Thứ hai 17/08/2026 05:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân trong pháp luật dân sự hiện hành

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân trong pháp luật dân sự hiện hành

Tóm tắt: Qua thời gian áp dụng trong thực tiễn, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Do đó, việc đánh giá lại quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về vấn đề này là cần thiết để đưa ra những điều chỉnh phù hợp, bảo đảm vai trò quan trọng của quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân trong giải quyết các vụ án dân sự.

Abstract: Over time of practical application, the regulation of liability for non-contractual damages under the Civil Code of 2015 has revealed certain limitations. Therefore, a re-evaluation of the provisions of the 2015 Civil Code on this issue is necessary to make appropriate adjustments, ensuring the important role of regulations on the capacity to be responsible for compensation for personal damage in settling civil case.

1. Quy định về năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng của cá nhân

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự, theo đó, người vi phạm nghĩa vụ pháp lý gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất do mình gây ra mà giữa người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và người bị thiệt hại không giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi thực hiện hợp đồng. Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Chương XX của Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 584 đến Điều 608). Hành vi gây thiệt hại có thể được thực hiện bởi bất kỳ chủ thể nào trong xã hội nhưng không phải chủ thể nào cũng có khả năng thực hiện việc bồi thường. Việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường còn phụ thuộc vào năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng chủ thể.

Thông thường, năng lực được hiểu là khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc hay những điều kiện đủ để làm một công việc[1]. Trong pháp luật dân sự, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự bao gồm quyền nhân thân không gắn liền với tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản; quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản; quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó[2]. Còn năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của cá nhân[3]. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thuộc phạm vi pháp luật dân sự nên về bản chất vẫn được xác định theo năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân được quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặc dù, Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 không đưa ra khái niệm cụ thể nhưng dựa vào nội dung của điều luật, có thể hiểu: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là khả năng của cá nhân đó bằng hành vi của mình bù đắp những tổn thất, mất mát về vật chất và quy định nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra.

Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại phải tự bồi thường. Đây là các cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự, là người đã thành niên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình và không phụ thuộc vào tình trạng tài sản của bản thân người này.

Người dưới mười tám tuổi là những người chưa thành niên do chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên việc xác định năng lực bồi thường thiệt hại của các đối tượng này được xem xét trong nhiều trường hợp khác nhau: (i) Đối với người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại bằng tài sản của mình; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu. Như vậy, việc lấy tài sản của người con trong trường hợp này là khắc phục phần còn thiếu về tài sản, không phải là nghĩa vụ bổ sung. (ii) Nếu người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. (iii) Người chưa đủ mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại trong thời gian ở trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì các chủ thể này phải bồi thường. Nếu các chủ thể trên không có lỗi thì cha, mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường[4].

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

2. Một số bất cập của quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

Qua thời gian áp dụng trên thực tế, có thể thấy, nội dung của Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 có một số vấn đề chưa thực sự rõ ràng dẫn đến thiếu thống nhất khi áp dụng. Cụ thể:

Thứ nhất, chưa có sự thống nhất trong quy định của khoản 1 và khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, khoản 1 quy định: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Như vậy, hiểu một cách thông thường, bất kể ai chỉ cần từ đủ mười tám tuổi trở lên mà gây thiệt hại thì phải tự bồi thường, kể cả người từ đủ mười tám tuổi nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc người từ đủ mười tám tuổi nhưng có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Quy định này chưa thống nhất với khoản 3. Khoản 3 quy định: Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Có thể hiểu rằng, khoản 3 là các trường hợp loại trừ của khoản 1, tuy nhiên trong cùng một điều luật nhưng hai khoản này lại không có sự liên kết với nhau dẫn đến việc hiểu khoản 1 có thể khác đi với mong muốn xây dựng pháp luật ban đầu. Vì các quy định trong cùng một vấn đề cần phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau để bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Thứ hai, về mặt nguyên tắc, một người được coi là mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cần phải có quyết định tuyên bố của Tòa án. Nói cách khác, trước khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án thì về mặt pháp lý, những người này vẫn là người bình thường, nếu từ đủ 18 tuổi thì vẫn coi là có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Trên thực tế, không phải gia đình nào cũng thực hiện thủ tục này cho người thân của mình nên khi có người mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại nhưng chưa có quyết định tuyên bố của Tòa án thì bản thân họ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, trên thực tế, những người này thường không có khả năng gánh chịu trách nhiệm dân sự để thực hiện nghĩa vụ bồi thường, nếu người thân không có thiện chí để thực hiện thay thì làm cách nào để xử lý các trường hợp như vậy nhằm bảo đảm quyền được bồi thường của bên bị thiệt hại, nếu Tòa án thực hiện thêm thủ tục tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, hành vi nhằm tạo thêm căn cứ xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thì có đúng hay không khi quyết định có hiệu lực sau thời điểm sự việc gây thiệt hại đã xảy ra?

Thứ ba, theo khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thuộc về cha, mẹ (nếu còn cha, mẹ). Còn người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì thuộc về chính họ. Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa thành niên gây thiệt hại mà có người giám hộ thì trách nhiệm bồi thường thuộc về người giám hộ.

Điều 47 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, con chưa thành niên thuộc các trường hợp sau có thể trở thành người được giám hộ:

- Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ.

- Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ.

Như vậy, không phải mọi trường hợp người được giám hộ là con chưa thành niên mà có người giám hộ đều mất cha, mẹ. Thực tế, nhiều trường hợp cha, mẹ vì không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con cái (như công tác xa, đi nước ngoài...) mà tìm kiếm người giám hộ cho con mình, vì thế con chưa thành niên sẽ đồng thời có người giám hộ và cha mẹ. Khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của con chưa thành niên (nhất là các trường hợp dưới mười lăm tuổi) đồng thời có người giám hộ lẫn cha, mẹ (cha, mẹ đều không bị bất kỳ hạn chế gì), thì người giám hộ hay cha, mẹ sẽ là người có trách nhiệm bồi thường. Khi có phát sinh tranh chấp thì phải xử lý như thế nào?

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân nói riêng đã được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một cách cụ thể hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2005, nhưng xét trên nhiều phương diện khác nhau, cách thức quy định hiện tại còn gây ra những mâu thuẫn nhất định. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn các quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cần thiết.

Một là, khoản 1 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được sửa đổi, bổ sung là: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường, trừ các trường hợp tại khoản 3 Điều này và luật có quy định khác”.

Việc sửa đổi này phù hợp với các quy định khác của Bộ luật Dân sự cũng như tạo ra sự gắn kết về mặt nội dung trong cùng một điều luật. Đồng thời, cũng tạo điều kiện cho các nhà làm luật có thể dự trù các trường hợp khác trong tương lai để có hướng dẫn pháp luật phù hợp hơn.

Hai là, tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật về quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Ngày 06/9/2022, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP) và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2023. Nội dung của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP đã phần nào giải quyết được các vướng mắc hiện hữu, nổi bật liên quan đến quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Liên quan đến quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Nghị quyết này chỉ đề cập đến vấn đề xác định tuổi của người gây thiệt hại. Vấn đề này được áp dụng tương tự pháp luật tố tụng hình sự trong việc xác định tuổi của người bị buộc tội là người dưới mười tám tuổi. Nói cách khác, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP chưa giải đáp cụ thể những vướng mắc liên quan đến nội dung về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Do đó, những hạn chế mà tác giả đưa ra vẫn đang còn tồn tại và cần thiết tiếp tục có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về nội dung này:

Trước hết, để có thể bảo vệ tối đa quyền lợi của người bị thiệt hại, cũng như xác định trách nhiệm cho người thân của người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại nhưng lại chưa có quyết định của Tòa án, trong trường hợp các bên không thể tự thỏa thuận thì nên bổ sung quy định theo hướng cho phép người bị thiệt hại được quyền yêu cầu tuyên bố người gây thiệt hại là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và quyết định của Tòa án vẫn có giá trị pháp lý làm chứng cứ trong việc giải quyết vụ án, nói cách khác là cho quyết định của Tòa án mang tính thừa nhận rằng tại thời điểm người gây thiệt hại, họ đã mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi về mặt pháp lý và người thân (cha mẹ, người giám hộ) phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Quy định này nhằm trách nhiệm hóa vai trò của người thân của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cũng như giúp cho quy định tại khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể được vận dụng một cách hiệu quả nhất.

Tiếp theo, bổ sung quy định điều chỉnh trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại mà còn cha, mẹ đồng thời đang được giám hộ. Để tạo tính thống nhất, tránh gây mâu thuẫn giữa khoản 2 và khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015, cần bổ sung quy định cụ thể trong trường hợp này theo hướng xác định thứ tự người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trước hết là sự thỏa thuận giữa cha, mẹ của người chưa thành niên với người giám hộ; nếu giữa cha, mẹ và người giám hộ không thỏa thuận được thì trách nhiệm bồi thường trước hết phải thuộc về người giám hộ, bởi lẽ, ngay tại thời điểm người chưa thành niên gây thiệt hại, người giám hộ là người có trách nhiệm trực tiếp quản lý, chăm sóc người chưa thành niên, do đó, người giám hộ phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc sử dụng tài sản của người chưa thành niên được thực hiện theo trình tự tại khoản 2 Điều này. Trong trường hợp người giám hộ chứng minh mình không có lỗi thì nghĩa vụ trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về cha, mẹ của người chưa thành niên.

ThS. Phạm Quang Tiến

Học viện Tư pháp

[1]. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin.

[2]. Điều 16, Điều 17 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Điều 599 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 376), tháng 3/2023

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.

Theo dõi chúng tôi trên: