Thứ hai 26/10/2026 02:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ngành Thi hành án dân sự Bắc Kạn 17 năm xây dựng và trưởng thành

Trải qua hơn 17 năm xây dựng và trưởng thành (kể từ khi tái thành lập tỉnh năm 1997), Ngành Thi hành án dân sự của tỉnh gặp không ít khó khăn, thử thách. Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự cùng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ, công chức, người lao động trong toàn Ngành đã khắc phục mọi khó khăn vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

Khó khăn đầu tiên, lớn nhất là tổ chức bộ máy cán bộ của Ngành những ngày đầu thành lập từ tỉnh cho đến cơ sở Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp, 06 Đội Thi hành án thuộc Phòng Tư pháp các huyện, thị xã với 30 biên chế (cấp tỉnh có 06 biên chế, cấp huyện có 24 biên chế), trong đó có 11 chấp hành viên (cấp tỉnh chỉ có 01 chấp hành viên, cấp huyện có 10 chấp hành viên), đa số cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn và lý luận chính trị.

Trước thực trạng đó, kiện toàn tổ chức được xác định là điều kiện tiên quyết để thực hiện tốt công việc chuyên môn, do đó lãnh đạo đơn vị đã tích cực tìm nguồn cán bộ để tham mưu cho cấp trên tuyển chọn đội ngũ cán bộ có đủ khả năng đáp ứng nhiệm vụ được giao, cử nhiều cán bộ đi học chuyên môn nghiệp vụ, trình độ văn hoá, lý luận chính trị... Vì vậy, trong khoảng thời gian từ đầu năm 1997 đến nay, với sự quan tâm của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sư, cùng với việc thay đổi hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật của Nhà nước, Ngành Thi hành án dân sự tỉnh đã có được một bộ máy quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương. Cục Thi hành án trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, cấp huyện có các Chi cục trực thuộc Cục Thi hành án dân sự, công tác tổ chức bộ máy cán bộ đã từng bước hoàn thiện và nâng cao về số lượng, chất lượng. Tính đến tháng 7/2014, tổng số biên chế trong Ngành là 89 người.

Cùng với việc kiện toàn bộ máy tổ chức cán bộ, công tác xây dựng cơ sở vật chất của Ngành cũng luôn được quan tâm nên đã có bước chuyển biến rõ rệt. Tại thời điểm chuyển giao năm 1997, cơ sở vật chất các cơ quan thi hành án dân sự địa phương hầu như không có tài sản, trụ sở làm việc của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh nằm trong khuôn viên trụ sở của Ủy ban nhân dân thị xã Bắc Kạn, trụ sở thi hành án dân sự cấp huyện hầu hết đều nằm trong khuôn viên trụ sở của Ủy ban nhân dân huyện hoặc phải thuê nhà dân; kinh phí hàng năm cho hoạt động của Phòng Thi hành án và các Đội Thi hành án dân sự cấp huyện chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác. Để vượt qua khó khăn, thử thách trong điều kiện mới thành lập tỉnh, đơn vị đã chủ động khắc phục mọi khó khăn, đồng thời tích cực tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tư pháp từng bước xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng với nhiệm vụ của từng thời kỳ.

Năm 2003, được Bộ Tư pháp cấp kinh phí cho đầu tư xây dựng trụ sở làm việc cho Phòng Thi hành án tỉnh và 07 Đội Thi hành án huyện là: Thị xã, Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Ngân Sơn. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông, Na Rì được Bộ Tư pháp cấp vốn, địa phương cấp đất xây dựng trụ sở mới và đã đi vào sử dụng, trụ sở của Cục đang được thi công. Ngoài ra, một số Chi cục Thi hành án dân sự hàng năm được Tổng cục Thi hành án dân sự cấp kinh phí bảo hành, bảo trì trụ sở làm việc và mua sắm trang thiết bị làm việc, toàn tỉnh hiện nay đã có 04 xe ô tô và mỗi đơn vị đều được trang bị xe máy đủ để phục vụ công tác. Về cơ bản thì cơ sở vật chất như vậy đã đáp ứng được nhu cầu nhiệm vụ của Ngành ở địa phương.

Song song với việc kiện toàn bộ máy tổ chức cán bộ và xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị, kinh phí cần thiết là việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, đây là nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất của Ngành. Trong điều kiện là tỉnh miền núi, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế chậm phát triển, trình độ am hiểu pháp luật của nhân dân thấp, ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế, nên công tác thi hành án dân sự cũng gặp phải không ít khó khăn, bất cập. Tồn tại lượng án không có điều kiện thi hành do người phải thi hành án không có tiền, tài sản để thi hành án hoặc không xác định được nơi cư trú; đặc biệt đối với trường hợp người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, không có tài sản, hoặc người phải thi hành án có tài sản nhưng giá trị nhỏ không đáng kể để thi hành án; người phải thi hành án chỉ có tài sản đã kê biên, phát mãi nhưng không bán được. Ngoài ra, còn tồn lại một số lượng án phí, án phạt trong các bản án hình sự về các tội ma tuý, đánh bạc, án kinh tế, tín dụng ngân hàng với số tiền phải thi hành án lớn, trong khi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù hoặc sau khi ra tù bỏ đi khỏi địa phương, không rõ địa chỉ... Việc cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người được thi hành án chưa chính xác nên cơ quan thi hành án dân sự phải tiến hành xác minh lại làm ảnh hưởng đến kết quả thi hành án.

Trong khi đó, lượng án phải thi hành ngày càng nhiều mà nhân lực chưa đáp ứng được so với yêu cầu, điều này đòi hỏi phải có sự nỗ lực phấn đấu cao của toàn thể cán bộ, công chức và người lao động trong Ngành, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu ngành, yêu nghề, do đó thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn đã vượt qua nhiều thử thách và đạt được những kết quả đáng khích lệ như: Tổng số án đã thi hành xong là 22.985 việc, với tổng số tiền thu được là: 32.254.567.000 đồng, hàng năm luôn đạt chỉ tiêu của Bộ Tư pháp và Tổng cục Thi hành án dân sự giao.

Với những thành tích đã đạt được trong những năm qua, tập thể và cá nhân cơ quan thi hành án dân sự trong tỉnh đã được Chính phủ, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh tặng nhiều bằng khen, danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc, Chiến sĩ thi đua ngành...

Những kết quả mà Ngành Thi hành án dân sự tỉnh Bắc kạn thu được trong những năm qua so với “sức vóc” ban đầu khi mới tái thành lập tỉnh thì đây thực sự là những thành quả đáng phấn khởi và tự hào. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn không ít những tồn tại, hạn chế: Số tiền có điều kiện thu trên tổng số tiền phải thi hành tuy đã tăng qua từng giai đoạn nhưng còn thấp; số lượng vụ việc thi hành án và giá trị phải thi hành chuyển kỳ sau vẫn còn nhiều; trong đó, tồn việc chuyển năm 2014 là 640 việc với số tiền 7.473.185.000 đồng; tỷ lệ giảm án chuyển năm sau (cả việc và tiền) của một số đơn vị còn chưa đạt so với chỉ tiêu được giao. Việc rà soát, đôn đốc, xác minh, phân loại án thực hiện chưa triệt để, một số vụ việc tổ chức thi hành án còn chậm, thiếu kiên quyết... Nguồn nhân sự để bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp, quản lý còn thiếu, chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưa đồng đều, vẫn còn có cán bộ năng lực hạn chế dẫn đến công tác tham mưu, đề xuất chưa hiệu quả, chưa đáp ứng ngang tầm với nhiệm vụ được giao.

Đứng trước thực trạng trên, Ngành Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn đề ra những nhiệm vụ và giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế sau đây:

Một là: Bám sát vào các nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự và của tỉnh, phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ, chỉ tiêu công tác của Ngành. Trong đó, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự giao và đúng quy định của pháp luật.

Hai là: Tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm giải quyết án đạt kết quả cao nhất, đặc biệt là giải quyết các vụ việc tồn đọng. Đề cao tinh thần chủ động của chấp hành viên, cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ.

Ba là: Củng cố và phát huy vai trò của các Ban chỉ đạo thi hành án dân sự các cấp, để các Ban chỉ đạo hoạt động có hiệu quả nhằm đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự ở địa phương. Phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội ở địa phương để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của ngành và phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương.

Bốn là: Thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án ngay từ cơ sở. Hạn chế việc khiếu kiện kéo dài, vượt cấp; đề xuất các giải pháp với Ban chỉ đạo thi hành án tỉnh, huyện giải quyết dứt điểm một số vụ việc thi hành án phức tạp tồn đọng kéo dài do có vướng mắc trong tổ chức thi hành án.

Năm là: Đẩy mạnh phong trào thi đua trong các đơn vị thi hành án dân sự trong tỉnh để phong trào thi đua phát triển về chiều sâu. Phát động, duy trì phong trào gắn liền với việc kiểm tra thường xuyên. Xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, cơ quan văn hóa.

Sáu là: Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, Bộ tư pháp, Tổng Thi hành án dân sự đối với các cơ quan thi hành án dân sự thuộc tỉnh; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của ngành và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Bảy là: Tiến hành xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức cơ quan thi hành án dân sự và giáo dục chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ cho công chức; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, người lao động; tăng cường kỷ luật, kỷ cương xây dựng ngành trong sạch vững mạnh.

Nông Văn Chiến

Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: