Chủ nhật 25/10/2026 09:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ pháp lý của con người trong pháp luật và cơ chế thực thi

Trong lý luận cơ bản của pháp luật, quyền và nghĩa vụ là hai mặt của một vấn đề. Nếu con người có quyền được thụ hưởng thì cũng có nghĩa vụ phải thực hiện. Bài viết nghiên cứu về nghĩa vụ con người và cơ chế thực thi nghĩa vụ của con người để tạo sự cân bằng cho xã hội, tìm lại thăng bằng cho tâm lý đạo đức, dự trữ nguồn lực để xây dựng xã hội.



1. Về nghĩa vụ pháp lý của con người trong pháp luật

Nghĩa vụ pháp lý của con người là cách xử sự (việc, công việc, hành vi) do pháp luật quy định mà con người buộc phải thực hiện (phải làm hoặc không được làm), nhằm đem lại trật tự cho xã hội và nguồn lực cho quốc gia.

Nghĩa vụ pháp lý của con người có các điểm đặc thù cơ bản: (i) Được pháp luật (pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia) ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức. (ii) Có phạm vi tác động rộng lớn trong quốc gia, thậm chí vượt khỏi biên giới quốc gia (công dân đi ra nước ngoài vẫn phải tuân thủ pháp luật của quốc gia mà họ mang quốc tịch). Đối tượng tác động (chủ thể phải thực thi nghĩa vụ) của nghĩa vụ pháp lý thường là mọi người (cũng là công dân). Nghĩa vụ pháp lý do Nhà nước quy định trong pháp luật nên thường được phổ biến bằng hệ thống cơ quan nhà nước. (iii) Có tính ràng buộc cao vì được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế, là các biện pháp nghiêm khắc hơn so với các biện pháp xã hội khác. Nếu chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ pháp lý của con người thì có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý (giam giữ, phạt tiền, lao động công ích…).

Nghĩa vụ con người trong pháp luật có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau, theo Hiến pháp và các bộ luật bao gồm các lĩnh vực của đời sống xã hội như nghĩa vụ kinh tế, nghĩa vụ chính trị, nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ văn hóa, nghĩa vụ xã hội, nghĩa vụ môi trường…, hoặc chia thành nghĩa vụ cơ bản (bảo vệ Tổ quốc, đóng thuế, bảo vệ môi trường…) và nghĩa vụ chi tiết (xe đi đúng làn đường, đúng tốc độ…), hoặc theo phạm vi thì chia thành nghĩa vụ trong pháp luật quốc tế và trong pháp luật quốc gia...

2. Mục đích, ý nghĩa của việc quy định nghĩa vụ con người trong pháp luật

Thứ nhất, khẳng định tầm quan trọng và tính phổ quát của nghĩa vụ con người

Pháp luật luôn được công khai với mọi đối tượng, có khả năng tác động đến mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội, có khả năng tác động đến mọi vùng miền lãnh thổ trong phạm vi quản lý của chính quyền. Không những thế, khi nghĩa vụ con người được quy định trong các văn kiện quốc tế thì phạm vi tác động của nó còn mở rộng ra khỏi biên giới của một quốc gia, thậm chí là ảnh hưởng toàn cầu nếu có nhiều quốc gia tham gia ký kết. Vì vậy, việc quy định nghĩa vụ con người trong pháp luật là sự xác lập vị thế quan trọng và tính phổ quát của nghĩa vụ con người trong đời sống xã hội, khác với những nghĩa vụ con người chỉ tồn tại trong phong tục tập quán địa phương hay ý thức đạo đức cá nhân.

Thứ hai, tăng tính ràng buộc trong việc thực thi nghĩa vụ con người

Pháp luật mang tính bắt buộc đối với mọi cá nhân, được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau như tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế… trong đó, quan trọng nhất là biện pháp cưỡng chế nhà nước. Ở bất kỳ xã hội nào cũng tồn tại một bộ phận không nhỏ các cá nhân thiếu ý thức tự giác, không chịu chấp hành pháp luật. Đối với những đối tượng đó, các biện pháp như tuyên truyền, giáo dục không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng. Nhà nước cần phải dùng biện pháp cưỡng chế của pháp luật mới có thể thiết lập được trật tự ổn định xã hội. Pháp luật có được sức mạnh này chính là nhờ sức mạnh của Nhà nước, sức mạnh của bộ máy chuyên nghiệp, chuyên môn làm nhiệm vụ cưỡng chế. Khi nghĩa vụ con người được quy định trong pháp luật, các cá nhân phải chấp hành nghiêm chỉnh, không phụ thuộc vào ý chí của họ có muốn hay không. Điều này cũng góp phần tạo ra sự công bằng và bình đẳng trong việc thực thi nghĩa vụ của các cá nhân.

Thứ ba, nâng cao ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của cá nhân đối với cộng đồng

Khi pháp luật được ban hành một cách công khai và rộng rãi, bắt buộc các cá nhân trong xã hội phải “nắm bắt” được chúng. Với vai trò định hướng tư tưởng và hành vi của con người, pháp luật buộc các cá nhân phải hình thành thói quen suy nghĩ và hành động hợp pháp, tuân thủ, tôn trọng pháp luật. Việc quy định nghĩa vụ con người trong pháp luật sẽ góp phần nâng cao ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối với cộng đồng. Thông qua các quy định của pháp luật, các cá nhân sẽ biết chính xác và cụ thể những hành vi nào buộc phải thực hiện, hành vi nào bị cấm thực hiện để hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của mình. Từ đó, các cá nhân có cơ sở để lựa chọn và thực hiện hành vi một cách phù hợp.

Thứ tư, tạo điều kiện cho mỗi người phát huy năng lực cá nhân, từ đó khẳng định giá trị bản thân thông qua nghĩa vụ con người

Việc nghĩa vụ con người được quy định trong pháp luật một cách rõ ràng, cụ thể sẽ tạo nên cơ chế thúc đẩy các cá nhân phát huy năng lực của mình trong lao động, sản xuất. Nhà nước và cộng đồng sẽ có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cá nhân thực hiện tốt nhất nghĩa vụ của mình. Chính việc thực thi nghĩa vụ làm cho con người có giá trị giữa cuộc đời. Xã hội phát triển là nhờ có nhiều cá nhân cống hiến nhiều hơn thụ hưởng. Trong cộng đồng, rất nhiều cá nhân sẵn sàng cống hiến thực thi nghĩa vụ vượt hơn yêu cầu của pháp luật. Đơn cử trong lĩnh vực môi trường, không chỉ thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nhiều cá nhân còn tự nguyện tham gia vào các hoạt động cải tạo môi trường như thu gom, tái chế rác thải, trồng cây gây rừng... Chính sự cống hiến này đã làm cho phẩm giá của bản thân họ được nâng cao.

Thứ năm, tạo nên sự cân bằng trong nhận thức giữa quyền con người và nghĩa vụ con người

Việc quy định nghĩa vụ con người trong pháp luật còn có ý nghĩa to lớn nhằm tạo nên sự cân bằng giữa quyền con người và nghĩa vụ con người trong nhận thức của mỗi cá nhân và nhận thức chung của cộng đồng. Pháp luật bảo vệ quyền con người, tạo điều kiện để các cá nhân thụ hưởng quyền con người. Đồng thời, pháp luật cũng phải quy định việc thực thi các nghĩa vụ con người một cách cụ thể nhằm tránh tạo ra nhận thức thiên lệch về quyền con người trong mối tương quan với nghĩa vụ con người. Nhận thức thiên lệch đó có thể gây ra nhiều hệ lụy trong xã hội khi con người chú tâm đòi hỏi quyền nhiều mà lãng quên nghĩa vụ của chính mình. Nhà nước chỉ đóng vai trò là chủ thể điều phối giữa quyền con người và nghĩa vụ con người. Nhà nước không tự mình cung cấp các quyền con người hay tự đặt ra các nghĩa vụ cho con người. Các cá nhân muốn được hưởng nhiều quyền thì buộc phải thực thi nhiều nghĩa vụ để tạo nên nguồn lực dồi dào cho xã hội. Nhà nước chỉ đóng vai trò trung gian điều phối nguồn lực này, chuyển hóa nguồn lực này thành quyền lợi cho các cá nhân, cho cộng đồng.

3. Cơ chế bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật

Cơ chế bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật thường được chia thành hai nhóm là cơ chế pháp lý (cơ chế nhà nước) và cơ chế xã hội. Hai cơ chế này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau để việc thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật được chính xác và hiệu quả.

3.1. Cơ chế pháp lý

Cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật được hiểu là cách sắp xếp, tổ chức hoạt động của các thiết chế do Nhà nước thiết lập nhằm xác lập và bảo đảm cho các cá nhân thực thi nghĩa vụ con người một cách đầy đủ theo quy định của pháp luật. Cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người có cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật về nghĩa vụ con người, kể cả những điều ước quốc tế liên quan tới nghĩa vụ con người mà Nhà nước ký kết, tham gia (nội luật hóa).

Trong các cơ chế bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người thì cơ chế pháp lý được xem là hiệu quả hơn cả. Tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thực thi nghĩa vụ con người đều phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ con người. Theo tinh thần của pháp luật, từng nghĩa vụ dù nhỏ hay lớn đều cần phải có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể, tránh nói chung chung trừu tượng, để giúp cho việc thực thi được dễ dàng, hiệu quả. Vì thế, khi quy định nghĩa vụ con người, các nhà làm luật phải nghiên cứu, bảo đảm toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật luật đó là nhất quán, không mâu thuẫn, bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau, để khi thực thi một nghĩa vụ này có thể có thêm cơ sở để thực thi nghĩa vụ khác.

Mỗi quốc gia tùy theo các giai đoạn phát triển khác nhau của mình, phù hợp với điều kiện phát triển sẽ xây dựng các cơ chế pháp lý đặc thù trong việc bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người. Cơ chế pháp lý đó sẽ liên quan đến các cơ quan xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về nghĩa vụ con người.

3.2. Cơ chế xã hội

Bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật bằng cơ chế pháp lý (cơ chế nhà nước) là chủ yếu. Tuy nhiên, bên cạnh cơ chế pháp lý, một số cơ chế xã hội khác cũng có vai trò quan trọng để hỗ trợ việc thực thi nghĩa vụ con người như cơ chế đạo đức, cơ chế tín điều tôn giáo, cơ chế quy định của tổ chức không phải nhà nước, cơ chế giáo dục gia đình... Cơ chế xã hội chỉ có tính chất hỗ trợ cho cơ chế pháp lý trong việc bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người chứ không đủ mạnh như cơ chế pháp lý.

- Cơ chế đạo đức: Để nghĩa vụ con người được thực thi đầy đủ, ai cũng cần phải được hiểu rất rõ về mối tương quan giữa quyền và nghĩa vụ. Thực tế đã chứng minh, dù có quy định chặt chẽ đến đâu, pháp luật vẫn có thể tồn tại những “kẽ hở”. Nếu chưa đủ đạo đức và nhận thức, con người sẽ có khuynh hướng lợi dụng các kẽ hở này để trốn tránh việc thực thi nghĩa vụ. Ngược lại, nếu có nhận thức đúng đắn và phẩm chất đạo đức tốt đẹp, mỗi cá nhân sẽ hình thành ý thức tự giác, tự nguyện để hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình, thậm chí thực thi vượt hơn yêu cầu của pháp luật và xã hội.

- Cơ chế tôn giáo: Trong suốt lịch sử phát triển của xã hội loài người, vai trò của tôn giáo tác động đến đời sống của xã hội loài người luôn được khẳng định. Tín điều tôn giáo luôn là một yếu tố quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người song song với pháp luật (ở các nước Hồi giáo, pháp luật lệ thuộc vào tín điều tôn giáo). Trách nhiệm của tín đồ trong các tôn giáo (cả tu sĩ và tín đồ tại gia) cũng có sự tương thích với nghĩa vụ của con người trong pháp luật. Điều lệ tôn giáo nên quy định một số nghĩa vụ của tín đồ tương tự như nghĩa vụ con người trong pháp luật bao gồm: Nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ yêu nước, nghĩa vụ bảo vệ hòa bình thế giới, nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người khác đạo, nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nghĩa vụ đóng góp cho cộng đồng, những hoạt động thiện nguyện, trách nhiệm tu dưỡng đạo đức... Khi tham gia một tôn giáo, tín đồ sẽ được hướng dẫn các nội quy đặc thù của tôn giáo đó, sẽ được giảng dạy về trách nhiệm (nghĩa vụ) đối với tôn giáo và đối với cộng đồng của mình. Những nội quy đó sẽ giúp cho các thành viên mới tìm thấy sự hòa nhập trong môi trường sinh hoạt tôn giáo của mình và cũng không trở thành xa cách với cộng đồng bên ngoài. Những sự thực thi nghĩa vụ chính đáng như thế sẽ giúp cho uy tín của tôn giáo được tăng lên và đóng góp cho sự thịnh vượng của cộng đồng.

- Cơ chế quy định của tổ chức không phải nhà nước: Quy định của các tổ chức không phải nhà nước là tổng thể các nội quy, điều lệ, quy tắc xử sự… do các tổ chức đặt ra để điều chỉnh những quan hệ xã hội trong nội bộ của những tổ chức đó. Nghĩa vụ của các thành viên được quy định rõ ràng và mang tính chất bắt buộc thực hiện. Một số nghĩa vụ là sự cụ thể hóa nghĩa vụ con người trong pháp luật vào trong môi trường của từng tổ chức khác nhau. Các tổ chức cũng thiết lập các cơ chế giám sát việc thực thi nghĩa vụ, thiết lập nguyên tắc phân cấp, phân quyền, các thành viên giám sát chéo và trình báo sai phạm của nhau lên cấp trên. Những tổ chức có quy mô lớn thường sẽ có bộ phận chuyên trách việc này. Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật như hệ thống camera giám sát, phần mềm trí tuệ nhân tạo để phát hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ; áp dụng các hình thức khen thưởng - kỷ luật, trách nhiệm bồi thường luôn là một phần không thể thiếu trong cơ chế quy định của tổ chức. Quy định của các tổ chức là cầu nối đưa nghĩa vụ con người trong pháp luật vào cuộc sống, tạo điều kiện cho việc thực thi nghĩa vụ con người được tốt hơn, nhất là những lĩnh vực, phạm vi mà pháp luật không điều chỉnh. Các biện pháp kỷ luật mà quy định của các tổ chức đặt ra đối với việc vi phạm nghĩa vụ của các thành viên cũng chính là sự bổ sung quan trọng cho các chế tài của pháp luật về nghĩa vụ con người.

Xã hội ngày càng phát triển, quyền con người càng được coi trọng và đề cao thì nghĩa vụ con người, nghĩa vụ công dân càng cần được quan tâm đúng mức và đảm bảo cân bằng với nhận thức về quyền. Ở góc độ pháp lý, việc quy định của Nhà nước về quyền và cơ chế thực thi nghĩa vụ để đảm bảo con người nhận thức và thực hiện đúng và ở cấp độ cao hơn là có tinh thần cống hiến, phụng sự cho xã hội. Điều đó sẽ làm gia tăng các giá trị nhân văn của con người trong một xã hội phát triển ngày càng văn minh, giảm thiểu gánh nặng xã hội, tránh cạn kiệt nguồn lực chung của vũ trụ và xã hội. Để đạt được mục đích trên, cần vận dụng hiệu quả các cơ chế thực thi nghĩa vụ, phát huy vai trò của các cơ chế ngoài nhà nước.

Vương Tấn Việt
NCS. Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: