Thứ tư 21/01/2026 02:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ngành Thi hành án dân sự Bắc Kạn 17 năm xây dựng và trưởng thành

Trải qua hơn 17 năm xây dựng và trưởng thành (kể từ khi tái thành lập tỉnh năm 1997), Ngành Thi hành án dân sự của tỉnh gặp không ít khó khăn, thử thách. Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự cùng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ, công chức, người lao động trong toàn Ngành đã khắc phục mọi khó khăn vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

Khó khăn đầu tiên, lớn nhất là tổ chức bộ máy cán bộ của Ngành những ngày đầu thành lập từ tỉnh cho đến cơ sở Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp, 06 Đội Thi hành án thuộc Phòng Tư pháp các huyện, thị xã với 30 biên chế (cấp tỉnh có 06 biên chế, cấp huyện có 24 biên chế), trong đó có 11 chấp hành viên (cấp tỉnh chỉ có 01 chấp hành viên, cấp huyện có 10 chấp hành viên), đa số cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn và lý luận chính trị.

Trước thực trạng đó, kiện toàn tổ chức được xác định là điều kiện tiên quyết để thực hiện tốt công việc chuyên môn, do đó lãnh đạo đơn vị đã tích cực tìm nguồn cán bộ để tham mưu cho cấp trên tuyển chọn đội ngũ cán bộ có đủ khả năng đáp ứng nhiệm vụ được giao, cử nhiều cán bộ đi học chuyên môn nghiệp vụ, trình độ văn hoá, lý luận chính trị... Vì vậy, trong khoảng thời gian từ đầu năm 1997 đến nay, với sự quan tâm của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sư, cùng với việc thay đổi hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật của Nhà nước, Ngành Thi hành án dân sự tỉnh đã có được một bộ máy quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương. Cục Thi hành án trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, cấp huyện có các Chi cục trực thuộc Cục Thi hành án dân sự, công tác tổ chức bộ máy cán bộ đã từng bước hoàn thiện và nâng cao về số lượng, chất lượng. Tính đến tháng 7/2014, tổng số biên chế trong Ngành là 89 người.

Cùng với việc kiện toàn bộ máy tổ chức cán bộ, công tác xây dựng cơ sở vật chất của Ngành cũng luôn được quan tâm nên đã có bước chuyển biến rõ rệt. Tại thời điểm chuyển giao năm 1997, cơ sở vật chất các cơ quan thi hành án dân sự địa phương hầu như không có tài sản, trụ sở làm việc của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh nằm trong khuôn viên trụ sở của Ủy ban nhân dân thị xã Bắc Kạn, trụ sở thi hành án dân sự cấp huyện hầu hết đều nằm trong khuôn viên trụ sở của Ủy ban nhân dân huyện hoặc phải thuê nhà dân; kinh phí hàng năm cho hoạt động của Phòng Thi hành án và các Đội Thi hành án dân sự cấp huyện chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác. Để vượt qua khó khăn, thử thách trong điều kiện mới thành lập tỉnh, đơn vị đã chủ động khắc phục mọi khó khăn, đồng thời tích cực tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tư pháp từng bước xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng với nhiệm vụ của từng thời kỳ.

Năm 2003, được Bộ Tư pháp cấp kinh phí cho đầu tư xây dựng trụ sở làm việc cho Phòng Thi hành án tỉnh và 07 Đội Thi hành án huyện là: Thị xã, Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Ngân Sơn. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông, Na Rì được Bộ Tư pháp cấp vốn, địa phương cấp đất xây dựng trụ sở mới và đã đi vào sử dụng, trụ sở của Cục đang được thi công. Ngoài ra, một số Chi cục Thi hành án dân sự hàng năm được Tổng cục Thi hành án dân sự cấp kinh phí bảo hành, bảo trì trụ sở làm việc và mua sắm trang thiết bị làm việc, toàn tỉnh hiện nay đã có 04 xe ô tô và mỗi đơn vị đều được trang bị xe máy đủ để phục vụ công tác. Về cơ bản thì cơ sở vật chất như vậy đã đáp ứng được nhu cầu nhiệm vụ của Ngành ở địa phương.

Song song với việc kiện toàn bộ máy tổ chức cán bộ và xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị, kinh phí cần thiết là việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, đây là nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất của Ngành. Trong điều kiện là tỉnh miền núi, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế chậm phát triển, trình độ am hiểu pháp luật của nhân dân thấp, ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế, nên công tác thi hành án dân sự cũng gặp phải không ít khó khăn, bất cập. Tồn tại lượng án không có điều kiện thi hành do người phải thi hành án không có tiền, tài sản để thi hành án hoặc không xác định được nơi cư trú; đặc biệt đối với trường hợp người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, không có tài sản, hoặc người phải thi hành án có tài sản nhưng giá trị nhỏ không đáng kể để thi hành án; người phải thi hành án chỉ có tài sản đã kê biên, phát mãi nhưng không bán được. Ngoài ra, còn tồn lại một số lượng án phí, án phạt trong các bản án hình sự về các tội ma tuý, đánh bạc, án kinh tế, tín dụng ngân hàng với số tiền phải thi hành án lớn, trong khi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù hoặc sau khi ra tù bỏ đi khỏi địa phương, không rõ địa chỉ... Việc cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người được thi hành án chưa chính xác nên cơ quan thi hành án dân sự phải tiến hành xác minh lại làm ảnh hưởng đến kết quả thi hành án.

Trong khi đó, lượng án phải thi hành ngày càng nhiều mà nhân lực chưa đáp ứng được so với yêu cầu, điều này đòi hỏi phải có sự nỗ lực phấn đấu cao của toàn thể cán bộ, công chức và người lao động trong Ngành, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu ngành, yêu nghề, do đó thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn đã vượt qua nhiều thử thách và đạt được những kết quả đáng khích lệ như: Tổng số án đã thi hành xong là 22.985 việc, với tổng số tiền thu được là: 32.254.567.000 đồng, hàng năm luôn đạt chỉ tiêu của Bộ Tư pháp và Tổng cục Thi hành án dân sự giao.

Với những thành tích đã đạt được trong những năm qua, tập thể và cá nhân cơ quan thi hành án dân sự trong tỉnh đã được Chính phủ, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh tặng nhiều bằng khen, danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc, Chiến sĩ thi đua ngành...

Những kết quả mà Ngành Thi hành án dân sự tỉnh Bắc kạn thu được trong những năm qua so với “sức vóc” ban đầu khi mới tái thành lập tỉnh thì đây thực sự là những thành quả đáng phấn khởi và tự hào. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn không ít những tồn tại, hạn chế: Số tiền có điều kiện thu trên tổng số tiền phải thi hành tuy đã tăng qua từng giai đoạn nhưng còn thấp; số lượng vụ việc thi hành án và giá trị phải thi hành chuyển kỳ sau vẫn còn nhiều; trong đó, tồn việc chuyển năm 2014 là 640 việc với số tiền 7.473.185.000 đồng; tỷ lệ giảm án chuyển năm sau (cả việc và tiền) của một số đơn vị còn chưa đạt so với chỉ tiêu được giao. Việc rà soát, đôn đốc, xác minh, phân loại án thực hiện chưa triệt để, một số vụ việc tổ chức thi hành án còn chậm, thiếu kiên quyết... Nguồn nhân sự để bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp, quản lý còn thiếu, chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưa đồng đều, vẫn còn có cán bộ năng lực hạn chế dẫn đến công tác tham mưu, đề xuất chưa hiệu quả, chưa đáp ứng ngang tầm với nhiệm vụ được giao.

Đứng trước thực trạng trên, Ngành Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn đề ra những nhiệm vụ và giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế sau đây:

Một là: Bám sát vào các nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự và của tỉnh, phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ, chỉ tiêu công tác của Ngành. Trong đó, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự giao và đúng quy định của pháp luật.

Hai là: Tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm giải quyết án đạt kết quả cao nhất, đặc biệt là giải quyết các vụ việc tồn đọng. Đề cao tinh thần chủ động của chấp hành viên, cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ.

Ba là: Củng cố và phát huy vai trò của các Ban chỉ đạo thi hành án dân sự các cấp, để các Ban chỉ đạo hoạt động có hiệu quả nhằm đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự ở địa phương. Phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội ở địa phương để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của ngành và phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương.

Bốn là: Thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án ngay từ cơ sở. Hạn chế việc khiếu kiện kéo dài, vượt cấp; đề xuất các giải pháp với Ban chỉ đạo thi hành án tỉnh, huyện giải quyết dứt điểm một số vụ việc thi hành án phức tạp tồn đọng kéo dài do có vướng mắc trong tổ chức thi hành án.

Năm là: Đẩy mạnh phong trào thi đua trong các đơn vị thi hành án dân sự trong tỉnh để phong trào thi đua phát triển về chiều sâu. Phát động, duy trì phong trào gắn liền với việc kiểm tra thường xuyên. Xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, cơ quan văn hóa.

Sáu là: Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, Bộ tư pháp, Tổng Thi hành án dân sự đối với các cơ quan thi hành án dân sự thuộc tỉnh; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của ngành và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Bảy là: Tiến hành xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức cơ quan thi hành án dân sự và giáo dục chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ cho công chức; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, người lao động; tăng cường kỷ luật, kỷ cương xây dựng ngành trong sạch vững mạnh.

Nông Văn Chiến

Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: