Thứ tư 23/09/2026 17:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp

Nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức tuân thủ, chấp hành, tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật, xây dựng lối sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật trong toàn xã hội; đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phát triển ổn định, bền vững, đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, góp phần bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền được thông tin về pháp luật của công dân, ngày 25/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 705/QĐ-TTg ban hành Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021 (sau đây gọi tắt là Chương trình)[1].

1. Thực trạng hoạt động của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp
Theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (gọi tắt là Hội đồng) được thành lập ở ba cấp: Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. Hội đồng Trung ương do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; Hội đồng cấp tỉnh, cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định thành lập. Hội đồng là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và huy động nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; cơ quan thường trực Hội đồng của Trung ương là Bộ Tư pháp, của Hộ đồng cấp tỉnh là Sở Tư pháp, của Hội đồng cấp huyện là Phòng Tư pháp (Điều 7); thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng được quy định tại Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 42/2017/QĐ-TTg ngày 20/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg.

Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ thành lập, củng cố, kiện toàn Hội đồng Trung ương khi có sự thay đổi về nhân sự (Quyết định số 1060/QĐ-TTg ngày 05/7/2013; Quyết định số 1500/QĐ-TTg ngày 26/8/2014; Quyết định số 1430/QĐ-TTg ngày 20/9/2017). Tại 100% cấp tỉnh, cấp huyện trong cả nước, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đều đã ban hành quyết định thành lập; củng cố, kiện toàn Hội đồng cùng cấp; ban hành quy chế hoạt động. Thành viên Hội đồng được phân công, giao nhiệm vụ phụ trách một số lĩnh vực, địa bàn theo quy chế hoạt động; Ban Thư ký giúp việc Hội đồng được củng cố, kiện toàn cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ (Quyết định số 3010/QĐ-HĐPH ngày 09/12/2013; Quyết định số 2610/QĐ-HĐPH ngày 21/12/2017; Quyết định số 2056/QĐ-HĐPH ngày 19/8/2013 và Quyết định số 2611/QĐ-HĐPH ngày 21/12/2017). Hàng năm, Hội đồng các cấp đều tổ chức họp định kỳ 02 lần theo quy chế hoạt động, ban hành kế hoạch, tổ chức nhiều đoàn kiểm tra để nắm bắt tình hình; kịp thời giải đáp, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; có văn bản, kế hoạch định hướng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với nâng cao ý thức tuân thủ và chấp hành Hiến pháp, pháp luật trong toàn xã hội.

Từ thực tiễn hoạt động cho thấy thiết chế Hội đồng hoạt động khá hiệu quả, bước đầu phát huy vai trò trong tư vấn cho Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong hoàn thiện thể chế, chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng, ban hành, kiểm tra, đôn đốc chương trình, kế hoạch trung hạn, dài hạn về phổ biến, giáo dục pháp luật; xác định nội dung trọng tâm cần phổ biến, giáo dục pháp luật hằng năm; đề xuất nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, lồng ghép, gắn kết chặt chẽ hơn giữa chức năng tư vấn, tham mưu của Hội đồng với chức năng phổ biến, giáo dục pháp luật chuyên ngành; kịp thời định hướng chủ đề, nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật Việt Nam; tư vấn, tham mưu triển khai quán triệt, phổ biến Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản mới để kịp thời đưa chủ trương, chính sách pháp luật vào cuộc sống, bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của nhân dân, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật trong cán bộ và nhân dân.

Bên cạnh kết quả đạt được, trong hoạt động của Hội đồng các cấp vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Việc tư vấn tham mưu, ban hành chương trình, đề án, kế hoạch về phổ biến, giáo dục pháp luật; kế hoạch hoạt động của Hội đồng hằng năm còn chậm; tính chất tư vấn, tham mưu của một số Hội đồng chưa rõ nét. Hiệu quả công tác phối hợp trong phổ biến, giáo dục pháp luật chưa cao, chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của từng thành viên Hội đồng, nhất là trong chỉ đạo, hướng dẫn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chuyên ngành và phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân. Việc triển khai chương trình, kế hoạch phối hợp về phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thường xuyên. Một số Hội đồng cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chưa thực chất, thiếu thường xuyên, hiệu quả thấp; có nơi còn giao hoàn toàn cho cơ quan tư pháp; chưa phân định rõ trách nhiệm của từng thành viên Hội đồng; chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến hạn chế, yếu kém trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật như hiệu quả chưa rõ nét, chưa tạo được chuyển biến rõ rệt trong ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành pháp luật; thiếu thường xuyên, liên tục và rộng khắp…

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên như vẫn còn cơ quan, tổ chức, người đứng đầu nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; chưa thấy hết trách nhiệm, cá biệt còn coi phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của riêng Bộ Tư pháp, Ngành Tư pháp. Một số Hội đồng, Ban Thư ký chậm được củng cố, kiện toàn, chưa phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; hầu hết thành viên Hội đồng đều kiêm nhiệm, chế độ, chính sách đãi ngộ thấp. Một số thủ trưởng cơ quan, tổ chức, thành viên Hội đồng chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm khi tham gia Hội đồng nên chưa chủ động đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến lĩnh vực, địa bàn, đối tượng quản lý.

2. Một số giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật

Trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cùng với việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với thực hiện có hiệu quả Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành, cần chú trọng một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, quán triệt đầy đủ và triển khai thực hiện nghiêm túc Quyết định số 42/2017/QĐ-TTg ngày 20/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; bám sát hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn số 6265/BTP-PBGDPL ngày 24/11/2017 về kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng để triển khai các hoạt động của Hội đồng phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương; kịp thời phát hiện vướng mắc, bất cập, những quy định không khả thi hoặc không còn phù hợp với thực tiễn để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Thứ hai, thường xuyên rà soát, củng cố, kiện toàn Hội đồng, Ban Thư ký giúp việc Hội đồng khi có sự thay đổi thành viên (do nghỉ hưu, chuyển công tác hoặc không còn được giao giúp thủ trưởng cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật). Từng thành viên Hội đồng, Ban Thư ký giúp việc Hội đồng cần quán triệt đầy đủ và triển khai thực hiện nghiêm túc trách nhiệm được giao theo Quyết định số 42/2017/QĐ-TTg; Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg; sớm rà soát, ban hành và triển khai thực hiện tốt quy chế hoạt động của Hội đồng để phân công rõ phạm vi trách nhiệm của tập thể Hội đồng, của từng thành viên gắn với nhiệm vụ thường xuyên, có tính ổn định theo lĩnh vực, địa bàn, đối tượng quản lý. Thành viên Hội đồng đến từ cơ quan, tổ chức nào sẽ chịu trách nhiệm tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực, địa bàn, đối tượng được giao quản lý nhà nước của cơ quan, tổ chức mà mình là đại diện. Thành viên Hội đồng chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch, đánh giá, tổng kết thực tiễn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến lĩnh vực, địa bàn quản lý và tham mưu, đề xuất Hội đồng các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến lĩnh vực, địa bàn quản lý.

Thứ ba, tăng cường công tác phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các thành viên Hội đồng, Ban Thư ký giúp việc Hội đồng với nhau và với cơ quan thường trực Hội đồng (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp). Hội đồng cần làm tốt công tác tư vấn, tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong hoàn thiện thể chế, chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật; trong công tác lập kế hoạch trung hạn, dài hạn, hằng năm; chỉ đạo, hướng dẫn định hướng chủ đề, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật hằng năm; điều tiết các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và phân bổ nguồn lực bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực hiệu quả; huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia.

Thứ tư, để cao trách nhiệm, phát huy đầy đủ vai trò của từng thành viên Ban Thư ký giúp việc Hội đồng, của cơ quan thường trực Hội đồng trong tư vấn, tham mưu giúp Hội đồng triển khai chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao; gắn trách nhiệm của thành viên Hội đồng, Ban Thư ký giúp việc Hội đồng với trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật của người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thành viên tham gia Hội đồng, Ban Thư ký giúp việc Hội đồng.

Thứ năm, tiếp tục đổi mới nội dung hoạt động của Hội đồng gắn với chú trọng việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và đề ra các giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả các phiên họp Hội đồng, Ban Thư ký giúp việc Hội đồng; đa dạng hóa các hình thức hoạt động của Hội đồng gắn với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành, triển khai thực hiện nhiệm vụ, duy trì hoạt động (nhất là trong phối hợp, trao đổi thông tin tại các cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản, qua email) và trong chỉ đạo, hướng dẫn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để phát huy trí tuệ tập thể và đề cao trách nhiệm cá nhân của từng thành viên Hội đồng tại các phiên họp và tham gia thực hiện các nhiệm vụ của Hội đồng liên quan đến lĩnh vực được giao phụ trách.

TS. Đỗ Xuân Lân

Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: