm lẫn, với một số người việc sử dụng thuật ngữ “công tác xã hội” để chỉ tất cả những người làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội, những người khác thì chỉ nắm được vai trò chủ yếu của công tác xã hội là từ thiện, trong khi đó, có những người khác vẫn còn hoài nghi về việc liệu công tác bảo trợ xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội hay phát triển xã hội có cần đòi hỏi đào tạo đặc biệt hay không…

Truyền thông là một lĩnh vực thiết yếu cho hoạt động của các tổ chức, đoàn thể, cơ quan trong việc triển khai chức năng, nhiệm vụ của ngành. Trước bối cảnh nhiều người, nhiều nơi, công tác xã hội nói chung, công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp nói riêng còn chưa được hiểu đúng, hiểu hết thì cách nhanh nhất để truyền tải chủ trương, chính sách này tới đông đảo quần chúng nhân dân là vấn đề thông tin, tuyên truyền cần phải được quan tâm, đẩy mạnh và cập nhật kịp thời, bài bản với những kế hoạch cụ thể, lâu dài. Có thể nói, việc chưa có một kế hoạch truyền thông nhằm truyên truyền về công tác xã hội nói chung, công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp nói riêng được thực hiện, để công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp được tuyên truyền một cách bài bản, rộng rãi trên các phương tiện truyền thông là nguyên nhân của thực trạng trên. Nguyên nhân của thực trạng này, một phần nữa phải kể đến nhận thức về vai trò của truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương ở nhiều nơi còn chưa thoả đáng, do đó, chưa có chỉ đạo sát sao, thường xuyên, liên tục cũng như sự đầu tư, trú trọng vào công tác này.

2.2. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cơ quan truyền thông còn chưa đồng bộ, nhịp nhàng

Theo thống kê, ở nước ta hiện nay, số người cần tiếp cận, sử dụng các dịch vụ công tác xã hội lớn, chiếm khoảng 28% dân số, trong đó có khoảng 11,5 triệu người cao tuổi, 7,6 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hàng triệu người hưởng trợ cấp người có công với cách mạng, 1,6 triệu hộ nghèo chiếm tỷ lệ 6,72%, 1,3 triệu hộ cận nghèo chiếm 5,32%, khoảng 2,83 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, hơn 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm, khoảng 254 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, hơn 210 nghìn người nghiện ma tuý (bạo lực gia đình và bạo hành ở các cấp độ khác nhau có xu hướng tăng); ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố; hàng ngàn xã đặc biệt khó khăn và có vấn đề xã hội (tệ nạn xã hội, cuộc sống nghèo khổ); các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội (đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt). Đối tượng cần được can thiệp, trợ giúp của công tác xã hội ngày càng tăng, tuy nhiên, các dịch vụ công tác xã hội chưa đa dạng, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn thiếu; năng lực cung cấp dịch vụ công tác xã hội và chăm sóc, trợ giúp các đối tượng của các cơ sở đạt hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội còn mỏng, đa số được đào tạo từ ngành nghề khác hoặc một số ít thậm chí không được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, chưa dựa vào cộng đồng[1].

Từ những số liệu trên cho thấy, nhu cầu cần được giúp đỡ trong xã hội là rất lớn, công tác xã hội phải được quan tâm, trú trọng nhằm đảm bảo sự công bằng, văn minh trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Tuy nhiên, việc phổ biến, lan toả đến đông đảo người dân về công tác xã hội nói chung, công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp nói riêng đến nay còn nhiều hạn chế, trong việc thống nhất nội hàm giữa truyền thông và phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí; giữa truyền thông thường xuyên và truyền thông có tính đột xuất, bất thường; việc xây dựng kế hoạch truyền thông hằng năm; trách nhiệm của đơn vị có chức năng thực hiện tác nghiệp truyền thông, nhất là nhiệm vụ truyền thông có tính đột xuất, chất lượng truyền thông chưa cao... Nhận thức về vai trò, vị trí của việc truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp trong quá trình xây dựng nền an sinh xã hội tiên tiến của đất nước ở nhiều cấp, ngành còn hạn chế. Nhiều địa phương nhận thức chưa đúng nên chưa chủ động, chưa quyết liệt triển khai kế hoạch tuyên truyền. Số lượng người dân có nhu cầu trợ giúp xã hội được tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp còn ít, do công tác này chưa được phổ biến rộng rãi, bài bản.

3. Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp

3.1. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công tác xã hội

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, vấn đề công tác xã hội được quy định rải rác ở rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Các văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo tiền đề pháp lý quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương từng bước phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam. Một số quy định về công tác xã hội để trợ giúp các đối tượng như người cao tuổi, người khuyết tật, bảo vệ trẻ em, người nhiễm HIV, người nghiện ma tuý, người bán dâm, bạo lực gia đình đã được quy định tại nhiều bộ luật, luật chuyên ngành như: Bộ luật Lao động; Luật Người cao tuổi; Luật Người khuyết tật; Luật Trẻ em; Luật Phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và nhiều chương trình, đề án liên quan đến trợ giúp xã hội. Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý phát triển nghề công tác xã hội chưa được quy định rõ ràng, hoàn chỉnh, đặc biệt là vai trò, nhiệm vụ của công chức, viên chức, nhân viên công tác xã hội; cấp chứng chỉ hành nghề; cấp, thu hồi, điều chỉnh giấy phép hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và điều kiện thành lập, hoạt động và điều kiện giải thể cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ công tác xã hội chưa được xác định cụ thể trong hệ thống văn bản pháp luật; chưa có Luật quy định riêng về công tác xã hội làm cơ sở định hướng phát triển công tác xã hội trong các ngành, lĩnh vực hiện đang được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành; nhiều văn bản pháp luật quy định về công tác xã hội có giá trị pháp lý chưa cao, chủ yếu là nghị định và thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan. Vì vậy, cần sớm ban hành một đạo luật về công tác xã hội để giải quyết đầy đủ, toàn diện các vấn đề liên quan đến công tác xã hội, trong đó có vấn đề truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp. Khi có luật chuyên ngành điều chỉnh, nó là cơ sở để triển khai nhiệm vụ truyền thông để tuyên truyền, phổ biến vấn đề này một cách bài bản, lâu dài.

3.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ truyền thông chuyên nghiệp, có trình độ về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp; xây dựng quy chế phối hợp giữa cơ quan truyền thông và cơ quan quản lý nhà nước về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp

Công tác xã hội là một nghề được ví như “làm dâu trăm họ”, do vậy, những người là truyền thông trong lĩnh vực này cũng cần được đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ. Trên thực tế, phần lớn những người có nhu cầu được giúp đỡ là thuộc nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, trong khi đó, công tác tư pháp là một lĩnh vực khó, đòi hỏi người trợ giúp bên cạnh việc hiểu hoàn cảnh, tâm sinh lý của người cần trợ giúp còn phải am hiểu luật pháp. Người làm truyền thông cũng vậy, để công tác truyền thông đạt hiệu quả, bên cạnh nghiệp vụ truyền thông, cán bộ làm truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp còn phải có kiến thức nhất định về tâm lý và kiến thức pháp luật. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần phải nghiên cứu, có kế hoạch đào tạo, xây dựng một đội ngũ cán bộ truyền thông cho công tác này.

Bên cạnh đó, để công tác truyền thông về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp được triển khai thực hiện bài bản, giữa cơ quan truyền thông và cơ quan quản lý nhà nước về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp cần nghiên cứu, xây dựng Quy chế phối hợp, để công tác này được phổ biến rộng rãi và phát huy hiệu quả trên thực tiễn.

3.3. Nghiên cứu, mở chuyên mục về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp trên báo chí - phương tiện truyền thông hiệu quả, tin cậy và phổ biến nhất

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, thế giới bị "san phẳng" bởi cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là mạng internet và các thiết bị di động. Nhờ có internet, con người chủ động trong việc học tập, làm chủ tri thức, việc tìm kiếm thông tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Ngày nay, mỗi cá nhân sẽ chủ động tìm kiếm thông tin mà họ cần, người dân không chỉ thụ động tiếp nhận thông tin một chiều như trước nữa, vì vậy trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, phối hợp với các cơ quan truyền thông để tuyên truyền công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp thông qua việc mở chuyên mục công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp trên báo chí. Hệ thống pháp luật Việt Nam là một khối lượng kiến thức khổng lồ, được thay đổi, cập nhật thường xuyên theo sự phát triển của đất nước phục vụ việc quản lý xã hội và hội nhập quốc tế. Người dân không thể cập nhật và nắm được hết các quy định của pháp luật. Qua chuyên mục này, một mặt các cơ quan nhà nước thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nghiệp vụ, kỹ năng… về công tác xã hội nói chung, công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp nói riêng, đồng thời, qua đó người dân sẽ dễ dàng gửi các câu hỏi, tình huống, những khó khăn của bản thân đến các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm để được hỗ trợ, được giải đáp, tạo thuận lợi trong việc giải quyết các mối quan hệ xã hội liên quan... thông qua điện thoại di động hay smatphone, từ đó, người dân biết được các quy định của pháp luật về công tác xã hội nói chung, công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp nói riêng, đồng thời, người dân có thể dễ dàng hơn trong việc chủ động tìm kiếm sự trợ giúp thông qua “kênh” tuyên truyền này.

Vinh Nguyễn


[1] Tờ trình ngày 25/12/2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Chính phủ về việc xây dựng Luật Công tác xã hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: