Chủ nhật 25/10/2026 19:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ngành Tư pháp tập trung nguồn lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trong 06 tháng cuối năm 2023

Tập trung nguồn lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong 06 tháng cuối năm 2023 được Bộ, Ngành Tư pháp xác định tại Báo cáo số 236/BC-BTP ngày 31/7/2023 của Bộ Tư pháp về công tác tư pháp 06 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác 06 tháng cuối năm 2023 (Báo cáo số 236/BC-BTP). Theo Báo cáo số 236/BC-BTP, 06 tháng đầu năm 2023, Bộ, Ngành Tư pháp đã đạt được những kết quả nổi bật trong nhiều lĩnh vực công tác, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định. Do đó, để tiếp tục kế thừa và phát huy những kết quả đạt được, đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế đã được nhận diện trong thực hiện công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2023, Bộ, Ngành Tư pháp đã xác định những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của công tác tư pháp 06 tháng cuối năm 2023.

1. Công tác tư pháp với nhiều kết quả nổi bật trong 06 tháng đầu năm 2023

Trong 06 tháng đầu năm 2023, bám sát sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ, Ngành Tư pháp đã chủ động, nỗ lực, tập trung triển khai toàn diện, kịp thời các nhiệm vụ theo Chương trình hành động của Ngành Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 06/01/2023 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2023 (Nghị quyết số 01/NQ-CP); các chương trình, kế hoạch; các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao thêm, nhất là 11 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và 56 nhóm nhiệm vụ cụ thể trong các lĩnh vực công tác tại Chương trình hành động của Ngành Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP. Theo đó, 06 tháng đầu năm 2023 công tác tư pháp đạt được những kết quả nổi bật như sau:

1.1. Công tác chỉ đạo, điều hành

Công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ, Ngành Tư pháp được thực hiện theo đúng phương châm “Đoàn kết, kỷ cương, bản lĩnh linh hoạt, đổi mới sáng tạo, kịp thời hiệu quả” của Chính phủ; bám sát các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; các nghị quyết của Quốc hội[1]; các nghị quyết[2], chương trình hành động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, Quốc hội về tăng cường xây dựng, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm an sinh, trật tự an toàn xã hội, tăng cường đối ngoại, hội nhập quốc tế; ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc về triển khai công tác tư pháp năm 2023, nổi bật là: (i) Các chương trình, kế hoạch, văn bản chỉ đạo công tác được Bộ, Ngành Tư pháp ban hành sớm[3] để cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao. (ii) Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được Bộ Tư pháp thực hiện nghiêm: Bộ, Ngành Tư pháp tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt chủ trương ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành, giải quyết yêu cầu của người dân; lồng ghép việc tổ chức các hoạt động, hội nghị, hội thảo và yêu cầu các báo cáo... để tạo thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị; việc sử dụng văn bản điện tử, chữ ký số thông qua Trục liên thông Văn bản quốc gia được thực hiện đồng bộ, mang lại nhiều tiện ích, tiết kiệm thời gian và chi phí; thực hiện cải cách hành chính và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng ISO trong việc thực hiện công tác chuyên môn, giải quyết thủ tục hành chính..., bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. (iii) Cùng với việc chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch, Bộ, Ngành Tư pháp đã tập trung nguồn lực triển khai các nhiệm vụ được giao thêm. (iv) Công tác cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện nhiệm vụ chuyên môn tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Chỉ số cải cách hành chính (Par Index) của Bộ Tư pháp năm 2022 tiếp tục duy trì nhóm dẫn đầu (xếp thứ 2) trong số các bộ, ngành được đánh giá. Việc rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tiếp tục hoàn thiện Cổng Dịch vụ công trực tuyến của Bộ được Lãnh đạo Bộ chỉ đạo quyết liệt. Trong 06 tháng đầu năm, Bộ Tư pháp ban hành 05 quyết định công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ[4], trong đó, đã công bố công khai đối với 99 thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm, trợ giúp pháp lý, hộ tịch và nhóm lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

1.2. Công tác xây dựng pháp luật

Công tác tham mưu xây dựng, hoàn thiện pháp luật luôn được Bộ Tư pháp, các tổ chức pháp chế các bộ, ngành và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu và dành nhiều thời gian, nguồn lực để tham mưu, cụ thể hóa chủ trương, định hướng của Đảng, các nghị quyết của Quốc hội, sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tham gia có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề khó khăn, phức tạp phát sinh, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc kìm hãm sự phát triển, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong việc lập đề nghị, trình Chính phủ xem xét trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023[5] tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XV. Đồng thời, Bộ, Ngành Tư pháp đã tham mưu Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hộ chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW ); tham gia với Đảng đoàn Quốc hội xây dựng “Quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật”; tham mưu Chính phủ ban hành Nghị quyết số 20/NQ-CP ngày 17/02/2023 về một số nhiệm vụ, giải pháp triển khai sắp xếp tổ chức các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ...

Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản, Luật Công chứng (sửa đổi), Luật Thủ đô (sửa đổi); rà soát, đề xuất sửa đổi các nội dung liên quan đến Luật Giám định tư pháp, đánh giá việc thi hành pháp luật về Thi hành án dân sự, Phổ biến, giáo dục pháp luật, Hộ tịch và tiếp tục hoàn thiện các văn bản dưới luật trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm, lý lịch tư pháp, trợ giúp pháp lý, bổ trợ tư pháp... Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các cơ quan có liên quan hoàn thiện các dự thảo nghị định đã trình Chính phủ[6].

Trong 06 tháng đầu năm, Bộ, Ngành Tư pháp đã tập trung nguồn lực, nỗ lực triển khai thực hiện các nhiệm vụ về rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030; chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 23/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ, bước đầu đạt được một số kết quả tích cực.

1.3. Công tác tổ chức thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật

Công tác tổ chức thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật tiếp tục được Bộ, Ngành Tư pháp quan tâm, chú trọng triển khai thực hiện, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật, đạt được nhiều kết quả tích cực; triển khai kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật; tham mưu kịp thời các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi hoặc sửa đổi theo thẩm quyền các văn bản nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đời sống của Nhân dân và các vấn đề mới phát sinh; quyết liệt đôn đốc, đề ra các giải pháp hạn chế việc chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết. Kịp thời tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành năm 2023 (kèm theo Quyết định số 39/QĐ-TTg ngày 28/01/2023 của Thủ tướng Chính phủ).

1.4. Công tác truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục được Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan, tổ chức ở Trung ương, địa phương triển khai thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bám sát các chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, các kế hoạch, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật đã được ban hành. Trong 06 tháng đầu năm, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Hội đồng phối hợp Phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương tổ chức phiên họp triển khai nhiệm vụ năm 2023; hướng dẫn sơ kết 01 năm thực hiện Đề án Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 - 2027”; kiểm tra việc triển khai thực hiện truyền thông dự thảo chính sách. Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Bộ Tư pháp năm 2023, trong đó, đề ra 05 nội dung hoạt động trọng tâm, nổi bật là Chương trình bình chọn, vinh danh “Gương sáng Pháp luật” năm 2023 và Hội thi Hòa giải viên giỏi toàn quốc lần thứ IV gắn với hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2023…

Bên cạnh đó, các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục được đổi mới về nội dung, hình thức, nhiều cách làm hay, sáng tạo đã được các bộ, ngành, địa phương áp dụng, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong 06 tháng đầu năm, các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức 225.613 cuộc tuyên truyền pháp luật cho hơn 19.472.289 triệu lượt người; tổ chức 3.312 cuộc thi cho 3.165.818 triệu lượt người dự thi; phát hơn 20 triệu tài liệu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

1.5. Công tác thi hành án dân sự

Bộ Tư pháp tiếp tục chỉ đạo Hệ thống thi hành án dân sự thường xuyên quán triệt và triển khai thực hiện các thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; triển khai đồng bộ các giải pháp để hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, thi hành án hành chính được Quốc hội, Chính phủ giao; tiếp tục triển khai hiệu quả Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 02/6/2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; Kết luận số 05-KL/TW ngày 03/6/2021 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng.

Các vụ việc phức tạp, kéo dài, xử lý thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế và án tín dụng, ngân hàng tiếp tục được Lãnh đạo các cấp, các ngành liên quan quan tâm và tập trung chỉ đạo quyết liệt; công tác phối hợp với các ngành Nội chính, Tòa án, Kiểm sát, Công an, Ngân hàng, Bảo hiểm xã hội trong hoạt động thi hành án dân sự tiếp tục được thực hiện kịp thời, chặt chẽ, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành án. Ban chỉ đạo thi hành án dân sự các cấp tiếp tục được rà soát, kiện toàn, kịp thời giải quyết nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài.

Bên cạnh đó, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thi hành án dân sự tiếp tục được quan tâm thực hiện, với nhiều giải pháp quyết liệt, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã ban hành Chương trình hành động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thi hành án dân sự giai đoạn 2023 - 2026[7]; Bộ Tư pháp đã chỉ đạo ban hành Kế hoạch phòng, chống tham nhũng trong Hệ thống thi hành án dân sự năm 2023[8], Kế hoạch kiểm tra công tác thi hành án dân sự năm 2023; ban hành văn bản chỉ đạo triển khai, hướng dẫn về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, sai phạm trong Hệ thống thi hành án dân sự…

1.6. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai Đề án 06 của Thủ tướng Chính phủ

Việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số được Bộ, Ngành Tư pháp quan tâm, chú trọng triển khai thực hiện, được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Bộ, Ngành Tư pháp. Bên cạnh việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên, Bộ Tư pháp, các cơ quan tư pháp địa phương tiếp tục tập trung nguồn lực, triển khai toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Đề án 06); Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 23/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh triển khai Đề án 06 tại các bộ, ngành, địa phương năm 2023 và những năm tiếp theo, đạt được một số kết quả nổi bật như: (i) Hoàn thành nhiệm vụ rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo yêu cầu tại Đề án 06, Chỉ thị số 05/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 315/TCTTKĐA[9] của Tổ công tác Đề án 06 của Chính phủ; (ii) Nâng cấp, bổ sung tính năng tạo lập bản điện tử giấy khai sinh, trích lục khai tử của phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung, gửi cho Phần mềm dịch vụ công liên thông, thực hiện liên thông 02 nhóm thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử để triển khai thí điểm trên địa bàn thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam; (iii) Hoàn thành kết nối 58 dịch vụ công của Bộ với Cổng Dịch vụ công quốc gia; (iv) Hoàn thành việc rà soát, công bố, công khai thủ tục hành chính của một số lĩnh vực theo yêu cầu của Nghị định số 104/2022/NĐ-CP ngày 21/12/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công; (v) Tham gia góp ý và thực hiện nhiệm vụ thẩm định một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Đề án 06…

Trong 06 tháng đầu năm 2023, các lĩnh vực công tác tư pháp khác như: Quản lý xử lý vi phạm hành chính; pháp luật quốc tế; hòa giải ở cơ sở; hướng dẫn thực hiện quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; hộ tịch, quốc tịch, chứng thực; nuôi con nuôi; lý lịch tư pháp; đăng ký biện pháp bảo đảm; bồi thường nhà nước; bổ trợ tư pháp; trợ giúp pháp lý; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; xây dựng Ngành; đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu khoa học pháp lý; hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp; kế hoạch, tài chính; xuất bản, báo chí; thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; thi đua, khen thưởng… cũng được triển khai nghiêm túc, chủ động và đạt được những kết quả tích cực, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội của đất nước và của từng địa phương.

2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện công tác tư pháp 06 tháng cuối năm 2023

Để tiếp tục kế thừa và phát huy những kết quả đạt được, nhất là 11 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và 54 nhóm nhiệm vụ cụ thể trong các lĩnh vực công tác thường xuyên năm 2023[10], khắc phục những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân đã được nhận diện trong thực hiện công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2023; bám sát các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, Ngành Tư pháp xác định các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu công tác tư pháp 06 tháng cuối năm 2023 như sau:

2.1. Nhiệm vụ chủ yếu

Một là, tiếp tục quán triệt, tham mưu thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và triển khai thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, văn bản chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ liên quan đến các lĩnh vực công tác của Bộ, Ngành Tư pháp, nhất là ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, các kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ triển khai các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư liên quan đến các lĩnh vực công tác của Bộ, Ngành Tư pháp. Tiếp tục tham mưu thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 27-NQ/TW, nhất là Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 12/5/2023 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW; Chương trình số 82-CTr/BCSĐ ngày 22/5/2023 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW. Đồng thời, tập trung xây dựng bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản, Luật Công chứng (sửa đổi), Luật Thủ đô (sửa đổi); rà soát, đề xuất sửa đổi các nội dung liên quan đến Luật Giám định tư pháp; phối hợp các cơ quan có liên quan trình Chính phủ ban hành một số nghị định trong lĩnh vực quản lý của Bộ.

Hai là, tập trung nguồn lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, tránh lợi ích nhóm, cục bộ trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Kịp thời tham mưu với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, góp ý văn bản quy phạm pháp luật theo nhiệm vụ được phân công, kiểm soát chặt chẽ tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ cũng như sự phù hợp của nội dung văn bản quy phạm pháp luật với chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với những điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật; chú trọng xử lý, rà soát văn bản quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, nhất là tham mưu tổ chức thực hiện hiệu quả hoạt động của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo yêu cầu của Đề án 06. Tham mưu với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện công tác ban hành văn bản quy định chi tiết, khắc phục căn bản tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết. Ngoài ra, cần tiếp tục triển khai hiệu quả pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; kịp thời hướng dẫn những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành.

Ba là, tiếp tục thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 02/6/2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; Đề án “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự đối với các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại giai đoạn 2023 - 2028” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 13/01/2023 tại Quyết định số 17/QĐ-TTg; Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 06/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác thi hành án dân sự; Chỉ thị số 26-CT/TTg ngày 15/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính. Thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về thi hành án dân sự, thi hành án hành chính. Tiếp tục chỉ đạo và tổ chức thi hành án, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu thi hành án dân sự được giao năm 2023; tập trung giải quyết các vụ việc phức tạp, kéo dài; chủ động, tích cực tổ chức thi hành các vụ án tham nhũng, kinh tế để thu hồi tối đa tài sản cho Nhà nước.

Bốn là, chú trọng thực hiện tốt công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tiếp tục đổi mới nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường công tác ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác này, gắn kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chú trọng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù, đưa thượng tôn pháp luật trở thành chuẩn mực trong ứng xử của các chủ thể trong xã hội. Tổ chức thực hiện hiệu quả Quyết định số 39/QĐ-TTg ngày 28/01/2023 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành năm 2023. Đồng thời, tổ chức thành công Hội thi Hòa viên giỏi toàn quốc lần thứ IV gắn với triển khai hiệu quả Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2023 phù hợp với tình hình thực tiễn của các bộ, ngành, địa phương.

Năm là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực; bồi thường nhà nước; nuôi con nuôi; lý lịch tư pháp; đăng ký biện pháp bảo đảm; bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; tiếp tục hoàn thiện pháp luật về các mặt công tác này. Triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 09/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Sáu là, tiếp tục tập trung thực hiện kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ của Ngành Tư pháp theo Quyết định số 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030; đầu tư xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và phần mềm ứng dụng của Ngành Tư pháp, đặc biệt là tập trung nguồn lực triển khai dự án đầu tư công về “Xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch” nhằm phát huy vị trí, vai trò Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc để chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu khác.

Bảy là, tích cực, chủ động tham mưu cho Chính phủ các giải pháp phòng ngừa và tăng cường năng lực giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện trong hoạt động đầu tư quốc tế, bảo đảm quyền lợi của Chính phủ, người dân, doanh nghiệp; tham gia tích cực vào việc xử lý các vấn đề pháp luật quốc tế phát sinh, nhất là tham mưu xây dựng, trình Ban Bí thư ban hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Hoàn thiện thể chế pháp luật về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự, bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của kinh tế - xã hội, trình Chính phủ đề xuất xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.

Đồng thời, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 09/12/2009 của Ban Bí thư khóa X về hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và Kết luận số 73-KL/TW ngày 20/5/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW; thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp, bao gồm cả các chương trình, dự án, phi dự án hợp tác pháp luật bảo đảm đúng nguyên tắc, định hướng của Đảng và quy định pháp luật có liên quan, trong đó, tập trung hoàn thiện thể chế, trình Chính phủ ban hành nghị định thay thế Nghị định số 113/2014/NĐ-CP ngày 26/11/2014 về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật bảo đảm chất lượng, tiến độ theo kế hoạch. Chủ động tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác quốc tế phù hợp với định hướng đối ngoại của Đảng, Nhà nước và các quy định, quy chế trong hoạt động đối ngoại, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn được giao và nâng cao vị thế, vai trò của Bộ Tư pháp trong các mối quan hệ quốc tế.

Tám là, bảm bảo tiến độ, chất lượng các văn bản, đề án trình các cấp có thẩm quyền và ban hành thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Chủ động rà soát, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo Bộ giao và nhiệm vụ trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp; hoàn thành việc trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, kiến nghị của cử tri.

Chín là, tiếp tục hoàn thiện thể chế trong công tác xây dựng ngành. Xây dựng Đề án vị trí việc làm của Bộ Tư pháp và các cơ quan, đơn vị. Thực hiện việc kiện toàn tổ chức và sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức trong Ngành theo yêu cầu của Nghị định số 98/2022/NĐ-CP ngày 29/11/2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; các nghị định, thông tư, quy định có liên quan và yêu cầu của vị trí việc làm.

Đồng thời, chú trọng đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tư pháp trong sạch, chuyên nghiệp, bản lĩnh, ngang tầm nhiệm vụ tinh thần các nghị quyết của Đảng và yêu cầu của Chính phủ. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án tổng thể “Tiếp tục xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật” và Đề án “Tiếp tục xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bảo đảm chất lượng, hiệu quả và đúng lộ trình đã đề ra.

Mười là, tổ chức đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023; xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 của Bộ, Ngành Tư pháp. Tiếp tục quản lý ngân sách, tài sản theo đúng quy định, bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác của Bộ, ngành. Tập trung nguồn lực, bảo đảm tiến độ triển khai các dự án thuộc Kế hoạch đầu tư năm 2023 và Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021 - 2025; phấn đấu bảo đảm tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục thực hiện tốt Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030; nâng cao chất lượng công tác thống kê của Bộ, ngành, nhất là ban hành Thông tư thay thế Thông tư số 10/2017/TT-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê Ngành Tư pháp.

Mười một là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo đúng chỉ đạo của Đảng và quy định của pháp luật, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường công tác thanh tra đột xuất, thanh tra các cơ quan, tổ chức có dấu hiệu vi phạm pháp luật và lĩnh vực do Bộ, Ngành Tư pháp quản lý có nhiều bức xúc, dư luận xã hội quan tâm.

Mười hai là, thực hiện tốt các nhiệm vụ về cải cách hành chính, tiếp tục từng bước đầu tư xây dựng, nâng cao nền tảng hệ thống công nghệ thông tin đồng bộ, tiên tiến, hiện đại, triển khai và duy trì tốt các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và phần mềm ứng dụng của Ngành Tư pháp, thúc đẩy thực hiện chuyển đổi số gắn với bảo đảm an toàn thông tin mạng trong Ngành Tư pháp, góp phần vào việc xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

2.2. Giải pháp chủ yếu

Để tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác tư pháp 06 tháng cuối năm 2023, bên cạnh việc thực hiện những giải pháp mang tính chất thường xuyên, toàn Ngành Tư pháp xác định một số giải pháp mới, phù hợp với dự kiến bối cảnh 06 tháng cuối năm 2023, cụ thể như sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; tăng cường công tác cải cách hành chính; thực hiện nghiêm các chương trình, kế hoạch công tác đã đề ra, nhất là các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao thêm.

Hai là, chủ động hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; điều chỉnh linh hoạt việc triển khai các chương trình, kế hoạch công tác đã đề ra, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế nhưng vẫn thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các nhiệm vụ được giao.

Ba là, tiếp tục đầu tư nguồn lực, tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác.

Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các sai phạm (nếu có); đồng thời, kịp thời động viên, khích lệ các tập thể, cá nhân đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc, đạt kết quả cao trong triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.

Năm là, tăng cường, đẩy mạnh công tác truyền thông, nhất là các hoạt động của Bộ, Ngành Tư pháp; đồng thời, kịp thời chia sẻ, nhân rộng cách làm hay, hiệu quả, sáng tạo trong triển khai, thực hiện nhiệm vụ được giao phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước./.

Bùi Huyền


[1] Như: (i) Nghị quyết số 68/2022/QH15 ngày 10/11/2022 của Quốc hội về phát triển kinh tế - xã hội năm 2023; (ii) Nghị quyết số 69/2022/QH15 ngày 11/11/2022 của Quốc hội về Dự toán ngân sách nhà nước năm 2023; (iii) Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

[2] Như: (i) Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 06/01/2023 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2023; (ii) Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ.

[3] Chỉ sau 11 ngày kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP.

[4] Gồm: (i) Quyết định số 2546/QĐ-BTP ngày 26/12/2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; (ii) Quyết định số 228/QĐ-BTP ngày 22/02/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp; (iii) Quyết định số 528/QĐ-BTP ngày 10/4/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực hộ tịch thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp; (iv) Quyết định số 706/QĐ-BTP ngày 09/5/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực luật sư, lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng, quản lý của Bộ Tư pháp; (v) Quyết định số 1007/QĐ-BTP ngày 13/6/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc công bố thủ tục hành chính nội bộ trong hệ thống hành chính nhà nước thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.

[5] Nghị quyết số 89/2023/QH15 ngày 02/6/2023 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023.

[6] Như: (i) Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế; (ii) Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp); (iii) Nghị định thay thế Nghị định số 113/2014/NĐ-CP ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật.

[7] Chương trình số 87-CTr/BCSĐ ngày 28/6/2023.

[8] Quyết định số 167/QĐ-TCTHADS ngày 28/02/2023.

[9] Công văn số 315/TCTTKĐA ngày 10/2/2023 của Tổ công tác Đề án 06 của Chính phủ về việc báo cáo một số nội dung trong thực hiện Đề án 06 theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà.

[10] Đã được đề ra tại tại Chương trình hành động của của Ngành Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: