Thứ năm 21/05/2026 22:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ pháp lý của con người trong pháp luật và cơ chế thực thi

Trong lý luận cơ bản của pháp luật, quyền và nghĩa vụ là hai mặt của một vấn đề. Nếu con người có quyền được thụ hưởng thì cũng có nghĩa vụ phải thực hiện. Bài viết nghiên cứu về nghĩa vụ con người và cơ chế thực thi nghĩa vụ của con người để tạo sự cân bằng cho xã hội, tìm lại thăng bằng cho tâm lý đạo đức, dự trữ nguồn lực để xây dựng xã hội.



1. Về nghĩa vụ pháp lý của con người trong pháp luật

Nghĩa vụ pháp lý của con người là cách xử sự (việc, công việc, hành vi) do pháp luật quy định mà con người buộc phải thực hiện (phải làm hoặc không được làm), nhằm đem lại trật tự cho xã hội và nguồn lực cho quốc gia.

Nghĩa vụ pháp lý của con người có các điểm đặc thù cơ bản: (i) Được pháp luật (pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia) ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức. (ii) Có phạm vi tác động rộng lớn trong quốc gia, thậm chí vượt khỏi biên giới quốc gia (công dân đi ra nước ngoài vẫn phải tuân thủ pháp luật của quốc gia mà họ mang quốc tịch). Đối tượng tác động (chủ thể phải thực thi nghĩa vụ) của nghĩa vụ pháp lý thường là mọi người (cũng là công dân). Nghĩa vụ pháp lý do Nhà nước quy định trong pháp luật nên thường được phổ biến bằng hệ thống cơ quan nhà nước. (iii) Có tính ràng buộc cao vì được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế, là các biện pháp nghiêm khắc hơn so với các biện pháp xã hội khác. Nếu chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ pháp lý của con người thì có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý (giam giữ, phạt tiền, lao động công ích…).

Nghĩa vụ con người trong pháp luật có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau, theo Hiến pháp và các bộ luật bao gồm các lĩnh vực của đời sống xã hội như nghĩa vụ kinh tế, nghĩa vụ chính trị, nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ văn hóa, nghĩa vụ xã hội, nghĩa vụ môi trường…, hoặc chia thành nghĩa vụ cơ bản (bảo vệ Tổ quốc, đóng thuế, bảo vệ môi trường…) và nghĩa vụ chi tiết (xe đi đúng làn đường, đúng tốc độ…), hoặc theo phạm vi thì chia thành nghĩa vụ trong pháp luật quốc tế và trong pháp luật quốc gia...

2. Mục đích, ý nghĩa của việc quy định nghĩa vụ con người trong pháp luật

Thứ nhất, khẳng định tầm quan trọng và tính phổ quát của nghĩa vụ con người

Pháp luật luôn được công khai với mọi đối tượng, có khả năng tác động đến mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội, có khả năng tác động đến mọi vùng miền lãnh thổ trong phạm vi quản lý của chính quyền. Không những thế, khi nghĩa vụ con người được quy định trong các văn kiện quốc tế thì phạm vi tác động của nó còn mở rộng ra khỏi biên giới của một quốc gia, thậm chí là ảnh hưởng toàn cầu nếu có nhiều quốc gia tham gia ký kết. Vì vậy, việc quy định nghĩa vụ con người trong pháp luật là sự xác lập vị thế quan trọng và tính phổ quát của nghĩa vụ con người trong đời sống xã hội, khác với những nghĩa vụ con người chỉ tồn tại trong phong tục tập quán địa phương hay ý thức đạo đức cá nhân.

Thứ hai, tăng tính ràng buộc trong việc thực thi nghĩa vụ con người

Pháp luật mang tính bắt buộc đối với mọi cá nhân, được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau như tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế… trong đó, quan trọng nhất là biện pháp cưỡng chế nhà nước. Ở bất kỳ xã hội nào cũng tồn tại một bộ phận không nhỏ các cá nhân thiếu ý thức tự giác, không chịu chấp hành pháp luật. Đối với những đối tượng đó, các biện pháp như tuyên truyền, giáo dục không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng. Nhà nước cần phải dùng biện pháp cưỡng chế của pháp luật mới có thể thiết lập được trật tự ổn định xã hội. Pháp luật có được sức mạnh này chính là nhờ sức mạnh của Nhà nước, sức mạnh của bộ máy chuyên nghiệp, chuyên môn làm nhiệm vụ cưỡng chế. Khi nghĩa vụ con người được quy định trong pháp luật, các cá nhân phải chấp hành nghiêm chỉnh, không phụ thuộc vào ý chí của họ có muốn hay không. Điều này cũng góp phần tạo ra sự công bằng và bình đẳng trong việc thực thi nghĩa vụ của các cá nhân.

Thứ ba, nâng cao ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của cá nhân đối với cộng đồng

Khi pháp luật được ban hành một cách công khai và rộng rãi, bắt buộc các cá nhân trong xã hội phải “nắm bắt” được chúng. Với vai trò định hướng tư tưởng và hành vi của con người, pháp luật buộc các cá nhân phải hình thành thói quen suy nghĩ và hành động hợp pháp, tuân thủ, tôn trọng pháp luật. Việc quy định nghĩa vụ con người trong pháp luật sẽ góp phần nâng cao ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối với cộng đồng. Thông qua các quy định của pháp luật, các cá nhân sẽ biết chính xác và cụ thể những hành vi nào buộc phải thực hiện, hành vi nào bị cấm thực hiện để hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của mình. Từ đó, các cá nhân có cơ sở để lựa chọn và thực hiện hành vi một cách phù hợp.

Thứ tư, tạo điều kiện cho mỗi người phát huy năng lực cá nhân, từ đó khẳng định giá trị bản thân thông qua nghĩa vụ con người

Việc nghĩa vụ con người được quy định trong pháp luật một cách rõ ràng, cụ thể sẽ tạo nên cơ chế thúc đẩy các cá nhân phát huy năng lực của mình trong lao động, sản xuất. Nhà nước và cộng đồng sẽ có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cá nhân thực hiện tốt nhất nghĩa vụ của mình. Chính việc thực thi nghĩa vụ làm cho con người có giá trị giữa cuộc đời. Xã hội phát triển là nhờ có nhiều cá nhân cống hiến nhiều hơn thụ hưởng. Trong cộng đồng, rất nhiều cá nhân sẵn sàng cống hiến thực thi nghĩa vụ vượt hơn yêu cầu của pháp luật. Đơn cử trong lĩnh vực môi trường, không chỉ thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nhiều cá nhân còn tự nguyện tham gia vào các hoạt động cải tạo môi trường như thu gom, tái chế rác thải, trồng cây gây rừng... Chính sự cống hiến này đã làm cho phẩm giá của bản thân họ được nâng cao.

Thứ năm, tạo nên sự cân bằng trong nhận thức giữa quyền con người và nghĩa vụ con người

Việc quy định nghĩa vụ con người trong pháp luật còn có ý nghĩa to lớn nhằm tạo nên sự cân bằng giữa quyền con người và nghĩa vụ con người trong nhận thức của mỗi cá nhân và nhận thức chung của cộng đồng. Pháp luật bảo vệ quyền con người, tạo điều kiện để các cá nhân thụ hưởng quyền con người. Đồng thời, pháp luật cũng phải quy định việc thực thi các nghĩa vụ con người một cách cụ thể nhằm tránh tạo ra nhận thức thiên lệch về quyền con người trong mối tương quan với nghĩa vụ con người. Nhận thức thiên lệch đó có thể gây ra nhiều hệ lụy trong xã hội khi con người chú tâm đòi hỏi quyền nhiều mà lãng quên nghĩa vụ của chính mình. Nhà nước chỉ đóng vai trò là chủ thể điều phối giữa quyền con người và nghĩa vụ con người. Nhà nước không tự mình cung cấp các quyền con người hay tự đặt ra các nghĩa vụ cho con người. Các cá nhân muốn được hưởng nhiều quyền thì buộc phải thực thi nhiều nghĩa vụ để tạo nên nguồn lực dồi dào cho xã hội. Nhà nước chỉ đóng vai trò trung gian điều phối nguồn lực này, chuyển hóa nguồn lực này thành quyền lợi cho các cá nhân, cho cộng đồng.

3. Cơ chế bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật

Cơ chế bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật thường được chia thành hai nhóm là cơ chế pháp lý (cơ chế nhà nước) và cơ chế xã hội. Hai cơ chế này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau để việc thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật được chính xác và hiệu quả.

3.1. Cơ chế pháp lý

Cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật được hiểu là cách sắp xếp, tổ chức hoạt động của các thiết chế do Nhà nước thiết lập nhằm xác lập và bảo đảm cho các cá nhân thực thi nghĩa vụ con người một cách đầy đủ theo quy định của pháp luật. Cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người có cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật về nghĩa vụ con người, kể cả những điều ước quốc tế liên quan tới nghĩa vụ con người mà Nhà nước ký kết, tham gia (nội luật hóa).

Trong các cơ chế bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người thì cơ chế pháp lý được xem là hiệu quả hơn cả. Tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thực thi nghĩa vụ con người đều phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ con người. Theo tinh thần của pháp luật, từng nghĩa vụ dù nhỏ hay lớn đều cần phải có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể, tránh nói chung chung trừu tượng, để giúp cho việc thực thi được dễ dàng, hiệu quả. Vì thế, khi quy định nghĩa vụ con người, các nhà làm luật phải nghiên cứu, bảo đảm toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật luật đó là nhất quán, không mâu thuẫn, bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau, để khi thực thi một nghĩa vụ này có thể có thêm cơ sở để thực thi nghĩa vụ khác.

Mỗi quốc gia tùy theo các giai đoạn phát triển khác nhau của mình, phù hợp với điều kiện phát triển sẽ xây dựng các cơ chế pháp lý đặc thù trong việc bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người. Cơ chế pháp lý đó sẽ liên quan đến các cơ quan xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về nghĩa vụ con người.

3.2. Cơ chế xã hội

Bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người trong pháp luật bằng cơ chế pháp lý (cơ chế nhà nước) là chủ yếu. Tuy nhiên, bên cạnh cơ chế pháp lý, một số cơ chế xã hội khác cũng có vai trò quan trọng để hỗ trợ việc thực thi nghĩa vụ con người như cơ chế đạo đức, cơ chế tín điều tôn giáo, cơ chế quy định của tổ chức không phải nhà nước, cơ chế giáo dục gia đình... Cơ chế xã hội chỉ có tính chất hỗ trợ cho cơ chế pháp lý trong việc bảo đảm thực thi nghĩa vụ con người chứ không đủ mạnh như cơ chế pháp lý.

- Cơ chế đạo đức: Để nghĩa vụ con người được thực thi đầy đủ, ai cũng cần phải được hiểu rất rõ về mối tương quan giữa quyền và nghĩa vụ. Thực tế đã chứng minh, dù có quy định chặt chẽ đến đâu, pháp luật vẫn có thể tồn tại những “kẽ hở”. Nếu chưa đủ đạo đức và nhận thức, con người sẽ có khuynh hướng lợi dụng các kẽ hở này để trốn tránh việc thực thi nghĩa vụ. Ngược lại, nếu có nhận thức đúng đắn và phẩm chất đạo đức tốt đẹp, mỗi cá nhân sẽ hình thành ý thức tự giác, tự nguyện để hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình, thậm chí thực thi vượt hơn yêu cầu của pháp luật và xã hội.

- Cơ chế tôn giáo: Trong suốt lịch sử phát triển của xã hội loài người, vai trò của tôn giáo tác động đến đời sống của xã hội loài người luôn được khẳng định. Tín điều tôn giáo luôn là một yếu tố quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người song song với pháp luật (ở các nước Hồi giáo, pháp luật lệ thuộc vào tín điều tôn giáo). Trách nhiệm của tín đồ trong các tôn giáo (cả tu sĩ và tín đồ tại gia) cũng có sự tương thích với nghĩa vụ của con người trong pháp luật. Điều lệ tôn giáo nên quy định một số nghĩa vụ của tín đồ tương tự như nghĩa vụ con người trong pháp luật bao gồm: Nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ yêu nước, nghĩa vụ bảo vệ hòa bình thế giới, nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người khác đạo, nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nghĩa vụ đóng góp cho cộng đồng, những hoạt động thiện nguyện, trách nhiệm tu dưỡng đạo đức... Khi tham gia một tôn giáo, tín đồ sẽ được hướng dẫn các nội quy đặc thù của tôn giáo đó, sẽ được giảng dạy về trách nhiệm (nghĩa vụ) đối với tôn giáo và đối với cộng đồng của mình. Những nội quy đó sẽ giúp cho các thành viên mới tìm thấy sự hòa nhập trong môi trường sinh hoạt tôn giáo của mình và cũng không trở thành xa cách với cộng đồng bên ngoài. Những sự thực thi nghĩa vụ chính đáng như thế sẽ giúp cho uy tín của tôn giáo được tăng lên và đóng góp cho sự thịnh vượng của cộng đồng.

- Cơ chế quy định của tổ chức không phải nhà nước: Quy định của các tổ chức không phải nhà nước là tổng thể các nội quy, điều lệ, quy tắc xử sự… do các tổ chức đặt ra để điều chỉnh những quan hệ xã hội trong nội bộ của những tổ chức đó. Nghĩa vụ của các thành viên được quy định rõ ràng và mang tính chất bắt buộc thực hiện. Một số nghĩa vụ là sự cụ thể hóa nghĩa vụ con người trong pháp luật vào trong môi trường của từng tổ chức khác nhau. Các tổ chức cũng thiết lập các cơ chế giám sát việc thực thi nghĩa vụ, thiết lập nguyên tắc phân cấp, phân quyền, các thành viên giám sát chéo và trình báo sai phạm của nhau lên cấp trên. Những tổ chức có quy mô lớn thường sẽ có bộ phận chuyên trách việc này. Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật như hệ thống camera giám sát, phần mềm trí tuệ nhân tạo để phát hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ; áp dụng các hình thức khen thưởng - kỷ luật, trách nhiệm bồi thường luôn là một phần không thể thiếu trong cơ chế quy định của tổ chức. Quy định của các tổ chức là cầu nối đưa nghĩa vụ con người trong pháp luật vào cuộc sống, tạo điều kiện cho việc thực thi nghĩa vụ con người được tốt hơn, nhất là những lĩnh vực, phạm vi mà pháp luật không điều chỉnh. Các biện pháp kỷ luật mà quy định của các tổ chức đặt ra đối với việc vi phạm nghĩa vụ của các thành viên cũng chính là sự bổ sung quan trọng cho các chế tài của pháp luật về nghĩa vụ con người.

Xã hội ngày càng phát triển, quyền con người càng được coi trọng và đề cao thì nghĩa vụ con người, nghĩa vụ công dân càng cần được quan tâm đúng mức và đảm bảo cân bằng với nhận thức về quyền. Ở góc độ pháp lý, việc quy định của Nhà nước về quyền và cơ chế thực thi nghĩa vụ để đảm bảo con người nhận thức và thực hiện đúng và ở cấp độ cao hơn là có tinh thần cống hiến, phụng sự cho xã hội. Điều đó sẽ làm gia tăng các giá trị nhân văn của con người trong một xã hội phát triển ngày càng văn minh, giảm thiểu gánh nặng xã hội, tránh cạn kiệt nguồn lực chung của vũ trụ và xã hội. Để đạt được mục đích trên, cần vận dụng hiệu quả các cơ chế thực thi nghĩa vụ, phát huy vai trò của các cơ chế ngoài nhà nước.

Vương Tấn Việt
NCS. Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: