Thứ sáu 13/03/2026 18:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học đào tạo ngành luật

Bài viết bàn về hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo tín chỉ, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các trường đại học có đào tạo ngành Luật

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Ngành Giáo dục cũng không ngừng đổi mới về phương thức đào tạo, mô hình đào tạo và nội dung đào tạo. Trong đó, đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã được áp dụng và mang lại hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện đại. Học chế tín chỉ được chính thức triển khai từ năm 2001 khi Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh học chế tín chỉ như là một giải pháp để đổi mới giáo dục đại học[1]. Tuy nhiên, khi các trường đại học có đào tạo ngành Luật “bắt tay” vào việc xây dựng hệ thống đào tạo theo học chế tín chỉ đã gặp rất nhiều khó khăn như: Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước còn thiếu, chưa đồng bộ; các chế độ, chính sách khuyến khích cho việc đào tạo tín chỉ còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; cơ sở vật chất chưa hiện đại, số lượng phòng học, giảng đường không đủ; đội ngũ giảng viên còn thiếu; những vấn đề lý luận về đào tạo theo học chế tín chỉ chưa được nhận thức đúng và thống nhất; bộ máy quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường chưa được tổ chức khoa học, hợp lý… Do đó, đào tạo theo học chế tín chỉ được triển khai tại các trường đại học có đào tạo ngành Luật mới chỉ mang tính chất hình thức. Đó là sự kết hợp giữa đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ. Bản chất ưu việt của phương thức đào tạo theo tín chỉ vẫn chưa được phát huy.

1. Một số khái niệm về quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ

Quản lý nhà nước là hình thức quản trị xã hội mang tính quyền lực nhà nước, thông qua sử dụng quyền lực nhà nước, điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người và duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

Quản lý đào tạo là quá trình cơ sở đào tạo xây dựng mục tiêu, chương trình, kế hoạch đào tạo, tổ chức, chỉ đạo giảng viên và sinh viên thực hiện chương trình và kiểm tra đánh giá các kết quả học tập của sinh viên theo yêu cầu chuẩn mực đã được đề ra trong chương trình.

Quản lý đào tạo tín chỉ là quá trình mà các chủ thể quản lý xây dựng mục tiêu, kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá các kết quả của hoạt động đào tạo nhằm tạo ra mức độ mềm dẻo trong việc cho phép người học chọn tiến độ hoàn tất chương trình đào tạo theo khả năng để việc lựa chọn ngành học, môn học theo nguyện vọng của bản thân.

2. Đánh giá chung về quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các trường đại học có đào tạo ngành Luật

Hệ thống giáo dục đại học của nước ta hiện nay với hơn 255 trường đại học thì có hơn 55 trường đại học có đào tạo ngành Luật. Trong đó có 04 trường là: Trường Đại học Luật Hà Nội (tuyển sinh hàng năm khoảng 2.150 sinh viên); trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (tuyển sinh hàng năm khoảng 1.600 sinh viên); Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (tuyển sinh hàng năm khoảng 400 sinh viên); Học viện Tòa án (tuyển sinh hàng năm khoảng 320 sinh viên) là những trường chuyên đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội những cử nhân luật có chất lượng, ngoài ra có hơn 51 trường đại học khác đào tạo đa ngành, trong đó có từ 01 ngành Luật trở lên. Điều đó chứng tỏ hàng năm đã có số lượng sinh viên ngành Luật tốt nghiệp ra trường là không nhỏ. Trong đó, hầu hết các trường này đều đã chuyển từ đào tạo theo niên chế, sang đào tạo theo tín chỉ để nâng cao chất lượng đào tạo.

Giống như các trường đại học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, các trường đại học đào tạo ngành Luật cũng có những thuận lợi và khó khăn chung. Đối với các trường có đào tạo ngành Luật, đặc biệt là những trường chỉ đào tạo chuyên về ngành Luật như đã kể trên thì có những thuận lợi của riêng mình như được sự hỗ trợ rất lớn của cơ quan chủ quản về kinh phí, về các chính sách nhằm phát huy tối đa khả năng đào tạo của trường mình, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của các văn phòng luật sư (đa số do những cựu sinh viên của trường thành lập) là những nơi rất tốt để hỗ trợ thực hành luật cho sinh viên của các trường. Đồng thời, theo dự báo của thị trường lao động, nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực ngành Luật đang còn rất cao. Do đó, vấn đề tuyển sinh khối ngành Luật hiện nay ở các trường đại học có đào tạo ngành Luật đang thu hút nhiều hơn so với các khối ngành khác. Và quan trọng điểm chuẩn xét tuyển luôn ở mức cao nên nâng được chất lượng nguồn tuyển dẫn đến năng lực học tập của sinh viên luôn đạt kết quả cao. Ngoài những thuận lợi trên thì các trường này cũng có những khó khăn nhất định như số lượng giảng viên cơ hữu không đáp ứng được nhu cầu đào tạo theo tín chỉ, dẫn đến hiện tượng phải mời ngoài giảng viên làm cho không chủ động trong việc đăng ký lớp học tín chỉ. Ngoài ra, cơ sở vật chất, đặc biệt là phòng học của các trường còn thiếu nhiều…

Thời gian qua, quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các trường đại học có đào tạo ngành Luật đã đạt được được nhiều kết quả, cụ thể như sau:

Thứ nhất, quy chế đào tạo tín chỉ và các hướng dẫn cụ thể, chương trình giáo dục bám sát chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo với các học phần tự chọn phát huy vai trò bổ sung kiến thức và đa dạng hoá chuyên ngành đào tạo cho người học; các văn bản hướng dẫn quy chế đào tạo đã được cụ thể hoá phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường, qua đó đã hỗ trợ tích cực cho việc triển khai tại đến các đơn vị, cán bộ, giảng viên, người học.

Trong số đó, hai văn bản có tính pháp lý cao và đang còn hiệu lực là Quy chế 25/2006/QĐ - BGD&ĐT ngày 26/6/2006 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy (Quy chế 25/2006/QĐ - BGD&ĐT) và Quy chế 43/2007/QĐ - BGD&ĐT ngày 15/8/2007 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (Quy chế 43/2007/QĐ - BGD&ĐT). Ngoài ra, có Thông tư Số 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27/12/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ - BGD&ĐT.

Giai đoạn trước phần lớn các trường lựa chọn Quy chế 25/2006/QĐ - BGD&ĐT theo học chế mềm dẻo kết hợp niên chế với tín chỉ (“tính tín chỉ” đạt khoảng70%). Qua một số năm, một số trường đã từng bước cắt giảm “đuôi niên chế” ở quy chế này để chuyển qua học chế tín chỉ - bước đi ban đầu của hệ tín chỉ. Số ít trường lựa chọn đi vào Quy chế 43/2007/QĐ - BGD&ĐT để bước ngay vào hệ tín chỉ. Khi thực hiện quy chế này, nội dung, chương trình đào tạo được đổi mới, phù hợp phương thức đào tạo theo tín chỉ. Chương trình giáo dục trình độ đại học theo hướng mềm dẻo, linh hoạt; tăng cường sự chủ động tích cực và phát huy năng lực của người học; đảm bảo sự liên thông giữa các chương trình; sự phát triển theo hướng chuyên sâu và sản phẩm đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội; phát huy những lợi thế cạnh tranh và thế mạnh truyền thống của các trường đào tạo khối ngành Luật.

Tuy nhiên, tình hình đào tạo ở các trường này có một số điểm yếu phổ biến là nhiều trường triển khai hệ tín chỉ kiểu nửa vời, không thấy được bước nào cần thực hiện trước, bước nào cần đi sau. Mới chỉ tiếp cận với hệ tín chỉ một cách hình thức, chưa tìm hiểu bản chất. Một số trường nhầm lẫn chỉ tập trung đổi mới phương pháp dạy - học mà không thấy được khâu then chốt của hệ tín chỉ là phải tạo dựng một quy trình và chương trình mềm dẻo.

Thứ hai, phương pháp giảng dạy được đổi mới theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập và tự nghiên cứu của người học với những điều kiện hỗ trợ học tập tốt và sự cố vấn chuyên nghiệp của giảng viên. Giảng viên được tạo điều kiện tăng cường nghiên cứu khoa học và thâm nhập thực tiễn; kỹ năng sống, kỹ năng mềm, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp của người học đã được chú trọng nhiều hơn.

Thứ ba, hệ thống thư viện được mở rộng và bổ sung đáng kể đầu sách, các tư liệu phục vụ học tập, nghiên cứu; giảng đường được trang bị hệ thống máy chiếu; hệ thống thông tin phục vụ người học (website, thông tin học vụ…) được hết sức chú trọng, cập nhật thường xuyên, giúp người học nắm bắt thông tin học tập cũng như quyền và nghĩa vụ của người học.

Thứ tư, công tác đánh giá kết quả học tập được chú trọng. Các quy trình ra đề thi, chấm thi, phần mềm câu hỏi thi và xây dựng đề thi ngày càng đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ, xây dựng quy trình lấy ý kiến người học về chương trình đào tạo, giáo viên, cơ sở vật chất được chuẩn hoá.

Tuy nhiên, qua quá trình triển khai thực hiện vẫn đang bộc lộ những bất cập như sau:

Một là, một bộ phận cán bộ quản lý, giảng viên và đặc biệt người học chưa có nhận thức đầy đủ về đào tạo theo hệ thống tín chỉ.

Hai là, sự phân công trách nhiệm của các đơn vị theo mô hình quản lý mới khi chuyển sang đào tạo theo tín chỉ còn xảy ra tình trạng có bộ phận chưa bắt nhịp kịp với phương thức quản lý mới và chưa đổi mới thực sự về tư duy, còn mang theo “tư duy niên chế”.

Ba là, hệ thống các học phần tự chọn còn hạn chế cho nên chưa thực sự phát huy được vai trò đa dạng hoá định hướng nghề nghiệp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp trong tương lai cho người học.

Bốn là, phương pháp dạy và học của một bộ phận giảng viên và sinh viên chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Do phải lên lớp nhiều, một số giảng viên chưa dành được qũy thời gian thích đáng cho tư vấn, hướng dẫn sinh viên tự học ngoài giờ lên lớp. Một bộ phận sinh viên còn lúng túng trong tự học, tự nghiên cứu và còn thiếu chủ động, tự giác trong việc tiếp cận kiến thức, kỹ năng.

Năm là, đội ngũ cán bộ giảng dạy tuy được bổ sung hàng năm nhưng so với yêu cầu của đào tạo theo học chế tín chỉ vẫn còn thiếu nghiêm trọng ở một số môn học, đây được xem là một trong những khó khăn lớn nhất cần khắc phục.

Sáu là, những điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật đáp ứng đào tạo theo hệ thống tín chỉ chưa được hoàn chỉnh. Số lượng phòng học còn thiếu và cơ cấu diện tích chưa phù hợp cho đào tạo theo tín chỉ; thư viện chưa đáp ứng yêu cầu khi nhu cầu tự học tự nghiên cứu của sinh viên tăng lên…

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học có đào tạo khối ngành Luật

Thứ nhất, cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý nhà nước, kiểm soát chặt chẽ việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh, tạo cơ sở pháp lý cho việc đào tạo theo học chế tín chỉ

Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần mang tính hệ thống, chiến lược phát triển lâu dài cho cả quá trình đào tạo tín chỉ. Có những chính sách về chế độ ưu đãi cho các cán bộ, giảng viên hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nói chung và hoạt động đào tạo tín chỉ nói riêng hợp lý. Các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là các thông tư hướng dẫn, quy chế phải được sớm hoàn thiện, đảm bảo về độ chính xác, chặt chẽ, tránh sự hiểu lầm, hiểu thiếu, hiểu sai văn bản của Bộ trong quá trình đào tạo của các trường đại học. Qua tình hình thực tế triển khai quy chế đào tạo, ngày 12/4/2019 Bộ Giáo dục và Đào tạo có Công văn số 1554/BGDĐT-GDĐH đề nghị các cơ sở giáo dục đại học góp ý kiến cho 2 Quy chế: Quy chế 25/2006/QĐ - BGD&ĐT và Quy chế 43/2007/QĐ - BGD&ĐT về những hạn chế, bất cập, khó khăn; đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung, thêm mới khi soạn thảo quy chế đào tạo trình độ đại học hệ chính quy mới. Qua đó, các trường đại học có đào tạo khối ngành Luật cũng đã có những ý kiến đóng góp cho dự thảo sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế này. Bên cạnh đó, các trường đại học có đào tạo khối ngành Luật cũng cần xây dựng một hệ thống văn bản riêng phù hợp với môi trường đào tạo của riêng mình, nhưng vẫn phải thống nhất và tuân thủ các văn bản chỉ đạo của trên.

Thứ hai, cần nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ. Cụ thể là:

- Đổi mới, thiết kế lại chương trình, đổi mới cách thức, biên soạn giáo trình và đề cương bài giảng theo hướng rút ngắn khung thời gian đào tạo để quá trình đào tạo trở nên hiệu quả hơn, kinh tế hơn. Cần xác định tổng số tín chỉ của một chương trình đào tạo phù hợp với đối tượng được đào tạo. Trong đó cần đa dạng hóa loại môn học gồm: môn chung; môn chuyên ngành; môn học bắt buộc; môn học tự chọn chính; môn học tự chọn tự do. Trong đó, cần tăng cường các môn học tự chọn nhằm tạo điều kiện cho sinh viên chọn lựa những môn học thực sự cần thiết cho công việc nghiên cứu của mình trong tương lai. Sau một thời gian vận hành chương trình đào tạo mới, cần bổ sung các môn học tự chọn mới và cũng phải kiên quyết loại bỏ những môn học mà sinh viên ít đăng ký học. Căn cứ vào khung chương trình ngành Luật của Bộ Giáo dục và Đào tạo và thực tiễn đào tạo của các trường có khối ngành Luật, các trường xây dựng chương trình đào tạo phù hợp. Tổng số tín chỉ đối với đào tạo cử nhân ngành Luật phải dự trên số tín chỉ tối thiểu của khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tuy nhiên, các trường áp dụng có sự linh hoạt. Ví dụ, đối với chương trình các chuyên ngành Luật của trường Đại học Luật Hà Nội ban hành năm 2015 là 126 tín chỉ, còn khoa Luật, Đại học Quốc gia là 135 tín chỉ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào chương trình đào tạo của các trường có đào tạo ngành Luật thì trong thời gian tới cần giảm bớt các môn học cơ sở, xa rời thực tiễn như những môn xã hội học đại cương, logic, dân số và phát triển, kinh tế lao động…, tăng những môn chuyên ngành, đặc biệt là các môn kỹ năng như: kỹ năng soạn thảo văn bản pháp luật; kỹ năng tư vấn pháp luật; kỹ năng áp dụng pháp luật về ưu đãi và trợ giúp xã hội; kỹ năng áp dụng pháp luật trong kinh doanh, thương mại; kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng thương mại… để sau khi ra trường sinh viên có thể áp dụng ngay vào công việc mà không cần các đơn vị sử dụng lao động phải đào tạo lại.

- Đổi mới về cách thức, nội dung biên soạn giáo trình và đề cương bài giảng. Tất cả các học phần khi chuyển sang học chế tín chỉ đều giảm tải thời gian lên lớp từ 30 đến 50 % so với niên chế, nhưng không được cắt giảm nội dung cơ bản của chương trình, vì vậy, giảng viên cần chú trọng công tác biên soạn giáo trình, bài giảng phù hợp với thời lượng lên lớp như biên soạn được những bài tập nhận thức và bài tập nghiên cứu cho sinh viên. Chỉ khi biên soạn được các dạng bài tập này thì mới có thể hướng sinh viên tự học, tự nghiên cứu theo đúng nghĩa.

- Đổi mới phương pháp dạy học trên lớp. Trước hết, cần phải đổi mới trong tư duy nhận thức của giảng viên và sinh viên về phương pháp học và dạy theo mục đích: “Dạy để phát triển tư duy; dạy có tư duy; dạy về tư duy”. Do đó, quan trọng là dạy cho sinh viên cách lập kế hoạch học tập, cách học bài, cách đọc sách và ghi chép, cách nghiên cứu và giải quyết vấn đề.

- Đảm bảo cơ sở vật chất đạt yêu cầu đào tạo theo tín chỉ. Trong đó, chú trọng xây dựng cơ sở vật chất về hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, thư viện, phòng đọc, thiết bị dạy học, phần mềm dạy học… đáp ứng được yêu cầu dạy học theo học chế tín chỉ; đảm bảo đầy đủ phòng học, hội trường, phòng thí nghiệm, phòng đọc ở thư viện để bố trí lớp học theo yêu cầu đăng ký của sinh viên và tạo điều kiện cho sinh viên tự học ngoài giờ lên lớp; đầu tư các phòng học đa năng: mỗi trường đại học phải được đầu tư xây dựng ít nhất là một phòng học đa năng để giảng viên và sinh viên có thể thực hiện hoạt động học tập của mình một cách hiệu quả nhất với sự hỗ trợ của các thiết bị, kỹ thuật dạy học hiện đại. Các thiết bị dạy học phải được xác định phù hợp với đặc trưng của từng trường và được đầu tư một cách đồng bộ.

Thứ ba, hoàn thiện bộ máy tổ chức, nhân sự

Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong trường bởi đào tạo theo học chế tín chỉ không thể chỉ là của Ban Giám hiệu nhà trường mà nó là sự thống nhất, đoàn kết giữa các bộ phận trong trường. Xây dựng đội ngũ cố vấn học tập chuyên nghiệp, tận tình, chuyên sâu: Hàng năm, đầu khóa học mới, lãnh đạo các khoa, phòng cử ra một đội ngũ cố vấn mới để tư vấn cho những sinh viên đầu khóa học. Đồng thời, cần tuyển chọn giảng viên là những người có tâm huyết với khoa học, có trình độ và khả năng nghiên cứu khoa học và trình độ ngoại ngữ. Xây dựng chính sách ưu đãi chuyên gia giỏi. Đặc biệt coi trọng chính sách thu hút các chuyên gia hàng đầu, tạo sự chuyển biến mạnh về chất của đội ngũ giảng viên, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Cụ thể hóa các tiêu chuẩn tuyển dụng, đồng thời, có chính sách đề bạt hợp lý tạo điều kiện cho mọi cán bộ công chức phấn đấu và phát triển.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, giảng viên về đào tạo theo học chế tín chỉ

Tăng cường tập huấn đối với toàn thể giảng viên, cán bộ tham gia vào hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ để thống nhất về ý nghĩa, mục đích, phương pháp dạy - học, kiểm tra, đánh giá, phương thức quản lý và trách nhiệm của mỗi người trong quy trình đào tạo theo học chế tín chỉ.

Thứ năm, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tăng cường những cuộc thanh tra đột xuất về việc thực hiện chỉ tiêu đào tạo, liên kết đào tạo, các điều kiện để đảm bảo cho hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ. Đồng thời, chú trọng thanh tra, kiểm tra tại kỳ thi tuyển sinh đại học, việc cấp phát văn bằng trong đào tạo theo học chế tín chỉ.

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo theo học chế tín chỉ

Các trường cần đảm bảo nhữngđiều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế; tăng cường hội thảo quốc tế về đào tạo theo học chế tín chỉ; chủ động hoặc tận dụng những mối quan hệ của các cơ quan quản lý cấp trên của mình để tìm kiếm những cơ hội hợp tác với những trường đại học trên thế giới có cùng lĩnh vực đào tạo.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì việc quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ nói riêng đóng một vài trò quan trọng trong thời kỳ này, nó thúc đẩy được nền giáo dục theo hướng hiện đại, bắt kịp được với nền giáo dục của thế giới. Việc đào tạo thành công theo học chế tín chỉ sẽ giúp tạo ra một nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội. Tạo ra cho tương lai một thế hệ có tư duy khoa học, nhanh nhẹn, thích nghi cao đối với sự phát triển của kinh tế./.

ThS. Đoàn Thị Dương Huyền

Trường Đại học Công đoàn


[1]Ở Việt Nam, từ năm 1987 học chế tín chỉ được áp dụng một phần dưới hình thức tổ chức môn học theo học phần và đơn vị học trình. Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ năm học 1993 - 1994 và đã đạt được nhiều kết quả.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: