Thứ bảy 17/10/2026 12:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Trong thời gian qua, Đảng ta đã có nhiều quan điểm, chủ trương, chính sách quan trọng về tổ chức thi hành pháp luật. Từ kết quả tổng kết thực tiễn triển khai công tác tổ chức thi hành pháp luật trên phạm vi cả nước, Đảng ta đã có những nhận định, đánh giá và đề ra chủ trương, định hướng quan trọng cho công tác này.


1. Những tồn tại, hạn chế trong tổ chức thi hành pháp luật

Có thể nói, tổ chức thi hành pháp luật có ý nghĩa then chốt trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước. Bên cạnh việc ghi nhận những thành tựu đã đạt được, những tồn tại, hạn chế của công tác này cũng được Đảng ta thẳng thắn đánh giá, nhìn nhận, từ đó, có những chủ trương, định hướng phù hợp để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội.

Tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW) đã nhận định hệ thống pháp luật nước ta còn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống; thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu, việc tổ chức thi hành pháp luật còn thiếu chặt chẽ; ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức và nhân dân còn hạn chế.

Trong văn kiện Đại hội XI của Đảng cũng đã nhận định về năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thi hành pháp luật còn yếu, năng lực dự báo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên một số lĩnh vực còn yếu; phân cấp mạnh nhưng thiếu kiểm tra, kiểm soát; trật tự, kỷ cương xã hội không nghiêm. Nhận thức trên nhiều vấn đề cụ thể của công cuộc đổi mới còn hạn chế, thiếu thống nhất. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước chưa tập trung, kiên quyết, dứt điểm, kỷ luật, kỷ cương không nghiêm. Tổ chức thực hiện vẫn là một khâu yếu[1].

Tiếp theo đó, Văn kiện Đại hội XII cũng đã nhận định hạn chế của công tác này: Tổ chức thực hiện pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa chưa nghiêm, cơ chế thực thi và phối kết hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quán triệt, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật còn kém hiệu quả[2].

Đại hội XIII của Đảng đã phân tích, đánh giá sâu sắc, toàn diện những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội XIII của Đảng nhận định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới. Hệ thống pháp luật còn một số quy định chưa thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm, kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ, xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe. Cải cách hành chính, cải cách tư pháp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương một số nơi chưa đổi mới mạnh mẽ; chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, hiệu quả hoạt động còn hạn chế[3]. Việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết còn hạn chế, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp[4]. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 cũng đã chỉ rõ những hạn chế, yếu kém như: Giám sát, phản biện xã hội trong xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách hiệu quả chưa cao[5], thực thi pháp luật chưa hiệu quả, chấp hành pháp luật có nơi chưa nghiêm, việc giám sát chưa chặt chẽ, chi phí tuân thủ pháp luật còn cao[6].

Bên cạnh đó, Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Kết luận số 01-KL/TW) đã nhận định: Công tác tổ chức thi hành pháp luật là khâu yếu trong thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW; việc tổ chức thực hành pháp luật có lúc, có việc còn lỏng lẻo, tính răn đe, giáo dục chưa cao. Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã chỉ rõ: Sự phối hợp giữa công tác xây dựng pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật chưa chặt chẽ. Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật cũng nhận định: Việc tổ chức thi hành pháp luật ở một số nơi còn lúng túng, hiệu quả chưa cao; ý thức chấp hành pháp luật trong một số bộ phận cán bộ và nhân dân còn thấp.

Có thể nhận thấy, tình trạng pháp luật không được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất, triệt để đã làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tác động xấu đến tăng trưởng và phát triển kinh tế, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội.

2. Những chủ trương, định hướng lớn của Đảng về tổ chức thi hành pháp luật

Nghị quyết số 48-NQ/TW đặt ra mục tiêu đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật, trong đó, xác định việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Kết luận số 01-KL/TW đã chỉ rõ: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải gắn với tổ chức thi hành pháp luật, củng cố các thiết chế thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật. Để thực hiện mục tiêu nêu trên, tại Kế hoạch số 1141-KH/BCSĐCP ngày 11/11/2016 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ về việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW đã giao Bộ Tư pháp chủ trì tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật; nâng cao năng lực phản ứng chính sách và các vấn đề mới phát sinh; nghiên cứu xây dựng luật về tổ chức thi hành pháp luật, trong đó quy định sự gắn kết, sử dụng hiệu quả các công cụ phổ biến pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, củng cố các thiết chế thi hành pháp luật.

Tiếp đó, tại các kỳ Đại hội XI, XII, Đảng đã xác định nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách và tập trung nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng luật, pháp lệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính khả thi để đưa nhanh vào cuộc sống; đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa[7].

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thể hiện sự nhất quán, kế thừa và tiếp nối những chủ trương, đường lối của Đảng trước đây về tổ chức thi hành pháp luật. Theo đó, Đảng tiếp tục xác định chủ trương lớn là “Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật. Tập trung chỉ đạo quyết liệt, đầu tư hợp lý nguồn lực và các điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm luật; cải cách thủ tục hành chính; kiện toàn tổ chức, tinh giảm hợp lý đầu mối, bỏ cấp trung gian, tinh giản biên chế”[8].

Tổ chức thi hành pháp luật theo tinh thần Văn kiện XIII của Đảng thể hiện sự nhất quán, kế thừa và tiếp nối những tư tưởng về Nhà nước pháp quyền, về nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, tổ chức thi hành pháp trong các bản Hiến pháp, trong các báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại các Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết, kết luận, báo cáo tổng kết... Đây là một nội dung xuyên suốt, có tính lịch sử và ngày càng được phát triển theo hướng cụ thể, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật

3.1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của công tác tổ chức thi hành pháp luật

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền về vị trí, vai trò của công tác tổ chức và theo dõi thi hành pháp luật, từ đó tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của đội ngũ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình tổ chức thực thi các quy định của pháp luật, thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao. Các cấp ủy Đảng phải thường xuyên tiến hành xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện pháp luật trên địa bàn cấp mình, phải luôn xác định vai trò gương mẫu, tiên phong của đảng viên trong việc tổ chức thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc của cấp ủy Đảng đối với việc tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương để giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, đặc biệt đối với những vụ việc, vấn đề liên quan đến việc thi hành pháp luật nổi cộm, phức tạp, gây bức xúc dư luận xã hội.

3.2. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học về lý luận đối với những vấn đề trực tiếp liên quan đến tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh hoàn thiện pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật

Tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả là vấn đề quan trọng của bất kỳ một quốc gia nào. Đây là vấn đề không mới nhưng có nhiều nội dung liên quan đến lý luận và thực tiễn của hoạt động này chưa được làm sáng tỏ. Quan niệm, phạm vi, cách thức tổ chức thi hành pháp luật ở các quốc gia trên thế giới còn nhiều điểm khác biệt. Ở Việt Nam, với đặc thù của chế độ chính trị Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng cần phải có nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để làm cơ sở, luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực này.

Để giải quyết những tồn tại trên thực tiễn, cần nghiên cứu, xây dựng luật về tổ chức thi hành pháp luật, đây sẽ là giải pháp vô cùng quan trọng nhằm pháp lý hóa, tạo cơ sở pháp lý cơ bản vững chắc để phát huy hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Luật Tổ chức thi hành pháp luật cần quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức thi hành pháp luật; xác định rõ ràng, cụ thể các phương thức, nội dung tổ chức thi hành pháp luật và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động tổ chức thi hành pháp luật đạt hiệu quả.

3.3. Tiếp tục kiện toàn và đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế, tăng cường năng lực đội ngũ làm công tác tổ chức thi hành pháp luật

Trước yêu cầu của thực tiễn, các bộ, ngành ở Trung ương cần bố trí, sắp xếp bảo đảm có cán bộ chuyên trách về tổ chức và theo dõi thi hành pháp luật tại Vụ Pháp chế; các địa phương cần thành lập Phòng Pháp chế tại các sở, ngành theo đúng quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế. Trong thời gian này, khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP đang được xem xét sửa đổi, bổ sung, các địa phương cần tổ chức thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, có hiệu quả Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật” giai đoạn 2018 - 2022, trong đó có nội dung về kiện toàn tổ chức pháp chế các bộ, ngành; bố trí biên chế pháp chế chuyên trách tại các sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện nhiệm vụ công tác pháp chế nói chung và làm đầu mối công tác tổ chức thi hành pháp luật nói riêng.

Xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức thi hành pháp luật có năng lực chuyên môn và bản lĩnh, phẩm chất chính trị, nghề nghiệp vững vàng. Để thực hiện được mục tiêu này thì một trong những vấn đề có tính then chốt là phải xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn, nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng cán bộ công chức làm công tác tổ chức thi hành pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có những chính sách thỏa đáng về cơ chế, chế độ ưu tiên, thu hút đối với những người làm công tác tổ chức thi hành pháp luật, đồng thời, cần có sự đầu tư đầy đủ, toàn diện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, tức là điều kiện cần và đủ trong tổ chức thi hành pháp luật, tạo ra môi trường thuận lợi trong việc triển khai hoạt động tổ chức thi hành pháp luật trong thực tiễn.

3.4. Đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động tổ chức thi hành pháp luật

Thứ nhất, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật: Cần thường xuyên thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, làm cho họ hiểu rõ được quyền hạn, trách nhiệm của mình trên nguyên tắc thực hiện công vụ theo đúng quy định của pháp luật, chỉ được làm những gì pháp luật quy định. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao trình độ, kiến thức pháp lý cho mọi tầng lớp nhân dân, thu hút người dân tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh: (i) Nghiêm túc chấp hành kỷ cương, kỷ luật hành chính trong xây dựng văn bản quy định chi tiết, thực hiện nghiêm các quy định của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết như yêu cầu về việc trình dự thảo văn bản quy định chi tiết kèm theo dự án luật, pháp lệnh. (ii) Đề cao vai trò, tinh thần trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, lấy kết quả thực hiện công tác này là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo năm công tác và theo nhiệm kỳ. Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh, ban hành văn bản quy định chi tiết, nhất là giữa cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh và cơ quan soạn thảo văn bản quy định chi tiết trong quá trình xây dựng, chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh liên quan đến nội dung giao quy định chi tiết.

Thứ ba, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật: (i) Đổi mới nội dung theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật theo hướng nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc phương pháp đánh giá dựa trên kết quả của các nước tiên tiến trên thế giới đang áp dụng. Theo đó, cần sớm nghiên cứu xây dựng hệ thống các tiêu chí và phương pháp theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật dựa trên kết quả với các tiêu chí, nội dung cụ thể và các phương pháp đánh giá chính xác, khoa học. (ii) Xây dựng, phát triển mô hình cộng tác viên trong lĩnh vực theo dõi thi hành pháp luật; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng, kiểm tra và tổ chức, theo dõi thi hành pháp luật. (iii) Quy định cụ thể, rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật. (v) Tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý thông tin về tình hình thi hành pháp luật, từ đó kịp thời đề xuất, kiến nghị các giải pháp để giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cũng như chấn chỉnh các sai phạm, bảo đảm việc thực thi pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức thi hành pháp luật. (vi) Tăng cường bố trí nguồn lực về kinh phí để hoạt động theo dõi thi hành pháp luật được triển khai đồng bộ, toàn diện, đáp ứng mục tiêu đặt ra, Nhà nước cần quy định đầy đủ, rõ ràng và cụ thể các mục chi và định mức chi cho công tác này, qua đó các bộ, ngành và địa phương mới có căn cứ, cơ sở lập dự toán triển khai các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật hằng năm.

Thứ tư, xây dựng, hoàn thiện cơ chế giải trình minh bạch, kịp thời trong tổ chức thi hành pháp luật: Quy định rõ trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm tính minh bạch kịp thời trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Trong đó, xác lập cơ chế về trách nhiệm giải trình trước nhân dân và trách nhiệm giải trình hành chính bao gồm trách nhiệm giải trình trước cơ quan quản lý cấp trên và người có thẩm quyền trong cơ quan đó; trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước với các thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước; quy định các biện pháp xử lý kỷ luật áp dụng đối với cơ quan nhà nước, người đứng đầu cơ quan nhà nước thực hiện không đúng, không thực hiện nhiệm vụ được giao trong tổ chức thi hành pháp luật

Thứ năm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật: Đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện Chính phủ điện tử, xác lập đầy đủ mối quan hệ tương tác giữa người dân và Chính phủ thông qua phương tiện công nghệ hiện đại, qua đó, tăng cường năng lực làm việc hiệu lực, hiệu quả, minh bạch để cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp. Theo đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp được tốt hơn. Xây dựng Đề án về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm công nghệ thông tin phát huy tối đa vai trò của mình trong hoạt động quản lý nhà nước về tổ chức thi hành pháp luật.

3.5. Tăng cường năng lực phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, đặc biệt là việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp về tình hình thi hành pháp luật

Thiết lập các hình thức đa dạng, linh hoạt trong tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của doanh nghiệp trong thực thi pháp luật, trong đó, chú trọng việc ghi nhận, xử lý công khai, công bằng, nhanh chóng, khách quan, đúng thẩm quyền; chủ động tổ chức đối thoại với doanh nghiệp về các quy định của pháp luật về đầu tư kinh doanh để có các biện pháp chỉ đạo, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc mà doanh nghiệp phản ánh, kiến nghị; trường hợp không giải quyết được, cần giải thích, thông tin trả lời rõ ràng, minh bạch. Thiết lập kênh thông tin đa dạng, thuận lợi, bảo mật để người dân, doanh nghiệp phát huy tính tự giác, kịp thời khiếu nại, tố cáo về những hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi pháp luật.

Tăng cường chỉ đạo việc tổ chức tiếp nhận và tập trung giải quyết các kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của người dân và doanh nghiệp kịp thời, đúng quy định pháp luật. Người đứng đầu các cấp chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước các cấp phải dành thời gian tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp, giải quyết hiệu quả các vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền.

3.6. Tiếp tục hoàn thiện chế độ công chức, công vụ theo hướng chuyên nghiệp, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, thực hiện kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh cán bộ, công chức vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi công vụ

Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm pháp lý đối với cán bộ, công chức phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước; xây dựng và ban hành kế hoạch theo dõi, kiểm tra, giám sát và xử lý công chức, viên chức các cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình thực thi công vụ, tiếp nhận và giải quyết yêu cầu của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.

3.7. Đổi mới về cơ chế phối hợp trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật

Với thể chế pháp luật hiện hành, cơ chế phối hợp trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật mới chỉ tập trung điều chỉnh quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước (bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp), mà chưa thiết lập được cơ chế phối hợp ở tầm vĩ mô giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị. Do vậy, Chính phủ với vai trò là chủ thể tổ chức thi hành pháp luật cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ với các chủ thể khác trong hệ thống chính trị như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác trong quá trình triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổ chức thi hành pháp luật.

ThS. Đặng Thanh Sơn
Cục Quản lý XLVPHC & TDTHPL, Bộ tư pháp




[1]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI.

[2]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, Quyển I, tr. 89 - 90.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, Quyển I, tr. 94.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, Quyển II, tr. 75.

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, Quyển II, tr. 76.

[7]. Điểm 2 Mục 14 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII.

[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, Quyển I, tr. 179.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: