Thứ sáu 11/09/2026 14:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Bài viết này tập trung phân tích, đánh giá nhu cầu nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và xác định phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam trong thời gian tới.

Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW) và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW), đến nay, nước ta đã có một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, điều chỉnh khá toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, hệ thống pháp luật hiện nay chưa thực sự bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, vẫn còn tình trạng nhiều hình thức văn bản, nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhiều quy định pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu tính khả thi. Trong khi đó, công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn là khâu yếu, chưa kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chế tài pháp lý chưa thực sự nghiêm khắc, khả thi, hiện tượng “nhờn”, coi thường pháp luật trên một số lĩnh vực vẫn diễn ra.

1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện pháp luật

1.1. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện pháp luật xuất phát từ yêu cầu hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng

Trong những năm qua, công tác tổ chức thi hành pháp luật đã được các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền quan tâm thực hiện và đạt được những thành quả quan trọng. Vai trò của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong quản lý xã hội ngày càng được đề cao. Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã và đang tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng; cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và bước đầu đạt kết quả tích cực; nhiều chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách pháp luật, cải cách tư pháp được thể chế trong Hiến pháp, pháp luật và được triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Trong giai đoạn 2005 - 2019, hệ thống pháp luật của nước ta không ngừng được hoàn thiện. Công tác xây dựng và hoàn thiện trên các lĩnh vực cơ bản được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước. Hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế đã được xây dựng tương đối đồng bộ, cơ bản phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…

Tuy nhiên, việc tổ chức thi hành pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật vẫn còn chưa theo kịp yêu cầu của sự phát triển, bộc lộ những tồn tại, hạn chế nhất định. Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW (Kết luận số 01-KL/TW) đã nhận định: “Việc triển khai thực hiện một số nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết còn chậm, chưa đều, thiếu cân đối giữa các lĩnh vực. Hệ thống pháp luật chưa thật sự hoàn chỉnh, đồng bộ; hiệu lực và tính khả thi chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Pháp luật trên một số lĩnh vực còn thiếu ổn định, tính dự báo chưa cao, chất lượng chưa bảo đảm; việc sửa đổi, bổ sung còn nhiều. Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật qua nhiều tầng nấc, làm chậm tiến độ ban hành và tổ chức thực hiện. Công tác tổ chức thi hành pháp luật là khâu yếu trong thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW. Tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành còn khá phổ biến; công tác rà soát, hệ thống hóa và pháp điển hóa chưa được triển khai mạnh mẽ; công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa có giải pháp đột phá, hiệu quả chưa cao; đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật chưa được tăng cường để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; công tác giám sát, kiểm tra văn bản pháp luật chưa thường xuyên; xử lý sai sót, vi phạm thiếu kiên quyết, triệt để; việc tổ chức thực hành pháp luật có lúc, có việc còn lỏng lẻo, tính răn đe, giáo dục chưa cao. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ quản lý nhà nước. Cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa đồng bộ, có lúc còn phân tán, có nơi còn cục bộ. Cơ chế để nhân dân tích cực tham gia vào các hoạt động xây dựng pháp luật và giám sát thi hành pháp luật chưa được phát huy”.

Có thể nhận thấy, tình trạng pháp luật chưa được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất, triệt để đang diễn ra tương đối phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và tình trạng này thậm chí diễn ra ngay trong chính đội ngũ công chức, viên chức đã làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tác động xấu đến tăng trưởng và phát triển kinh tế, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật chưa có nhiều giải pháp thực sự hiệu quả, mang tính hệ thống để đạt được mục tiêu trên thực tế. Hệ quả là nhiều đạo luật dù tư tưởng, tinh thần có tiến bộ nhưng còn gặp khó khăn khi đi vào cuộc sống do thiếu các điều kiện cơ bản bảo đảm cho việc thực hiện, thiếu cơ chế kiểm tra, theo dõi, xử lý, đánh giá tác động kinh tế - xã hội của đạo luật sau khi đã có hiệu lực thi hành.

Trước thực trạng nêu trên, tại Kết luận số 01-KL/TW, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã xác định rõ mối liên hệ mật thiết giữa xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, đó là: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải gắn với tổ chức thi hành pháp luật, củng cố các thiết chế thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã xác định vấn đề gắn kết giữa xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, trong đó định hướng: “Trong những năm tới, đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội”[1].

1.2. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

Trong hoạt động của nhà nước pháp quyền thì một trong những yêu cầu mang tính quan trọng bậc nhất, đó là tất cả mọi thiết chế của Nhà nước, các thiết chế chính trị xã hội liên quan và mọi cá nhân, tổ chức đều phải hành xử trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thật sự của pháp luật đúng với chức năng, vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội của nhà nước pháp quyền đang đặt ra hết sức cấp thiết. Chính bản thân mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã đặt ra nhu cầu khách quan, cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật gắn với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trong đó, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật cần xây dựng được hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, khả thi. Từ đó, các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong xã hội mới có điều kiện để tuân thủ triệt để hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành.

Để pháp luật được thực hiện nghiêm minh, đầy đủ, triệt để, hiệu quả thì điều kiện tiên quyết là phải tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả. Đây là công việc của cơ quan hành pháp, do vậy, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: Chính phủ với tư cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp có những nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước (khoản 1 Điều 96); Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Chính phủ, lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật (khoản 1 Điều 98) và theo quy định của Điều 99 Hiến pháp năm 2013, với tư cách là người người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc. Đối với chính quyền địa phương, Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định: Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương.

Tuy nhiên, qua thời gian 07 năm triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn chưa có nhiều chuyển biến thực sự từ nhận thức đến triển khai trong thực tiễn. Tình trạng pháp luật chưa được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất, triệt để, thậm chí là hiện tượng coi thường pháp luật vẫn đang diễn ra trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về tổ chức thi hành pháp luật, vai trò của bộ máy nhà nước, đặc biệt là hệ thống các cơ quan hành pháp trong tổ chức thực thi pháp luật chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả chưa cao. Thể chế pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật hiện nay vẫn chưa được luật hóa mà được quy định rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và còn thiếu quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật nên chưa thực sự phát huy được hiệu lực, hiệu quả của công tác này trong thực tiễn đời sống chính trị, xã hội. Thực tiễn triển khai công tác theo dõi thi hành pháp luật hằng năm do Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương thực hiện cho thấy, còn nhiều lãnh đạo các ngành, các cấp chưa nhận thức đúng, đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác tổ chức thi hành pháp luật, trong đó có hoạt động theo dõi thi hành pháp luật nên chưa quan tâm đến việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ này. Trong nhiều trường hợp, việc triển khai thực hiện chỉ là mang tính hình thức, đối phó với kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên mà chưa thực sự hướng tới mục tiêu, ý nghĩa, hiệu quả thật sự của công tác tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật. Vì vậy, kết quả theo dõi mặc dù được Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, đề xuất nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhưng vẫn thiếu cơ chế hiệu quả để cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện, đặc biệt là cơ chế xử lý kiến nghị sửa đổi, bổ sung, ban hành mới quy định pháp luật.

2. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

2.1. Phương hướng

Từ những phân tích, đánh giá về nhu cầu nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật nêu trên cho thấy, việc nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay cần phải được đặt trong tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và bối cảnh Đảng ta chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Theo đó, phương hướng đặt ra là cần tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng nêu tại Nghị quyết số 48-NQ/TW, Kết luận số 01-KL/TW và các văn kiện Đại hội Đảng XII về những nội dung, vấn đề lớn liên quan đến công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Cụ thể là:

- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống chính trị được thiết lập và vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Điều 4 Hiến pháp năm 2013), có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng thể thế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật

Công tác tổ chức thi hành pháp luật vận hành trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là nhằm bảo đảm các điều kiện để nhân dân thực hiện đầy đủ, hiệu quả quyền theo dõi, giám sát thi hành pháp luật của mình đối với bộ máy nhà nước. Việc hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng chính là những bảo đảm thiết yếu để công tác tổ chức thi hành pháp luật theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 được hoàn thiện và vận hành hiệu quả.

- Tổ chức thi hành pháp luật phải đi đôi với việc phát huy dân chủ, xây dựng môi trường công khai, minh bạch

Nhà nước phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nguyên tắc công khai minh bạch trước nhân dân. Bởi vì, nếu không có môi trường công khai, minh bạch, dân chủ thực sự thì với bất kỳ cơ chế nào nhân dân cũng không thể thực hiện được quyền làm chủ của mình. Vì vậy, tạo lập môi trường dân chủ pháp quyền vừa là giải pháp, vừa là phương tiện bảo đảm để công tác tổ chức thi hành pháp luật vận hành có hiệu quả.

Môi trường dân chủ pháp quyền đòi hỏi hệ thống thể chế, thiết chế có khả năng thực thi trên thực tế để nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội một cách thực chất dựa trên nền tảng pháp luật quy định. Theo đó, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện.

Vì vậy, trong thời gian tới cần tập trung xây dựng, hoàn thiện những văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật.

- Hoàn thiện pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước

Việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước nhằm xác lập, bảo đảm cho việc thực thi các quy định, các tiêu chuẩn chung về quyền con người, quyền công dân về dân sự và chính trị, hướng tới việc xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, “bảo đảm hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị”[2].

Hoàn thiện thể chế chính trị và hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát thi hành pháp luật; quy định công khai, minh bạch trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết các kiến nghị, đề xuất của nhân dân về tình hình thi hành pháp luật; quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình của nhân dân một cách đầy đủ chính là những cơ sở, điều kiện để nhân dân theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

- Bảo đảm gắn kết giữa xây dựng, hoàn thiện pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật

Để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, đồng thời đẩy mạnh tổ chức thi hành pháp luật trong thời gian tới, những nội dung liên quan đến cơ chế tổ chức thi hành pháp luật cần được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản pháp luật khác có liên quan; phù hợp với các chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, bám sát kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 với định hướng cơ bản, đó là: “Thực hiện bước chuyển hướng chỉ đạo chiến lược từ việc đặt trọng tâm vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật sang hoàn thiện và tổ chức thực thi pháp luật, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tính liên thông, gắn kết mật thiết giữa công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật”[3].

2.2. Giải pháp

Một là, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, ban hành mới một số văn bản nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tổ chức thi hành pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tổ chức thi hành pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền về vị trí, vai trò của công tác xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật, từ đó tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của đội ngũ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực thi luật pháp. Giải pháp đề ra có thể nghiên cứu, trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về Chiến lược xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2020 - 2030 hoặc Chỉ thị do Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, thay thế một số văn bản của Đảng có nội dung định hướng, chỉ đạo vấn đề liên quan đến tổ chức thi hành pháp luật như Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Hai là, nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về tổ chức thi hành pháp luật

Nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra từ thực tiễn thi hành pháp luật, góp phần thực hiện chuyển hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong công tác tổ chức thi hành pháp luật, cần sớm nghiên cứu, xây dựng Luật về tổ chức thi hành pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cơ bản, vững chắc để nâng cao vai trò của công tác tổ chức thi hành pháp luật, trong đó xác định rõ ràng địa vị pháp lý của từng chủ thể trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật cũng như các nguyên tắc, nội dung, phương thức tổ chức thi hành pháp luật.

Tại Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2018 - 2022” (Quyết định số 242/QĐ-TTg), Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng đề xuất chính sách phục vụ việc lập hồ sơ đề nghị xây dựng Luật về tổ chức thi hành pháp luật.

Ba là, tăng cường, củng cố các thiết chế và điều kiện bảo đảm cho công tác tổ chức thi hành pháp luật

- Tăng cường tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức pháp luật của người dân trong việc tham gia vào theo dõi, giám sát việc thực hiện quyền lực của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước. Các cơ quan quản lý nhà nước cần tổ chức thực hiện thường xuyên các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân đối đối với các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ tiếp cận các quy định pháp luật. Phát huy các hình thức truyền thống, tạo thuận lợi tối đa cho người dân tiếp cận pháp luật như tuyên truyền miệng, giáo dục pháp luật trong nhà trường, phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Tiếp tục kiện toàn và đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế làm công tác tổ chức thi hành pháp luật. Trước yêu cầu của thực tiễn, mục tiêu đổi mới về tổ chức bộ máy, biên chế làm công tác tổ chức thi hành pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang là yêu cầu bức thiết đặt ra. Theo đó, tổ chức bộ máy, biên chế làm công tác pháp chế, trên phương diện là đầu mối tham mưu, giúp Thủ trưởng các ngành, các cấp thực hiện công tác tổ chức thi hành pháp luật cần tiếp tục được kiện toàn theo hướng củng cố, tăng cường về số lượng và chất lượng ở các bộ, ngành trung ương và tại các địa phương.

Trong giai đoạn hiện nay, các bộ, ngành ở trung ương cần bố trí sắp xếp bảo đảm có cán bộ chuyên trách về tổ chức thi hành pháp luật tại Vụ Pháp chế. Các địa phương cần tổ chức thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Quyết định số 242/QĐ-TTg, trong đó chú trọng việc kiện toàn, bố trí biên chế pháp chế chuyên trách tại các sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành pháp luật.

Bên cạnh đó, cần xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, xây dựng chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn, nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng cán bộ công chức làm công tác tổ chức thi hành pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương. Nhà nước cần có những chính sách thỏa đáng về cơ chế, chế độ ưu tiên, thu hút đối với những người làm công tác tổ chức thi hành pháp luật, đồng thời, cần có sự đầu tư đầy đủ, toàn diện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, tức là điều kiện cần và đủ trong tổ chức thi hành pháp luật, tạo ra môi trường thuận lợi trong việc triển khai hoạt động tổ chức thi hành pháp luật trong thực tiễn.

- Tiếp tục hoàn thiện chế độ công chức, công vụ theo hướng chuyên nghiệp, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, thực hiện kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh cán bộ, công chức vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi công vụ:

+ Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm pháp lý đối với cán bộ, công chức phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, trong đó đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước;

+ Xây dựng, ban hành kế hoạch và tổ chức thực hiện việc theo dõi, kiểm tra, giám sát và xử lý công chức, viên chức các cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình thực thi công vụ, tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.

- Nâng cao hiệu quả thực hiện các hoạt động theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật. Hoạt động theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật được xác định là một khâu quan trọng trong các hoạt động tổ chức thi hành pháp luật nhằm giúp cho việc tổ chức thi hành pháp luật được hiệu quả, kịp thời phát hiện những bất cập, hạn chế trong việc thi hành các quy định của pháp luật để kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật[4].

Triển khai thực hiện Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành, quy định chi tiết việc xem xét, đánh giá tác động của quy định pháp luật trong thực tiễn đời sống. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và địa phương cần thực hiện nghiêm túc, đầy đủ việc xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật, đặc biệt là việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật bị phát hiện chưa thống nhất, đồng bộ, khả thi, có nhiều mâu thuẫn, chồng chéo thông qua hoạt động theo dõi thi hành pháp luật. Đây chính là cơ sở pháp lý và thực tiễn quan trọng để bảo đảm việc gắn kết giữa xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật.

- Tăng cường năng lực phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, đặc biệt là việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân và doanh nghiệp về tình hình thi hành pháp luật. Thiết lập các hình thức đa dạng, linh hoạt trong việc tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của người dân, doanh nghiệp trong hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật; giải quyết các kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của người dân và doanh nghiệp kịp thời, đúng quy định pháp luật. Để thực hiện có hiệu quả giải pháp này, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cần ban hành quy trình và thực hiện xử lý nghiêm túc việc giải quyết các phản ánh, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động tổ chức thi hành pháp luật đảm bảo tính kết nối, liên thông và hiệu quả của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Xây dựng Đề án về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật, đảm bảo ứng dụng mạnh mẽ, phát huy vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

- Nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật. Với thể chế pháp luật hiện hành, cơ chế phối hợp trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật mới chỉ tập trung điều chỉnh quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước (Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp), mà chưa thiết lập được cơ chế phối hợp chặt chẽ ở tầm vĩ mô giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị. Do vậy, Chính phủ với vai trò là chủ thể tổ chức thi hành pháp luật cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ với các chủ thể khác trong hệ thống chính trị như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác trong quá trình triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổ chức thi hành pháp luật. Trong thời gian chưa có luật điều chỉnh, có thể nghiên cứu xây dựng văn bản, quy chế phối hợp giữa các cơ quan dưới hình thức nghị quyết liên tịch về phối hợp thực hiện các hoạt động tổ chức thi hành pháp luật./.

Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính

và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp



[1] Điểm 2 Mục 14 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, năm 2016.

[2] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, năm 2016.

[3] Quyết định số 25/QĐ-TTg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020.

[4] Điều 3 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: