Thứ ba 06/10/2026 15:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra trong thi hành án DS

Bài viết phân tích những kết quả đạt được trong công tác kiểm tra của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự; chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần được khắc phục và nguyên nhân; đưa ra những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra trong thời gian tới.

Kiểm tra là phương thức có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý kịp thời những hạn chế, yếu kém trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác này, trong thời gian vừa qua, hệ thống thi hành án dân sự (THADS) đã xác định công tác kiểm tra là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành, luôn được các cấp ủy Đảng và các cấp Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự quan tâm, chú trọng chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm tra. Trong những năm công tác vừa qua, công tác kiểm tra tại Tổng cục Thi hành án dân sự và các cơ quan THADS địa phương đã đạt được kết quả nhất định, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của Tổng cục Thi hành án dân sự đối với các cơ quan THADS các cấp. Hiệu quả công tác kiểm tra đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ, góp phần trong việc phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm, chấn chỉnh việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan THADS. Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế, bất cập cần được khắc phục với những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra trong THADS.

1. Những kết quả nổi bật trong công tác kiểm tra của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự

Thứ nhất, các cơ quan quản lý đã chú trọng việc thể chế hóa các hình thức kiểm tra, xây dựng đề án, hoàn thiện quy trình nội bộ hướng dẫn việc thực hiện công tác kiểm tra trong toàn hệ thống.

Nhận thức vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, ngay từ năm 2020, Tổng cục Thi hành án dân sự đã xây dựng Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra trong hệ thống THADS”. Triển khai thực hiện Đề án, Tổng cục Thi hành án dân sự đã xây dựng, ban hành Quy chế kiểm tra trong THADS mới (theo Quyết định số 196/2021/QĐ-TCTHADS ngày 03/3/2021) thay thế Quy chế kiểm tra theo Quyết định số 171/QĐ-TCTHADS ngày 25/01/2019 để triển khai thực hiện từ năm 2021. Có thể thấy, Quy chế mới đã tiếp thu được các giải pháp đổi mới công tác kiểm tra được đề ra trong Đề án, bổ sung các quy trình, trình tự, thủ tục thực hiện các hình thức kiểm tra đa dạng, trong đó chú trọng đến hình thức tự kiểm tra, kiểm tra nội bộ, kiểm tra cấp trên với cấp dưới.

Ngày 14/8/2023, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 04/2023/TT-BTP hướng dẫn một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong hoạt động THADS (thay thế Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016) với nhiều điều sửa đổi, bổ sung, trong đó có bổ sung một số quy định liên quan đến công tác kiểm tra như: Hình thức kiểm tra bắt buộc hàng năm trong kế hoạch kiểm tra là “tự kiểm tra”; quy định về trình tự, thủ tục kiểm tra. Việc thể chế hóa thành quy phạm pháp luật các trình tự, thủ tục kiểm tra và hình thức kiểm tra nêu trên đã góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho công tác kiểm tra, giúp công tác kiểm tra trong THADS ngày càng bài bản và đi vào nền nếp.

Nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác kiểm tra, sau 03 năm thực hiện Quy chế kiểm tra năm 2021, ngay từ đầu năm 2024, Tổng cục Thi hành án dân sự đã có văn bản chỉ đạo các đơn vị trực thuộc Tổng cục và các cơ quan THADS địa phương triển khai việc tổng kết kết quả thực hiện Quy chế kiểm tra trong THADS, báo cáo những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm tra tại địa phương. Trên cơ sở rà soát, nghiên cứu các khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm tra, Tổng cục đã chỉ đạo đơn vị chuyên môn đề xuất, xây dựng các nội dung sửa đổi, bổ sung Quy chế kiểm tra năm 2021 phù hợp hơn với tình hình thực tiễn. Dự kiến Quy chế kiểm tra mới sẽ được hoàn thiện và ban hành trong năm 2024.

Thứ hai, các cấp cơ quan THADS định kỳ hàng năm căn cứ vào kế hoạch công tác trọng tâm của ngành, kế hoạch công tác của cơ quan quản lý trực tiếp để xây dựng, ban hành kế hoạch kiểm tra riêng cho mặt công tác này nhằm triển khai thực hiện công tác kiểm tra một cách bài bản, chặt chẽ đối với hầu hết các mặt công tác của đơn vị, đồng thời cũng chú trọng kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm.

Căn cứ kế hoạch kiểm tra hàng năm của các cơ quan THADS, có thể thấy, ngay từ khi xây dựng và trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp ủy Đảng, Lãnh đạo các cấp đều quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chú trọng, tập trung công tác tự kiểm tra từ Tổng cục đến cấp Chi cục; tăng cường kiểm tra chuyên đề, kiểm tra đột xuất đối với những đơn vị, cá nhân có dấu hiệu vi phạm. Sau khi kế hoạch kiểm tra công tác THADS được ban hành, các đơn vị thuộc Tổng cục và các cơ quan THADS địa phương đã kịp thời ban hành kế hoạch kiểm tra, tự kiểm tra toàn diện việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Đến nay, 100% công chức, người lao động, các đơn vị thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự đều nghiêm túc thực hiện tự kiểm tra theo kế hoạch kiểm tra hàng năm để kịp thời khắc phục các thiếu sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các báo cáo, kết luận tự kiểm tra của cơ quan cấp dưới được cơ quan cấp trên đánh giá, thẩm tra để nắm bắt tình hình của cơ quan cấp dưới hoặc thực hiện việc phúc tra lại kết quả tự kiểm tra nếu thấy cần thiết. Các đơn vị chuyên môn được giao chủ trì các đoàn kiểm tra cũng đã kịp thời tham mưu Lãnh đạo Tổng cục Thi hành án dân sự thành lập đoàn kiểm tra và thực hiện trình tự, thủ tục kiểm tra theo đúng Quy chế kiểm tra.

Tại địa phương, 100% Cục Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện hàng năm đều đã ban hành kế hoạch kiểm tra, tự kiểm tra của đơn vị. Quá trình triển khai đã nghiêm túc tổ chức thực hiện theo đúng quy trình, trình tự, thủ tục hướng dẫn tại Quy chế kiểm tra trong THADS.

Về việc kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới, Tổng cục Thi hành án dân sự thực hiện phân cấp kiểm tra và chủ yếu kiểm tra đối với các Cục, chỉ thực hiện kiểm tra đối với Chi cục trong trường hợp cần thiết; Cục Thi hành án dân sự kiểm tra đối với các Chi cục và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm đối với các cơ quan, đơn vị trực thuộc quản lý. Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự xây dựng kế hoạch kiểm tra của Tổng cục cũng như chỉ đạo các cơ quan THADS địa phương khi xây dựng kế hoạch kiểm tra cần tập trung kiểm tra chuyên đề đối với công tác thu hồi tài sản trong vụ án kinh tế, tham nhũng; án tín dụng ngân hàng, xác minh phân loại án, kho vật chứng…; tăng cường kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm hoặc địa bàn trọng điểm cần có sự tập trung chỉ đạo, địa bàn đã được kiểm tra nhưng không có sự thay đổi tích cực. Có thể thấy, chỉ đạo nêu trên đã kịp thời nắm bắt được tình hình trọng điểm cần tập trung kiểm tra, rà soát tại các cơ quan THADS, góp phần hạn chế tình trạng kiểm tra dàn trải, không có trọng tâm, trọng điểm.

Thứ ba, số lượng các cuộc kiểm tra được tăng cường, chất lượng kiểm tra ngày càng được nâng cao, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng công tác thi hành án.

Kết quả thống kê cho thấy, trong 03 năm thực hiện Quy chế kiểm tra năm 2021, các cơ quan trong hệ thống THADS đã tiến hành gần 2.200 cuộc tự kiểm tra. Đây là một hình thức kiểm tra bắt buộc thực hiện định kỳ hàng năm được các cơ quan THADS tiến hành từ khi Quy chế kiểm tra năm 2021 được ban hành. Bên cạnh kết quả đạt được về các cuộc tự kiểm tra, các cơ quan THADS cũng đã tiến hành hơn 460 cuộc kiểm tra nội bộ; hơn 1.700 cuộc kiểm tra cấp trên đối với cấp dưới; phối hợp tiến hành nhiều cuộc kiểm tra liên ngành đối với các địa bàn, lĩnh vực trọng điểm THADS.

Riêng tại Tổng cục Thi hành án dân sự, trong năm công tác 2023, Tổng cục đã tổ chức kiểm tra toàn diện, kiểm tra chuyên đề, phối hợp tổ chức kiểm tra liên ngành đối với 36 Cục Thi hành án dân sự về các lĩnh vực liên quan đến công tác THADS, thi hành án hành chính. Các chuyên đề kiểm tra tập trung vào công tác phân loại án, án có điều kiện trên 01 năm chưa thi hành xong; công tác văn phòng; theo dõi thi hành án hành chính; tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; công tác tổ chức cán bộ; công tác giải quyết bồi thường nhà nước; công tác quản lý, sử dụng tài sản công; kiểm tra liên ngành về công tác thi hành án… Quá trình thực hiện kiểm tra, các đoàn kiểm tra của Tổng cục Thi hành án dân sự đã nghiêm túc và có trách nhiệm, khách quan trong việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan THADS; tham mưu lãnh đạo Tổng cục và người có thẩm quyền xem xét, xử lý trách nhiệm tương xứng với các vi phạm được kết luận. Bên cạnh đó, Tổng cục Thi hành án dân sự thành lập 02 tổ công tác trọng điểm để xem xét trực tiếp thực tế, đôn đốc tức thì đối với những địa phương còn hạn chế, trong đó trọng tâm là công tác chuyên môn, nghiệp vụ, công tác kế hoạch - tài chính, công tác phòng, chống tham nhũng, công tác kiểm tra… để hỗ trợ tối đa các địa phương hoàn thành tốt các chỉ tiêu và nhiệm vụ công tác được giao.

Đối với công tác năm 2024, ngay trong tháng 01/2024, nhận thấy công tác chấp hành quy trình pháp luật về đấu giá tài sản và thực hiện đăng tải thông báo kết quả lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản THADS vẫn còn một số nơi, một số vụ việc để xảy ra sai sót, Tổng cục Thi hành án dân sự đã thành lập Tổ công tác giám sát, kiểm tra đột xuất việc chấp hành quy trình pháp luật về đấu giá tài sản và thực hiện đăng tải thông báo kết quả lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản THADS trên trên Cổng thông tin điện tử quốc gia về đấu giá tài sản. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan THADS địa phương phân công 01 công chức thường trực theo dõi việc chấp hành đăng thông tin về bán đấu giá tài sản của cơ quan THADS trên Cổng thông tin điện tử THADS, Cổng thông tin điện tử quốc gia về đấu giá tài sản góp phần quán triệt, kịp thời phát hiện những bất thường, sai phạm trong công tác này.

Kết thúc kiểm tra, kết luận kiểm tra được ban hành phản ánh đúng, khách quan thực trạng của đơn vị được kiểm tra, xác định rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, mức độ vi phạm theo đúng quy định pháp luật là căn cứ để xem xét trách nhiệm sau kết luận; khắc phục kết luận chung chung, không xác định rõ trách nhiệm của cá nhân, đơn vị vi phạm. Kết luận kiểm tra đã được các cơ quan THADS thực hiện nghiêm; các cá nhân, đơn vị vi phạm đã được xem xét, xử lý trách nhiệm tương xứng góp phần răn đe, chấn chỉnh và ngăn ngừa vi phạm, tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong hệ thống THADS.

Thông qua việc kiểm tra, tự kiểm tra nghiêm túc, bài bản, toàn diện, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm nêu trên, đã góp phần giúp các cơ quan THADS nâng cao chất lượng kiểm tra nói riêng, chất lượng công tác THADS nói chung, một số kết quả nổi bật cụ thể như:

- Hiệu quả công tác kiểm tra đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ, đặc biệt là các chỉ tiêu về việc, về tiền trong 03 năm qua, năm sau luôn cao hơn năm trước, trong đó kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng kinh tế thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo đạt được kết quả tích cực.

- Nhận thức về vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, công chức trong toàn hệ thống THADS về công tác kiểm tra, tự kiểm tra đã có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực; xác định công tác tự kiểm tra là “tự soi, tự sửa” để chủ động khắc phục các hạn chế, thiếu sót, vi phạm; tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của Lãnh đạo cũng như chấn chỉnh việc thực hiện nhiệm vụ của công chức trong cơ quan, đơn vị.

- Thông qua công tác kiểm tra, tự kiểm tra, những vi phạm được kịp thời phát hiện, chấn chỉnh theo quy định; một số vụ việc vi phạm nghiêm trọng có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự đã được phát hiện và chuyển cơ quan có thẩm quyền để điều tra theo quy định. Thông qua công tác kiểm tra, tự kiểm tra đã nhận diện các vi phạm có tính phổ biến trong quá trình tổ chức thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo để chấn chỉnh toàn hệ thống và có định hướng, giải pháp phù hợp.

- Hoạt động kiểm tra, tự kiểm tra đã góp phần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc chấp hành các quy định của pháp luật. Việc tập trung kiểm tra còn rút ra được những kiến nghị, đề xuất một cách toàn diện, giúp Lãnh đạo các Cục Thi hành án dân sự nắm rõ tình hình, thực trạng công tác, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị và chỉ đạo cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý của Lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống THADS.

2. Tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm tra và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn công tác kiểm tra nhận thấy còn có một số tồn tại, khó khăn ảnh hưởng đến hiệu quả công tác kiểm tra, cơ bản như: Đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra còn phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ trong khi biên chế không tăng; chất lượng đội ngũ công chức chưa đồng đều nên ảnh hưởng phần nào đến chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra; công tác tự kiểm tra bước đầu đã phát huy hiệu quả nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, vẫn còn cơ quan, đơn vị thiếu chủ động nên việc tự kiểm tra còn chưa đạt hiệu quả tối đa; chất lượng và hiệu quả một số cuộc kiểm tra còn chưa cao, chưa thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục yêu cầu theo Quy chế kiểm tra; công tác hậu kiểm mới chỉ đáp ứng được một phần yêu cầu trong việc đánh giá kết quả thực hiện kết luận của địa phương bị kiểm tra dẫn đến việc khắc phục vi phạm được chỉ ra trong kết luận đôi khi còn chậm, chưa kịp thời; phần mềm hỗ trợ trực tuyến THADS bước đầu triển khai việc cập nhật hồ sơ thi hành án lên phần mềm nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu trong việc khai thác dữ liệu hồ sơ thi hành án khi thực hiện công tác kiểm tra.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau: Về mặt chủ quan, có nguyên nhân xuất phát từ trong công tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan quản lý. Mặc dù, công tác chỉ đạo điều hành đã có nhiều đổi mới, sâu sát hơn nhưng vẫn còn một số ít Thủ trưởng đơn vị chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của công tác kiểm tra, chưa chủ động, quyết liệt, sâu sát trong chỉ đạo công tác kiểm tra, nhất là trong việc tự kiểm tra; chưa thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm tra, kiểm tra cho đội ngũ chuyên trách làm công tác kiểm tra. Về mặt khách quan, có nguyên nhân trực tiếp từ nguồn nhân lực thực hiện kiểm tra hiện nay còn thiếu, trong khi chỉ tiêu biên chế không tăng ảnh hưởng đến nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm tra và hậu kiểm. Bên cạnh đó, vướng mắc về thể chế cũng là một trong những nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng kiểm tra. Sự chồng chéo giữa các quy định của pháp luật về THADS và pháp luật chuyên ngành khác, cách hiểu không thống nhất của các đơn vị áp dụng pháp luật, dẫn đến khó xác định trách nhiệm, vi phạm của chấp hành viên, công chức, đối tượng kiểm tra. Ngoài ra, trình tự, thủ tục kiểm tra, tự kiểm tra theo Quy chế kiểm tra năm 2021 bộc lộ một số hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra

Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra trong THADS, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, về công tác chỉ đạo, điều hành:

- Phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy, vai trò chỉ đạo thực hiện của lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong công tác kiểm tra, tự kiểm tra; tăng cường và đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành theo hướng sâu sát, kịp thời, hiệu quả. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cấp Lãnh đạo trong chỉ đạo, đôn đốc thực hiện công tác kiểm tra, tự kiểm tra; gắn trách nhiệm của Lãnh đạo phụ trách địa bàn, của các đơn vị trong việc tham mưu thực hiện kiểm tra.

- Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm trong toàn hệ thống THADS về những tồn tại, hạn chế đã được chỉ ra trong các kết luận kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ủy ban Kiểm tra cấp tỉnh, kết luận kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân, kết luận thanh tra của Thanh tra Bộ, kết luận kiểm tra của Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự. Cấp ủy tiếp tục thực hiện hiệu quả các văn bản, nghị quyết, chương trình hành động của các cơ quan Đảng, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp và Đảng ủy Tổng cục Thi hành án dân sự về công tác kiểm tra, giám sát.

Thứ hai, về xây dựng và hoàn thiện thể chế:

- Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện thể chế pháp luật về THADS, thi hành án hành chính để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn. Tổng cục Thi hành án dân sự đang khẩn trương rà soát, sửa đổi toàn diện các quy định của Luật Thi hành án dân sự để đề xuất đưa vào Chương trình Xây dựng luật của Quốc hội và ban hành năm 2025.

- Nhanh chóng rà soát, sửa đổi các quy trình, quy chế và biểu mẫu về kiểm tra, tự kiểm tra theo hướng đổi mới cách làm, phương thức tiến hành kiểm tra, bảo đảm hiệu quả, thiết thực. Hiện nay, Tổng cục Thi hành án dân sự đã bước đầu triển khai đổi mới phương thức kiểm tra theo hướng đoàn kiểm tra xây dựng đề cương chi tiết, yêu cầu đối tượng kiểm tra báo cáo và cung cấp tài liệu kèm theo; đoàn kiểm tra phải nghiên cứu trước báo cáo, hồ sơ, tài liệu để phân tích, làm rõ vấn đề cần yêu cầu giải trình, làm rõ. Trên cơ sở đó, mới tiến hành kiểm tra trực tiếp tại địa phương để yêu cầu giải trình.

Thứ ba, về rà soát, củng cố nhân sự làm công tác kiểm tra: Lãnh đạo chú trọng nâng cao trình độ, kỹ năng cho công chức, đặc biệt kỹ năng về kiểm tra. Do đó, cần thường xuyên thực hiện các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, nâng cao kỹ năng cho cán bộ làm công tác kiểm tra.

Thứ tư, về việc xây dựng, thực hiện kế hoạch kiểm tra; tăng cường công tác hậu kiểm, khắc phục, phòng ngừa vi phạm: Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung kiểm tra lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, các địa bàn có nhiều vấn đề dư luận xã hội quan tâm, tránh việc kiểm tra dàn trải nhưng chất lượng, hiệu quả không cao. Chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm kế hoạch kiểm tra hàng năm kết hợp chặt chẽ với kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm; nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra bảo đảm khách quan, phản ánh và đánh giá đúng tình hình, chủ động khắc phục các hạn chế, thiếu sót tại cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống. Kết luận kiểm tra phản ánh đúng, khách quan thực trạng của đơn vị được kiểm tra, xác định rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, mức độ vi phạm theo đúng quy định pháp luật; xem xét, xử lý đúng người, đúng tính chất sai phạm bảo đảm tính nghiêm minh, có tác dụng răn đe và cảnh tỉnh chung; khắc phục tình trạng kết luận chung chung, không xác định rõ trách nhiệm của cá nhân, đơn vị vi phạm. Tăng cường phúc tra, kiểm tra việc thực hiện các kết luận tự kiểm tra, đặc biệt là các cơ quan, đơn vị có vi phạm, có dấu hiệu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung kết luận, kiến nghị; gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong việc bảo đảm kết luận kiểm tra được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, không bỏ sót các nội dung của kết luận. Trên cơ sở theo dõi các kết luận kiểm tra, tổng hợp các vi phạm điển hình để tổ chức rút kinh nghiệm trong toàn hệ thống cũng như nhân rộng cách làm hay, hiệu quả.

Thứ năm, về việc ứng dụng công nghệ thông tin: Lãnh đạo tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, hoàn thiện phần mềm hỗ trợ trực tuyến THADS về cập nhật hồ sơ thi hành án; nghiên cứu xây dựng phần mềm về kiểm tra để thuận lợi cho công tác quản lý, tổng hợp và khai thác dữ liệu về kiểm tra trong toàn hệ thống.

Thứ sáu, kịp thời khen thưởng hoặc đề xuất khen thưởng đối với cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác kiểm tra, tự kiểm tra; đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm do cố ý, có mục đích vụ lợi, biểu hiện tham nhũng, tiêu cực.

Công tác kiểm tra trong hệ thống THADS đã ngày càng đi vào nền nếp và đã đạt được nhiều kết quả nổi bật. Trong thời gian tới, các cơ quan THADS cần tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, nhận diện những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, từ đó tích cực, chủ động thực hiện các giải pháp để ngày càng nâng cao chất lượng kiểm tra, phát huy vai trò, hiệu quả của hoạt động kiểm tra, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ của toàn hệ thống./.

Nguyễn Thị Ngọc

Vụ Giải quyết khiếu nại, tố cáo, Tổng cục Thi hành án dân sự

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 409), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: