Chủ nhật 28/06/2026 06:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ cung cấp biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển - Kinh nghiệm quốc tế và một số gợi mở cho Việt Nam

Bài viết này phân tích và so sánh quy định về biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển của quốc tế và Việt Nam, từ đó, gợi mở những vấn đề cần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chế định này.


Bắt giữ tàu biển là một quy định đặc trưng của một vụ kiện đối vật (in rem) trong pháp luật hàng hải thế giới. Cụ thể, khiếu nại in rem (in rem claim) là khiếu nại, trong đó, tàu biển được coi là bị đơn của khiếu nại đó. Theo pháp luật hàng hải quốc tế, do khiếu nại in rem có bị đơn là tàu biển bị bắt giữ, Tòa án tại nơi tàu biển bị bắt giữ sẽ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và theo đó, giá trị của tàu biển là giới hạn cho một hay toàn bộ các khiếu nại hàng hải liên quan. Khiếu nại in rem coi bị đơn là con tàu bị bắt giữ theo đó đã giải quyết được vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp chủ con tàu đó ở nước ngoài[1]. Đây chính là điểm khác biệt giữa vụ kiện in rem trong lĩnh vực luật hàng hải so với luật tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, bắt giữ tàu biển là phương thức để ngăn chặn việc chủ tàu trốn tránh trách nhiệm liên quan đến tàu biển thuộc sở hữu của họ. Việc bắt giữ tàu biển và các tài sản khác theo vụ kiện in rem có mục đích khiến chủ tàu phải cung cấp một loại bảo lãnh tiền tố tụng cho nguyên đơn. Việc giải quyết mâu thuẫn và cân bằng về mặt lợi ích giữa nguyên đơn hàng hải và chủ tàu luôn là một chủ đề gây tranh cãi trong lĩnh vực luật hàng hải. Một mặt, nguyên đơn cho rằng quyền bắt giữ tàu biển là cách thức có giá trị nhất để thi hành khiếu nại hàng hải và thu hồi nợ từ phía chủ tàu/người thuê tàu. Ngược lại, chủ tàu/người thuê tàu cho rằng, cần phải có chế tài để bảo đảm việc bắt giữ tàu sai đối với tàu không gây gián đoạn đến quyền giao thương hợp pháp của con tàu.

1. Nghĩa vụ cung cấp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển tiếp cận từ góc độ pháp luật hàng hải quốc tế

Trên diễn đàn quốc tế, nghĩa vụ này đã được các quốc gia liên tục thảo luận và đề xuất trong suốt thế kỷ 20 song song với trách nhiệm đối với yêu cầu bắt giữ tàu sai. Vào năm 1930, các Hiệp hội pháp luật hàng hải (Maritime Law Association) của các nước (sau đây gọi là “MLA”) được yêu cầu đưa ra các vấn đề về pháp luật hàng hải quốc tế để thảo luận tại hội nghị của Ủy ban quốc tế về Hàng hải (Comité Maritime Internaiotnal - sau đây gọi là CMI) được tổ chức tại Antwerp[2]. Trong quá trình thảo luận về trách nhiệm đối với yêu cầu bắt giữ tàu sai, nghĩa vụ cung cấp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển được đại diện của các quốc gia đề cập trong Hội nghị của CMI tại Naples năm 1951 trước khi Công ước quốc tế về Bắt giữ tàu biển được ra đời vào năm 1952 (Công ước Brussels năm 1952).

Tại Hội nghị của CMI tại Naples năm 1951, đại diện của các nước Scandinavia đã có ý kiến đề xuất đưa quy định bảo đảm tài chính được đưa vào Dự thảo Công ước bắt giữ tàu biển[3]. Việc ủng hộ đưa quy định bảo đảm tài chính vào trong Công ước là một cách hạn chế tốt nhất các trường hợp yêu cầu quyền bắt giữ tàu biển và tránh việc lạm dụng quyền này gây ảnh hưởng đến hoạt động giao thương của tàu[4]. Bên cạnh đó, đại diện các nước này cho rằng việc quy định áp dụng biện pháp bảo đảm tài chính theo nguyên tắc lex fori (luật của Tòa án) chỉ là một cách né tránh cho việc quy định trực tiếp thành một nghĩa vụ của bên yêu cầu bắt giữ tàu biển. Do đó, đại diện của các nước Scandinavia đã đề xuất đưa yêu cầu cung cấp bảo đảm tài chính thành yêu cầu bắt buộc đối với bên yêu cầu bắt giữ tàu biển, trừ một số trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, đại diện của nước Pháp cho rằng quan điểm đúng phải là việc thẩm phán có toàn quyền quyết định việc yêu cầu nguyên đơn phải cung cấp bảo đảm tài chính. Đặc biệt, ông phải xem xét đến thực tế vụ việc, khả năng tài chính của nguyên đơn để cân nhắc tính hợp lý cho yêu cầu bảo đảm tài chính[5]. Như vậy, theo quan điểm của Pháp thì bảo đảm tài chính không phải yêu cầu bắt buộc mà phụ thuộc vào quyết định của thẩm phán khi xem xét các yếu tố vụ việc.

Cuối cùng để đạt được một thỏa thuận chung liên quan đến bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển, hội nghị đã thống nhất theo ý kiến của đại diện Anh quốc và áp dụng một trong những nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế là lex fori để giải quyết xung đột pháp luật đối với trách nhiệm bắt giữ tàu sai và bảo đảm tài chính[6]. Đây là lí do các nước Scandinavia chỉ tham gia vào Công ước Brussels năm 1952 tại Brussels khi đến thời điểm bắt buộc phải tham gia của các nước thuộc Liên minh châu Âu[7]. Sau đó, CMI tiếp tục tổ chức các hội nghị thảo luận về vấn đề trên bắt đầu từ Hội nghị tại Lisbon năm 1985 đến khi Công ước năm 1999 ra đời. Vào thời điểm đó, dự thảo của CMI quy định về biện pháp bảo vệ chủ tàu và người thuê tàu trần của tàu bị bắt giữ tại Điều 6. Trong dự thảo này, khoản 1 Điều 6 có hai hướng quy định, trong đó hướng quy định đầu tiên cho phép Tòa án nơi có yêu cầu bắt giữ được toàn quyền quyết định về việc có hay không áp dụng biện pháp bảo đảm tài chính, trong khi theo hướng quy định thứ hai thì ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, Tòa án bắt buộc phải yêu cầu biện pháp bảo đảm tài chính.

Trong các phiên họp sau đó, có các ý kiến ủng hộ hướng quy định thứ hai. Cụ thể, đại diện đến từ Phòng Vận tải Quốc tế đã đề xuất nghĩa vụ bảo đảm tài chính là một nghĩa vụ bắt buộc của nguyên đơn (người yêu cầu bắt giữ tàu biển) hơn là một nghĩa vụ phát sinh phụ thuộc vào quyết định của Tòa án. Bên cạnh đó, đại diện đến từ Ai Cập cho rằng nghĩa vụ cung cấp biện pháp bảo đảm tài chính là cần thiết để thanh toán cho các chi phí tại cảng do tàu biển bị bắt giữ, và cảng vụ nơi tàu biển bị bắt giữ cần phải phối hợp với Tòa án để đưa ra các biện pháp phù hợp cho việc bắt giữ tàu để tránh gây ảnh hưởng đến hoạt động chung của cảng biển. Tuy nhiên, do sức ảnh hưởng của các nước chiếm thị phần lớn trong ngành hàng hải thế giới, Công ước về Geneva năm 1999 được thông qua với quy định cho phép Tòa án tại quốc gia nơi tàu biển bị bắt giữ có thể yêu cầu biện pháp bảo đảm tài chính trong trường hợp bắt tàu sai[8].

Sau đó, vấn đề biện pháp bảo đảm tài chính được tiếp tục đề cập tại một bài giảng tại Đại học Tulane, Mỹ vào năm 2013[9] trước khi được đưa vào thảo luận xem xét tại hội nghị CMI các năm gần đây. Một danh sách câu hỏi xoay quanh vấn đề bắt giữ tàu biển đã được gửi đến các quốc gia. Các câu trả lời đến từ các nước trên thế giới cho thấy có sự đa dạng và không thống nhất trong việc yêu cầu cung cấp biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển. Ví dụ, các nước theo hệ thống luật dân sự thường có quy định về biện pháp bảo đảm cho yêu cầu bắt giữ tàu biển, còn các nước theo hệ thống thông luật thì không yêu cầu (do ảnh hưởng của pháp luật Anh quốc). Ngoài ra, trong nội bộ các nước châu Âu có thể chia thành các nước ở phía bắc châu Âu sẽ yêu cầu biện pháp bảo đảm tài chính còn các nước phía Nam không yêu cầu. Ngoài ra, hình thức và giá trị của biện pháp bảo đảm tài chính cũng được các quốc gia quy định khác biệt, ví dụ như, Tòa án Đan Mạch thường yêu cầu giá trị biện pháp bảo đảm tài chính là giá trị 05 ngày thuê tàu đang được bắt giữ, Tòa án Colombia yêu cầu 20% giá trị của khiếu nại hàng hải dẫn đến yêu cầu bắt giữ tàu biển; Bộ luật Hàng hải năm 2014 của Tây Ban Nha yêu cầu giá trị của biện pháp bảo đảm tài chính không thấp hơn 15% giá trị của khiếu nại hàng hải dẫn đến yêu cầu bắt giữ tàu biển[10].

Như vậy, nghĩa vụ cung cấp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển được quy định nhằm mục đích bồi thường thiệt hại cho chủ tàu/người thuê tàu trong trường hợp yêu cầu bắt giữ tàu sai.

2. Nghĩa vụ cung cấp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển ở Việt Nam

Quy định pháp luật hàng hải tại Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn với các mốc thời gian là thời điểm có hiệu lực của Bộ luật Hàng hải năm 1990, Bộ luật Hàng hải năm 2005 và Bộ luật Hàng hải năm 2015. Hiện nay, quy định về nghĩa vụ cung cấp biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển đang được quy định tại Điều 132 Bộ luật Hàng hải năm 2015[11] và Điều 5 Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008 và Nghị định số 57/2010/NĐ-CP ngày 25/5/2010 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển. Trong giai đoạn này, chế định biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển được lần đầu ghi nhận trong pháp luật quốc tế tại Điều 6 Công ước quốc tế về Bắt giữ tàu biển năm 1999. Sự xuất hiện của chế định về Bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển trong pháp luật hàng hải Việt Nam bắt đầu từ khi Quốc hội khóa XI thảo luận về dự thảo Bộ luật Hàng hải năm 2005. Theo Báo cáo tổng kết 13 năm thực hiện Bộ luật Hàng hải Việt Nam (1991 - 2003) của Bộ Giao thông vận tải tháng 10/2003, một trong những hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1990 cần được sửa đổi, bổ sung là quy định về bắt giữ tàu biển[12]. Do đó, Bộ Giao thông vận tải đề xuất sửa đổi, bổ sung liên quan đến quy định về bắt giữ tàu biển là: “Sửa đổi các quy định về bắt giữ tàu cho phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ hàng hải quốc tế”. Dự thảo Bộ luật Hàng hải năm 2005 lần đầu tiên có quy định về bảo đảm tài chính[13] với mục đích “bảo vệ quyền lợi của bên có tàu bị bắt giữ trong trường hợp tàu bị bắt giữ sai hay chủ tàu phải cung cấp quá nhiều tiền bảo lãnh so với mức độ của khiếu kiện”[14]. Dự thảo này sau đó về cơ bản được Quốc hội thông qua, trong đó quy định về bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu quy định người yêu cầu bắt giữ tàu biển bắt buộc phải cung cấp bảo đảm tài chính và giá trị của bảo đảm tài chính sẽ do Tòa án quy định[15].

Ngày 27/8/2008, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XII ban hành Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển trong đó quy định rõ hơn về hình thức bảo đảm tài chính, thời hạn nộp bảo đảm tài chính và việc xử lý bảo đảm tài chính khi có quyết định thả tàu biển bị bắt giữ. Quy định về biện pháp bảo đảm tài chính tại Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển có thể được coi là sự học tập, vận dụng có chọn lọc Điều 6 Công ước Geneva năm 1999[16]. Như vậy, mục đích quy định về biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển tại Việt Nam hướng tới là để: (i) Cảnh báo bên yêu cầu; (ii) Bồi thường thiệt hại do yêu cầu bắt giữ tàu sai. Cụ thể, bên muốn bắt giữ tàu biển phải cân nhắc cẩn thận về khiếu nại dẫn đến quyền bắt giữ tàu biển, qua đó giảm thiểu những yêu cầu bắt giữ tàu biển vô lý hoặc có mục đích xấu. Bên cạnh đó, trong trường hợp chủ tàu, người thuê tàu trần có cơ sở cho rằng bên yêu cầu bắt giữ tàu biển: (i) Có khiếu nại không thuộc các trường hợp dẫn đến việc bắt giữ tàu; (ii) Không có quyền khiếu nại do quyền khiếu nại thuộc về chủ thế khác (ví dụ, bên nhận hàng hóa thực tế nhưng không phải người nhận hàng ghi trên vận đơn đường biển), chủ tàu, người thuê tàu trần có thể khởi kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với yêu cầu bắt giữ tàu không đúng và xử lý biện pháp bảo đảm tài chính mà không cần chờ sau khi giải quyết khiếu nại về mặt nội dung. Bên cạnh đó, tại thời điểm đưa ra yêu cầu bắt giữ tàu biển, người có yêu cầu bắt giữ tàu biển chưa thể chứng minh được khoản nợ của chủ tàu/người thuê tàu và bản án của Tòa án hoặc phán quyết trọng tài sau này không chấp nhận bất kỳ khiếu nại nào của người yêu cầu bắt giữ tàu biển có thể xảy ra. Trong trường hợp đó, người yêu cầu bắt giữ tàu biển thực tế đã xâm phạm quyền sở hữu (quyền sử dụng) tài sản của người khác và phải chịu toàn bộ hậu quả kinh tế phát sinh liên quan.

Thực tiễn áp dụng chế định bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển còn một số tồn tại, cụ thể:

Thứ nhất, hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ về giá trị bảo đảm tài chính mà bên yêu cầu bắt giữ tàu biển phải nộp. Về vấn đề này, nhiều chuyên gia lưu ý: “Trong thực tế, việc xác định số tiền để bảo đảm tài chính (Điều 43 Bộ luật Hàng hải năm 2005, Điều 5 Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008) gặp rất nhiều khó khăn do không có quy định cụ thể về việc xác định giá trị này”[17]. Mặt khác, theo Báo cáo của Ủy ban Pháp luật Quốc hội khóa XIII về tổng hợp ý kiến của các vị đại biểu quốc hội về Bộ luật Hàng hải (sửa đổi) năm 2015, nhiều ý kiến đề nghị quy định rõ về tiêu chí xác định tổn thất của việc bắt giữ tàu biển không đúng để tránh việc áp dụng tùy tiện. Tuy nhiên, vấn đề về việc xác định giá trị bảo đảm tài chính vẫn tiếp tục tồn tại sau khi ban hành Bộ luật Hàng hải năm 2015[18].

Theo một số quốc gia[19], giá trị bảo đảm tài chính thường được cân nhắc dựa trên những yếu tố sau: (i) Giá trị của khiếu nại hàng hải mà bên yêu cầu bắt giữ tàu biển đưa ra; (ii) Báo cáo giám định sơ bộ của giám định viên để xác định giá trị của khiếu nại hàng hải[20]; (iii) Giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu căn cứ theo giấy chứng nhận trọng tải tàu[21]; (iv) Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển[22]; (v) Giá trị thị trường của tàu. Hiện nay, thực tiễn áp dụng quy định về bảo đảm tài chính của các Tòa án nơi có cảng biển lớn và thường xuyên có những yêu cầu về bắt giữ tàu biển như Tòa án nhân dân TP. Quảng Ninh, Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân TP. Vũng Tàu,... cho thấy, thông thường Tòa án sẽ quyết định giá trị bảo đảm tài chính dựa theo giá thuê theo ngày của hợp đồng thuê tàu định hạn hoặc Hợp đồng thuê tàu trần. Căn cứ tính giá trị bảo đảm tài chính này là có cơ sở vì đối với loại hợp đồng thuê tàu trên, tiền thuê tàu được tính theo giá thuê tàu theo ngày, trong khi thời hạn bắt giữ tàu biển cũng được tính theo ngày và tối đa là 30 ngày.

Thứ hai, thực tiễn hoạt động hàng hải cho thấy phần lớn các trường hợp tàu biển được thả chỉ sau một khoảng thời gian ngắn kể từ khi có quyết định bắt giữ do các bên đạt được thỏa thuận về việc cung cấp thư bảo lãnh. Tuy nhiên, tại thời điểm ra quyết định thả tàu biển, theo quy định của pháp luật, Tòa án phải xem xét xử lý biện pháp bảo đảm tài chính được bên yêu cầu bắt giữ tàu biển cung cấp[23]. Ngoại trừ một số trường hợp đặc thù như có sai phạm rất rõ ràng về thủ tục trong việc ra quyết định bắt giữ tàu biển, vào thời điểm ra quyết định thả tàu biển, thẩm phán dường như không thể có căn cứ xem xét yêu cầu bắt giữ tàu biển đó là đúng hay không đúng do vấn đề tranh chấp dẫn đến khiếu nại làm phát sinh quyền bắt giữ tàu biển thuộc về phần nội dung tranh chấp và thường không thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam.

Do đó, thực tiễn các Tòa án Việt Nam thường trả lại bảo đảm tài chính cho bên yêu cầu bắt giữ tàu biển đồng thời với việc thả tàu biển[24]. Như vậy, mặc dù mục đích của bên yêu cầu bắt giữ tàu biển là thư bảo lãnh của bên chủ tàu/người thuê tàu cho khiếu nại hàng hải của họ đã đạt được, mục đích cung cấp bảo đảm tài chính để bảo vệ cho lợi ích của chủ tàu/người thuê tàu trong trường hợp bắt giữ tàu sai dường như không thể đạt được.

3. Một số kiến nghị gợi mở cho Việt Nam

Một là, pháp luật hàng hải Việt Nam cần quan tâm sửa đổi, bổ sung hướng dẫn về căn cứ, thủ tục xem xét yêu cầu bắt giữ tầu biển để Tòa án có thể xác định giá trị biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển trong từng trường hợp cụ thể.

Hai là, cần nghiên cứu pháp luật của nước Anh và Công ước Geneva năm 1999 để từng bước mở rộng thêm thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với việc giải quyết các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền bắt giữ tàu biển, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận ra Tòa án nước ngoài hoặc Trọng tài. Việc mở rộng thẩm quyền này là cần thiết để đảm bảo biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển có thể được giải quyết tranh chấp phát sinh từ khiếu nại hàng hải.

Ba là, Việt Nam cần sửa đổi quy định về thủ tục xem xét biện pháp bảo đảm tài chính hiện nay đang được quy định tại thời điểm có quyết định thả tàu biển, thành thời điểm sau khi có quyết định giải quyết tranh chấp phát sinh từ khiếu nại hàng hải để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ tàu/người thuê tàu trần trong trường hợp tàu biển bị bắt giữ không đúng.

Trần Trung Hiếu
Công ty Luật TNHH Tư vấn Độc lập

[1]. Aleka Mandaraka Sheppard, Modern Admiralty Law, 1st Edition, 2001, Cavendish Publishing Limited, tr. 74.

[2]. Giorgio Berlingieri (2020), Liability for Wrongful Arrest of Ships: the efforts towards possible uniform rules, Il Diritto Marittimo, tr. 1 - 2. Xem thêm Francesco Berlingieri (2011), Berlingieri on Arrest of Ships, 5th Edition, Informa, đoạn 1.01.

[3]. Xem: Comite Maritime International, The Travaux Préparatoires of the International Convention for the Unification of Certain Rules of Law with respect to Collision between Vessels 23 September 1910 and of the International Convention for the Unification of Certain Rules relating to the Arrest of Sea-going Ship, 10 May 1952, tr. 382 - 383.

[4]. Xem: Comite Maritime International, The Travaux Préparatoires of the International Convention for the Unification of Certain Rules of Law with respect to Collision between Vessels 23 September 1910 and of the International Convention for the Unification of Certain Rules relating to the Arrest of Sea-going Ship, 10 May 1952, tr. 385.

[5]. Xem: Comite Maritime International, The Travaux Préparatoires of the International Convention for the Unification of Certain Rules of Law with respect to Collision between Vessels 23 September 1910 and of the International Convention for the Unification of Certain Rules relating to the Arrest of Sea-going Ship, 10 May 1952, tr. 385 - 388. Xem Footnote 15, Giorgio Berlingieri (2020), Liability for Wrongful Arrest of Ships: the efforts towards possible uniform rules, Il Diritto Marittimo.

[6]. Điều 6 Công ước Geneva năm 1999. Xem Comite Maritime International, The Travaux Préparatoires of the International Convention for the Unification of Certain Rules of Law with respect to Collision between Vessels 23 September 1910 and of the International Convention for the Unification of Certain Rules relating to the Arrest of Sea-going Ship, 10 May 1952, tr. 253 - 255. Xem Giorgio Berlingieri (2020), Liability for Wrongful Arrest of Ships: the efforts towards possible uniform rules, Il Diritto Marittimo, tr. 7 - 8.

[7]. Đan Mạch tham gia ngày 2/5/1989, Thụy Điển tham gia ngày 30/4/1993, Na Uy tham gia ngày 01/11/1994, Phần Lan tham gia ngày 21/12/1995.

[8]. Điều 6 Công ước Geneva năm 1999.

[9]. Xem: Sir Benard Eder, Wrongful Arrest of Ships: A Time for Change, Tulane Maritime Law Journal, Vol. 38:115, tr.115 - tr136; Martin Davies, “Wrongful Arrest of Ships: A Time for Change” – A Reply to Sir Benard Eder, Tulane Maritime Law Journal, Vol. 38:137, tr. 137 - 142, Sir Benard Eder, Wrongful Arrest of Ships: Rejoinder by the Honourable Mr. Justice Eder, Tulane Maritime Law Journal, Vol. 38:143, tr. 143 - tr. 145.

[10]. Members of the Shiparrested.com Network, Ship Arrests in Practice, 11th Edition 2018, Shiparrested.com.

[11]. Xem: Điều 132: Biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển.

[12]. Cụ thể, Bộ luật Hàng hải năm 1990 “quy định Tòa án chỉ được bắt giữ tàu khi đã thụ lý vụ án. Điều này không thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân muốn bắt tàu (nhất là tàu nước ngoài) tại Việt Nam. Để ban hành được Lệnh bắt giữ tàu, Tòa án phải thụ lý vụ án mà như vậy cần có thời gian trong khi đó việc bắt giữ tàu đòi hỏi nhanh và bí mật. Qua tham khảo công ước quốc tế về bắt giữ tàu biển và luật hàng hải của hầu hết các nước thì việc bắt giũ tàu biển có thể được thực hiện trong cả trường hợp Tòa không cần phải thụ lý vụ án, mà chỉ cần nhận đơn yêu cầu bắt tàu của người khiếu nại. Ngoài ra, Bộ luật chưa quy định cơ quan nào sẽ ban hành trình tự, thủ tục bắt giữ tàu biển tại Việt Nam, điều mà hầu hết các nước đều có quy định.”

[13]. Xem Điều 34 Dự thảo Bộ luật Hàng hải năm 2005.

[14]. Dự thảo Bộ luật Hàng hải (sửa đổi).

[15]. Xem: Điều 43 Bộ luật Hàng hải năm 2005.

[16]. Trong Đề án nghiên cứu, đề xuất gia nhập Công ước quốc tế về bắt giữ tàu biển năm 1999 của Bộ Giao thông vận tải tháng 10/2013, trong quá trình đánh giá sự phù hợp giữa quy định của Công ước với quy định của pháp luật Việt Nam tại thời điểm năm 2013, Bộ Giao thông Vận tải đã nhận định rằng, quy định biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển quy định tại khoản 1 Điều 6 của Công ước được quy định cụ thể tại các khoản 1, khoản 2 Điều 5 Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008.

[17]. Hội thảo hoàn thiện báo cáo rà soát Bộ luật Hàng hải năm 2005 tại Hà Nội ngày 17/8/2011 do Bộ Giao thông vận tải chủ trì.

[18]. Xem: Tr. 4 mục 2.1 về biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển, tàu bay và xem thêm: Bàn về các quy định về bắt giữ tàu biển

[19]. Tham khảo Điều 5, Giải thích số 06 (2015) của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc về một số quy định liên quan đến áp dụng pháp luật trong giải quyết bắt giữ tàu biển và phát mãi tàu biển
[20]. Khi tổn thất xảy ra, ví dụ như, tổn thất hàng hóa, báo cáo giám định sẽ xác định giá trị tổn thất đó quy ra tiền, qua đó có thể được coi như một căn cứ để xác định bảo đảm tài chính khi so sánh với giá trị tổn thất hay giá trị của khiếu nại hàng hải.

[21]. Điều 299, 300, 301 Bộ luật Hàng hải năm 2015.

[22]. Điều 152 Bộ luật Hàng hải năm 2015.

[23]. Khoản 3 Điều 5 Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển.

[24]. Xem Quyết định số 02/2019/QĐ-TTBĐBGB của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: