Thứ năm 08/10/2026 14:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học đào tạo ngành luật

Bài viết bàn về hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo tín chỉ, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các trường đại học có đào tạo ngành Luật

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Ngành Giáo dục cũng không ngừng đổi mới về phương thức đào tạo, mô hình đào tạo và nội dung đào tạo. Trong đó, đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã được áp dụng và mang lại hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện đại. Học chế tín chỉ được chính thức triển khai từ năm 2001 khi Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh học chế tín chỉ như là một giải pháp để đổi mới giáo dục đại học[1]. Tuy nhiên, khi các trường đại học có đào tạo ngành Luật “bắt tay” vào việc xây dựng hệ thống đào tạo theo học chế tín chỉ đã gặp rất nhiều khó khăn như: Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước còn thiếu, chưa đồng bộ; các chế độ, chính sách khuyến khích cho việc đào tạo tín chỉ còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; cơ sở vật chất chưa hiện đại, số lượng phòng học, giảng đường không đủ; đội ngũ giảng viên còn thiếu; những vấn đề lý luận về đào tạo theo học chế tín chỉ chưa được nhận thức đúng và thống nhất; bộ máy quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường chưa được tổ chức khoa học, hợp lý… Do đó, đào tạo theo học chế tín chỉ được triển khai tại các trường đại học có đào tạo ngành Luật mới chỉ mang tính chất hình thức. Đó là sự kết hợp giữa đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ. Bản chất ưu việt của phương thức đào tạo theo tín chỉ vẫn chưa được phát huy.

1. Một số khái niệm về quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ

Quản lý nhà nước là hình thức quản trị xã hội mang tính quyền lực nhà nước, thông qua sử dụng quyền lực nhà nước, điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người và duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

Quản lý đào tạo là quá trình cơ sở đào tạo xây dựng mục tiêu, chương trình, kế hoạch đào tạo, tổ chức, chỉ đạo giảng viên và sinh viên thực hiện chương trình và kiểm tra đánh giá các kết quả học tập của sinh viên theo yêu cầu chuẩn mực đã được đề ra trong chương trình.

Quản lý đào tạo tín chỉ là quá trình mà các chủ thể quản lý xây dựng mục tiêu, kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá các kết quả của hoạt động đào tạo nhằm tạo ra mức độ mềm dẻo trong việc cho phép người học chọn tiến độ hoàn tất chương trình đào tạo theo khả năng để việc lựa chọn ngành học, môn học theo nguyện vọng của bản thân.

2. Đánh giá chung về quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các trường đại học có đào tạo ngành Luật

Hệ thống giáo dục đại học của nước ta hiện nay với hơn 255 trường đại học thì có hơn 55 trường đại học có đào tạo ngành Luật. Trong đó có 04 trường là: Trường Đại học Luật Hà Nội (tuyển sinh hàng năm khoảng 2.150 sinh viên); trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (tuyển sinh hàng năm khoảng 1.600 sinh viên); Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (tuyển sinh hàng năm khoảng 400 sinh viên); Học viện Tòa án (tuyển sinh hàng năm khoảng 320 sinh viên) là những trường chuyên đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội những cử nhân luật có chất lượng, ngoài ra có hơn 51 trường đại học khác đào tạo đa ngành, trong đó có từ 01 ngành Luật trở lên. Điều đó chứng tỏ hàng năm đã có số lượng sinh viên ngành Luật tốt nghiệp ra trường là không nhỏ. Trong đó, hầu hết các trường này đều đã chuyển từ đào tạo theo niên chế, sang đào tạo theo tín chỉ để nâng cao chất lượng đào tạo.

Giống như các trường đại học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, các trường đại học đào tạo ngành Luật cũng có những thuận lợi và khó khăn chung. Đối với các trường có đào tạo ngành Luật, đặc biệt là những trường chỉ đào tạo chuyên về ngành Luật như đã kể trên thì có những thuận lợi của riêng mình như được sự hỗ trợ rất lớn của cơ quan chủ quản về kinh phí, về các chính sách nhằm phát huy tối đa khả năng đào tạo của trường mình, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của các văn phòng luật sư (đa số do những cựu sinh viên của trường thành lập) là những nơi rất tốt để hỗ trợ thực hành luật cho sinh viên của các trường. Đồng thời, theo dự báo của thị trường lao động, nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực ngành Luật đang còn rất cao. Do đó, vấn đề tuyển sinh khối ngành Luật hiện nay ở các trường đại học có đào tạo ngành Luật đang thu hút nhiều hơn so với các khối ngành khác. Và quan trọng điểm chuẩn xét tuyển luôn ở mức cao nên nâng được chất lượng nguồn tuyển dẫn đến năng lực học tập của sinh viên luôn đạt kết quả cao. Ngoài những thuận lợi trên thì các trường này cũng có những khó khăn nhất định như số lượng giảng viên cơ hữu không đáp ứng được nhu cầu đào tạo theo tín chỉ, dẫn đến hiện tượng phải mời ngoài giảng viên làm cho không chủ động trong việc đăng ký lớp học tín chỉ. Ngoài ra, cơ sở vật chất, đặc biệt là phòng học của các trường còn thiếu nhiều…

Thời gian qua, quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các trường đại học có đào tạo ngành Luật đã đạt được được nhiều kết quả, cụ thể như sau:

Thứ nhất, quy chế đào tạo tín chỉ và các hướng dẫn cụ thể, chương trình giáo dục bám sát chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo với các học phần tự chọn phát huy vai trò bổ sung kiến thức và đa dạng hoá chuyên ngành đào tạo cho người học; các văn bản hướng dẫn quy chế đào tạo đã được cụ thể hoá phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường, qua đó đã hỗ trợ tích cực cho việc triển khai tại đến các đơn vị, cán bộ, giảng viên, người học.

Trong số đó, hai văn bản có tính pháp lý cao và đang còn hiệu lực là Quy chế 25/2006/QĐ - BGD&ĐT ngày 26/6/2006 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy (Quy chế 25/2006/QĐ - BGD&ĐT) và Quy chế 43/2007/QĐ - BGD&ĐT ngày 15/8/2007 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (Quy chế 43/2007/QĐ - BGD&ĐT). Ngoài ra, có Thông tư Số 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27/12/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ - BGD&ĐT.

Giai đoạn trước phần lớn các trường lựa chọn Quy chế 25/2006/QĐ - BGD&ĐT theo học chế mềm dẻo kết hợp niên chế với tín chỉ (“tính tín chỉ” đạt khoảng70%). Qua một số năm, một số trường đã từng bước cắt giảm “đuôi niên chế” ở quy chế này để chuyển qua học chế tín chỉ - bước đi ban đầu của hệ tín chỉ. Số ít trường lựa chọn đi vào Quy chế 43/2007/QĐ - BGD&ĐT để bước ngay vào hệ tín chỉ. Khi thực hiện quy chế này, nội dung, chương trình đào tạo được đổi mới, phù hợp phương thức đào tạo theo tín chỉ. Chương trình giáo dục trình độ đại học theo hướng mềm dẻo, linh hoạt; tăng cường sự chủ động tích cực và phát huy năng lực của người học; đảm bảo sự liên thông giữa các chương trình; sự phát triển theo hướng chuyên sâu và sản phẩm đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội; phát huy những lợi thế cạnh tranh và thế mạnh truyền thống của các trường đào tạo khối ngành Luật.

Tuy nhiên, tình hình đào tạo ở các trường này có một số điểm yếu phổ biến là nhiều trường triển khai hệ tín chỉ kiểu nửa vời, không thấy được bước nào cần thực hiện trước, bước nào cần đi sau. Mới chỉ tiếp cận với hệ tín chỉ một cách hình thức, chưa tìm hiểu bản chất. Một số trường nhầm lẫn chỉ tập trung đổi mới phương pháp dạy - học mà không thấy được khâu then chốt của hệ tín chỉ là phải tạo dựng một quy trình và chương trình mềm dẻo.

Thứ hai, phương pháp giảng dạy được đổi mới theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập và tự nghiên cứu của người học với những điều kiện hỗ trợ học tập tốt và sự cố vấn chuyên nghiệp của giảng viên. Giảng viên được tạo điều kiện tăng cường nghiên cứu khoa học và thâm nhập thực tiễn; kỹ năng sống, kỹ năng mềm, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp của người học đã được chú trọng nhiều hơn.

Thứ ba, hệ thống thư viện được mở rộng và bổ sung đáng kể đầu sách, các tư liệu phục vụ học tập, nghiên cứu; giảng đường được trang bị hệ thống máy chiếu; hệ thống thông tin phục vụ người học (website, thông tin học vụ…) được hết sức chú trọng, cập nhật thường xuyên, giúp người học nắm bắt thông tin học tập cũng như quyền và nghĩa vụ của người học.

Thứ tư, công tác đánh giá kết quả học tập được chú trọng. Các quy trình ra đề thi, chấm thi, phần mềm câu hỏi thi và xây dựng đề thi ngày càng đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ, xây dựng quy trình lấy ý kiến người học về chương trình đào tạo, giáo viên, cơ sở vật chất được chuẩn hoá.

Tuy nhiên, qua quá trình triển khai thực hiện vẫn đang bộc lộ những bất cập như sau:

Một là, một bộ phận cán bộ quản lý, giảng viên và đặc biệt người học chưa có nhận thức đầy đủ về đào tạo theo hệ thống tín chỉ.

Hai là, sự phân công trách nhiệm của các đơn vị theo mô hình quản lý mới khi chuyển sang đào tạo theo tín chỉ còn xảy ra tình trạng có bộ phận chưa bắt nhịp kịp với phương thức quản lý mới và chưa đổi mới thực sự về tư duy, còn mang theo “tư duy niên chế”.

Ba là, hệ thống các học phần tự chọn còn hạn chế cho nên chưa thực sự phát huy được vai trò đa dạng hoá định hướng nghề nghiệp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp trong tương lai cho người học.

Bốn là, phương pháp dạy và học của một bộ phận giảng viên và sinh viên chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Do phải lên lớp nhiều, một số giảng viên chưa dành được qũy thời gian thích đáng cho tư vấn, hướng dẫn sinh viên tự học ngoài giờ lên lớp. Một bộ phận sinh viên còn lúng túng trong tự học, tự nghiên cứu và còn thiếu chủ động, tự giác trong việc tiếp cận kiến thức, kỹ năng.

Năm là, đội ngũ cán bộ giảng dạy tuy được bổ sung hàng năm nhưng so với yêu cầu của đào tạo theo học chế tín chỉ vẫn còn thiếu nghiêm trọng ở một số môn học, đây được xem là một trong những khó khăn lớn nhất cần khắc phục.

Sáu là, những điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật đáp ứng đào tạo theo hệ thống tín chỉ chưa được hoàn chỉnh. Số lượng phòng học còn thiếu và cơ cấu diện tích chưa phù hợp cho đào tạo theo tín chỉ; thư viện chưa đáp ứng yêu cầu khi nhu cầu tự học tự nghiên cứu của sinh viên tăng lên…

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học có đào tạo khối ngành Luật

Thứ nhất, cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý nhà nước, kiểm soát chặt chẽ việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh, tạo cơ sở pháp lý cho việc đào tạo theo học chế tín chỉ

Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần mang tính hệ thống, chiến lược phát triển lâu dài cho cả quá trình đào tạo tín chỉ. Có những chính sách về chế độ ưu đãi cho các cán bộ, giảng viên hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nói chung và hoạt động đào tạo tín chỉ nói riêng hợp lý. Các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là các thông tư hướng dẫn, quy chế phải được sớm hoàn thiện, đảm bảo về độ chính xác, chặt chẽ, tránh sự hiểu lầm, hiểu thiếu, hiểu sai văn bản của Bộ trong quá trình đào tạo của các trường đại học. Qua tình hình thực tế triển khai quy chế đào tạo, ngày 12/4/2019 Bộ Giáo dục và Đào tạo có Công văn số 1554/BGDĐT-GDĐH đề nghị các cơ sở giáo dục đại học góp ý kiến cho 2 Quy chế: Quy chế 25/2006/QĐ - BGD&ĐT và Quy chế 43/2007/QĐ - BGD&ĐT về những hạn chế, bất cập, khó khăn; đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung, thêm mới khi soạn thảo quy chế đào tạo trình độ đại học hệ chính quy mới. Qua đó, các trường đại học có đào tạo khối ngành Luật cũng đã có những ý kiến đóng góp cho dự thảo sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế này. Bên cạnh đó, các trường đại học có đào tạo khối ngành Luật cũng cần xây dựng một hệ thống văn bản riêng phù hợp với môi trường đào tạo của riêng mình, nhưng vẫn phải thống nhất và tuân thủ các văn bản chỉ đạo của trên.

Thứ hai, cần nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ. Cụ thể là:

- Đổi mới, thiết kế lại chương trình, đổi mới cách thức, biên soạn giáo trình và đề cương bài giảng theo hướng rút ngắn khung thời gian đào tạo để quá trình đào tạo trở nên hiệu quả hơn, kinh tế hơn. Cần xác định tổng số tín chỉ của một chương trình đào tạo phù hợp với đối tượng được đào tạo. Trong đó cần đa dạng hóa loại môn học gồm: môn chung; môn chuyên ngành; môn học bắt buộc; môn học tự chọn chính; môn học tự chọn tự do. Trong đó, cần tăng cường các môn học tự chọn nhằm tạo điều kiện cho sinh viên chọn lựa những môn học thực sự cần thiết cho công việc nghiên cứu của mình trong tương lai. Sau một thời gian vận hành chương trình đào tạo mới, cần bổ sung các môn học tự chọn mới và cũng phải kiên quyết loại bỏ những môn học mà sinh viên ít đăng ký học. Căn cứ vào khung chương trình ngành Luật của Bộ Giáo dục và Đào tạo và thực tiễn đào tạo của các trường có khối ngành Luật, các trường xây dựng chương trình đào tạo phù hợp. Tổng số tín chỉ đối với đào tạo cử nhân ngành Luật phải dự trên số tín chỉ tối thiểu của khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tuy nhiên, các trường áp dụng có sự linh hoạt. Ví dụ, đối với chương trình các chuyên ngành Luật của trường Đại học Luật Hà Nội ban hành năm 2015 là 126 tín chỉ, còn khoa Luật, Đại học Quốc gia là 135 tín chỉ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào chương trình đào tạo của các trường có đào tạo ngành Luật thì trong thời gian tới cần giảm bớt các môn học cơ sở, xa rời thực tiễn như những môn xã hội học đại cương, logic, dân số và phát triển, kinh tế lao động…, tăng những môn chuyên ngành, đặc biệt là các môn kỹ năng như: kỹ năng soạn thảo văn bản pháp luật; kỹ năng tư vấn pháp luật; kỹ năng áp dụng pháp luật về ưu đãi và trợ giúp xã hội; kỹ năng áp dụng pháp luật trong kinh doanh, thương mại; kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng thương mại… để sau khi ra trường sinh viên có thể áp dụng ngay vào công việc mà không cần các đơn vị sử dụng lao động phải đào tạo lại.

- Đổi mới về cách thức, nội dung biên soạn giáo trình và đề cương bài giảng. Tất cả các học phần khi chuyển sang học chế tín chỉ đều giảm tải thời gian lên lớp từ 30 đến 50 % so với niên chế, nhưng không được cắt giảm nội dung cơ bản của chương trình, vì vậy, giảng viên cần chú trọng công tác biên soạn giáo trình, bài giảng phù hợp với thời lượng lên lớp như biên soạn được những bài tập nhận thức và bài tập nghiên cứu cho sinh viên. Chỉ khi biên soạn được các dạng bài tập này thì mới có thể hướng sinh viên tự học, tự nghiên cứu theo đúng nghĩa.

- Đổi mới phương pháp dạy học trên lớp. Trước hết, cần phải đổi mới trong tư duy nhận thức của giảng viên và sinh viên về phương pháp học và dạy theo mục đích: “Dạy để phát triển tư duy; dạy có tư duy; dạy về tư duy”. Do đó, quan trọng là dạy cho sinh viên cách lập kế hoạch học tập, cách học bài, cách đọc sách và ghi chép, cách nghiên cứu và giải quyết vấn đề.

- Đảm bảo cơ sở vật chất đạt yêu cầu đào tạo theo tín chỉ. Trong đó, chú trọng xây dựng cơ sở vật chất về hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, thư viện, phòng đọc, thiết bị dạy học, phần mềm dạy học… đáp ứng được yêu cầu dạy học theo học chế tín chỉ; đảm bảo đầy đủ phòng học, hội trường, phòng thí nghiệm, phòng đọc ở thư viện để bố trí lớp học theo yêu cầu đăng ký của sinh viên và tạo điều kiện cho sinh viên tự học ngoài giờ lên lớp; đầu tư các phòng học đa năng: mỗi trường đại học phải được đầu tư xây dựng ít nhất là một phòng học đa năng để giảng viên và sinh viên có thể thực hiện hoạt động học tập của mình một cách hiệu quả nhất với sự hỗ trợ của các thiết bị, kỹ thuật dạy học hiện đại. Các thiết bị dạy học phải được xác định phù hợp với đặc trưng của từng trường và được đầu tư một cách đồng bộ.

Thứ ba, hoàn thiện bộ máy tổ chức, nhân sự

Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong trường bởi đào tạo theo học chế tín chỉ không thể chỉ là của Ban Giám hiệu nhà trường mà nó là sự thống nhất, đoàn kết giữa các bộ phận trong trường. Xây dựng đội ngũ cố vấn học tập chuyên nghiệp, tận tình, chuyên sâu: Hàng năm, đầu khóa học mới, lãnh đạo các khoa, phòng cử ra một đội ngũ cố vấn mới để tư vấn cho những sinh viên đầu khóa học. Đồng thời, cần tuyển chọn giảng viên là những người có tâm huyết với khoa học, có trình độ và khả năng nghiên cứu khoa học và trình độ ngoại ngữ. Xây dựng chính sách ưu đãi chuyên gia giỏi. Đặc biệt coi trọng chính sách thu hút các chuyên gia hàng đầu, tạo sự chuyển biến mạnh về chất của đội ngũ giảng viên, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Cụ thể hóa các tiêu chuẩn tuyển dụng, đồng thời, có chính sách đề bạt hợp lý tạo điều kiện cho mọi cán bộ công chức phấn đấu và phát triển.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, giảng viên về đào tạo theo học chế tín chỉ

Tăng cường tập huấn đối với toàn thể giảng viên, cán bộ tham gia vào hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ để thống nhất về ý nghĩa, mục đích, phương pháp dạy - học, kiểm tra, đánh giá, phương thức quản lý và trách nhiệm của mỗi người trong quy trình đào tạo theo học chế tín chỉ.

Thứ năm, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tăng cường những cuộc thanh tra đột xuất về việc thực hiện chỉ tiêu đào tạo, liên kết đào tạo, các điều kiện để đảm bảo cho hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ. Đồng thời, chú trọng thanh tra, kiểm tra tại kỳ thi tuyển sinh đại học, việc cấp phát văn bằng trong đào tạo theo học chế tín chỉ.

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo theo học chế tín chỉ

Các trường cần đảm bảo nhữngđiều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế; tăng cường hội thảo quốc tế về đào tạo theo học chế tín chỉ; chủ động hoặc tận dụng những mối quan hệ của các cơ quan quản lý cấp trên của mình để tìm kiếm những cơ hội hợp tác với những trường đại học trên thế giới có cùng lĩnh vực đào tạo.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì việc quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo theo học chế tín chỉ nói riêng đóng một vài trò quan trọng trong thời kỳ này, nó thúc đẩy được nền giáo dục theo hướng hiện đại, bắt kịp được với nền giáo dục của thế giới. Việc đào tạo thành công theo học chế tín chỉ sẽ giúp tạo ra một nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội. Tạo ra cho tương lai một thế hệ có tư duy khoa học, nhanh nhẹn, thích nghi cao đối với sự phát triển của kinh tế./.

ThS. Đoàn Thị Dương Huyền

Trường Đại học Công đoàn


[1]Ở Việt Nam, từ năm 1987 học chế tín chỉ được áp dụng một phần dưới hình thức tổ chức môn học theo học phần và đơn vị học trình. Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ năm học 1993 - 1994 và đã đạt được nhiều kết quả.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: