Thứ ba 10/03/2026 13:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghiên cứu thành lập cơ quan bảo vệ quyền con người tại Việt Nam – Kinh nghiệm từ Ấn Độ

Hiện nay, nước ta vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách về vấn đề thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Tại chu kỳ thứ hai năm 2014 kiểm điểm định kỳ phổ quát về tình hình thực hiện quyền con người của Việt Nam, có 16 khuyến nghị từ các nước về việc cân nhắc thành lập cơ quan quốc gia về quyền con người ở Việt Nam.

Thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2018, hiện nay các cơ quan có thẩm quyền đang nghiên cứu, xây dựng đề án về việc thành lập cơ quan quốc gia về quyền con người. Theo thống kê của Văn phòng Cao ủy của Liên Hợp quốc về quyền con người, ở cấp độ quốc gia, có nhiều mô hình cơ quan quyền con người khác nhau: Ủy ban Quốc gia về quyền con người (chiếm 50%), Thanh tra Quốc hội – Ombudsman (chiếm 30%), hỗn hợp (chiếm 5%) như thiết lập cơ quan chuyên trách về một vấn đề quyền con người cụ thể như phụ nữ, trẻ em (Hoa Kỳ)... và dưới dạng thức khác (chiếm 7%) như Viện Quyền con người (Đức, Đan Mạch), luật sư bảo vệ công dân (Albania)...[2]. Để có thêm góc nhìn về mô hình cơ quan quốc gia về quyền con người trong thực tiễn thi hành, bài viết này đưa ra một số vụ việc phát sinh trong thực tế, qua đó tìm hiểu về cơ chế thành lập, hoạt động của một trong số cơ quan quốc gia về quyền con người trên thế giới được thành lập theo mô hình Hội đồng. Ấn Độ được coi là một trong những quốc gia có bề dày lịch sử và tồn tại lâu đời nhất trên thế giới[3] và là một trong những quốc gia có nguồn văn bản lâu đời nhất giải quyết các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của người dân (Ấn Độ giáo)[4]. Vì vậy, việc tìm hiểu cơ chế bảo đảm quyền con người của Ấn Độ và thực tiễn thi hành thông qua một số vụ việc cụ thể sẽ cung cấp góc nhìn về mô hình cơ quan quốc gia về quyền con người theo hình thức Hội đồng để qua đó, nghiên cứu, xây dựng mô hình cơ quan bảo vệ quyền con người một cách phù hợp nhất ở Việt Nam.

1. Chức năng hướng dẫn để thực thi hiệu quả các quy định của Hiến pháp và pháp luật cho các cơ quan nhà nước

Theo vụ việc số 117/8/97-98[5] có nêu Hội đồng nhận được đơn của Shri Inder P. Choudhrie, một công dân New Delhi ngày 12/5/1997 khiếu nại về việc bị công an bắt giam do nghi có liên quan đến vụ án giết người và trong quá trình bị giam giữ 13 ngày tại Shimla, anh chịu sự tra tấn dưới nhiều hình thức. Bên cạnh việc bị giam giữ bất hợp tác, bị tra tấn, anh còn bị áp dụng biện pháp “phát hiện nói dối” và bị tiêm thuốc vào tĩnh mạch mà chưa có sự đồng ý của anh. Anh đã khiếu nại lên Tòa cấp cao của Himachal Pradesh và sau đó là Tòa án tối cao nhưng không thành công. Hội đồng quyền con người đã từ chối can thiệp vào vấn đề này. Tuy nhiên, Hội đồng nhận định việc áp dụng biện pháp phát hiện nói dối chưa được quy định bởi luật, vì vậy, Hội đồng cho rằng cần có hướng dẫn cho việc áp dụng biện pháp này. Sau khi xem xét cẩn thận, Hội đồng đã đưa ra một số hướng dẫn liên quan đến việc quản lý biện pháp phát hiện nói dối, gồm một số nội dung như: (i) Việc áp dụng biện pháp này phải được sự đồng thuận của bị cáo; (ii) Nếu bị cáo tự nguyện áp dụng biện pháp này thì phải cho phép bị cáo tiếp cận luật sư. Trách nhiệm của công an và luật sư là giải thích về tác động thể chất, tinh thần và pháp lý thông qua việc áp dụng biện pháp này đối với bị cáo; (iii) Sự đồng thuận của bị cáo phải được thực hiện trước một thẩm phán... Hướng dẫn này của Hội đồng đã được gửi đến Tổng thư ký của Nghị viện cũng như đến Hội đồng quyền con người ở các bang ngày 11/01/2000. Theo Điều 12 Luật Bảo vệ quyền con người 1993 của Ấn Độ thì Hội đồng quyền con người không chỉ có nghĩa vụ tìm hiểu, điều tra bất kỳ sự vi phạm quyền con người nào mà còn có nghĩa vụ rộng hơn trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người như: (i) Thanh tra việc tổ chức thi hành các quy định của luật đặc biệt tại các trại giam để nghiên cứu về điều kiện sống của người bị giam giữ và kiến nghị với Chính phủ về những biện pháp thực hiện; (ii) Rà soát các biện pháp bảo vệ quyền trong Hiến pháp hoặc các luật hiện hành và đề xuất các biện pháp để thi hành các quy định này có hiệu quả; (iii) Rà soát các yếu tố gây cản trở cho quyền con người, bao gồm các hành vi khủng bố và kiến nghị các biện pháp khắc phục phù hợp; (iv) Nghiên cứu các điều ước và các tài liệu quốc tế khác về quyền con người và đưa ra kiến nghị để thực hiện các quy định này hiệu quả hơn...

Thông qua vụ việc nêu trên, có thể nhận thấy, một trong những chức năng quan trọng của Hội đồng quyền con người là đưa ra hướng dẫn để thực thi hiệu quả các quy định của Hiến pháp và pháp luật cho các cơ quan nhà nước. Thực tiễn cho thấy, việc đưa ra hướng dẫn này giúp cơ quan nhà nước có liên quan “định hướng” và được “cầm tay chỉ việc” trong quá trình áp dụng các quy định chưa rõ hoặc chưa được quy định trong Hiến pháp và luật.

Tại Việt Nam, chức năng hướng dẫn để thực thi hiệu quả các quy định của Hiến pháp và pháp luật cho các cơ quan nhà nước được giao cho nhiều cơ quan thực hiện. Các cơ quan có chức năng ban hành văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết các quy định của Hiến pháp, bộ luật, luật... được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

2. Chức năng đưa ra khuyến nghị về mức bồi thường

Theo vụ việc số 2839/13/23/2015[6], một bệnh nhân nữ phải đối mặt với chấn thương tâm lý vì bị trả kết quả HIV sai do bệnh viện tại Quận Indapur Taluka của Pune trả. Người phụ nữ này đã khiếu nại lên Hội đồng quyền con người và sau khi quan sát, Hội đồng nhận định người phụ nữ này là nạn nhân của hành vi vô ý của nhân viên y tế. Do đó, Hội đồng đã khuyến nghị nhân viên y tế cần bồi thường cho cô số tiền là 1,00,000 rupee (khoảng $1.500). Hiện nay, Hội đồng vẫn đang giám sát việc bồi thường của nhân viên y tế cho nạn nhân[7]. Thông qua vụ việc nêu trên, có thể nhận định, một trong những chức năng, quyền hạn của Hội đồng là việc giải quyết khiếu nại của công dân và đưa ra khuyến nghị về mức bồi thường đối với người gây thiệt hại.

Tại Việt Nam, thông qua nguồn tin báo chí, có thể dễ dàng tìm thấy những vụ việc tương tự. Tiêu biểu là vụ ông Nguyễn Hữu Khánh (sinh năm 1963, ngụ tại 165A Đốc Bình Kiều, khu 2 thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) bị kết luận nhầm kết quả xét nghiệm HIV[8]... Tuy nhiên, chức năng khuyến nghị về mức bồi thường đối với các vụ việc chưa được giao cho một cơ quan nào cụ thể nào để thực hiện.

3. Chức năng theo dõi thông tin báo chí và nhận thông tin từ các cơ quan nhà nước khác

Theo vụ việc số 7841/30/4/2012[9], Hội đồng đã tiếp nhận từ một bài tạp chí đăng trên tờ “The Indian Express” ngày 05/12/2012 với nội dung bốn bệnh nhân đã tử vong vào ngày 04/12/2012 tại Trung tâm Chấn thương Sushuruta của Chính phủ Delhi ở phía bắc Delhi do máy thở oxi trong khu vực chăm sóc chuyên biệt bị ngắt trong 12 phút. Trước thông tin báo chí nêu, ngày 12/12/2012, Hội đồng đã có thông báo gửi Bộ trưởng Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình thuộc Chính phủ ở vùng Delhi để đề nghị báo cáo cụ thể vụ việc này trong thời hạn 02 tuần. Phúc đáp yêu cầu của Hội đồng, Phó Chánh văn phòng của Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình đã có văn bản thông báo về việc đã có hành động đề nghị xem xét trách nhiệm của bệnh viện và công ty cung cấp bình thở oxi thông qua việc thành lập đoàn điều tra về sự việc nêu trên, trưởng đoàn là Bộ trưởng Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng thành lập Ủy ban chuyên gia cao cấp dưới sự chủ trì của Cựu Trưởng bộ phận gây mê của Bệnh viện ở Lok Nayak và các thành viên là bác sỹ ở Bệnh viện GTB để làm rõ nội dung vụ việc. Sau quá trình điều tra, theo báo cáo của Phó Chánh văn phòng Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình ngày 14/8/2014, cho thấy, Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình ở vùng Delhi xác định trách nhiệm thuộc về Công ty TNHH Lắp đặt PES, khi đã không tuân thủ thủ tục, tiêu chuẩn hoạt động để bảo đảm dự phòng oxi cho các phòng trong trung tâm; đồng thời, báo cáo cũng ghi nhận trách nhiệm của người phụ trách quản lý thiết bị vì thiếu tinh thần trách nhiệm dẫn đến tử vong của các nạn nhân. Do đó, đã yêu cầu công ty và người phụ trách quản lý thiết bị bồi thường cho các nạn nhân nêu trên số tiền 2.000 Rs (khoảng $29.000) cho mỗi nạn nhân tử vong. Tuy nhiên, tính đến thời điểm 29/9/2014, Hội đồng chưa nhận được thông báo về việc đã thanh toán tiền bồi thường. Do đó, Hội đồng đã đề nghị Chính phủ ở vùng ở Delhi đôn đốc việc bồi thường và cung cấp bằng chứng về việc đã bồi thường cho nạn nhân trong thời hạn 06 tuần.

Qua vụ việc này có thể thấy, ngoài các chức năng như đã thấy trong vụ việc 1 và 2 thì Hội đồng không chỉ có chức năng theo dõi các vụ việc trên báo chí để kiến nghị, chuyển tiếp đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét, giải quyết mà Hội đồng còn có chức năng được nhận các thông báo về tình hình giải quyết vụ việc và báo cáo về kết quả bồi thường cho nạn nhân. Qua vụ việc cũng thấy rõ, Hội đồng không tham gia việc xem xét tính đúng sai của vụ án mà chỉ đóng vai trò “can thiệp”, giám sát, điều tra và kiến nghị. Hiện nay tại Việt Nam, qua thông tin báo chí, cũng cho thấy, cả nước đang theo sát vụ việc bệnh nhân tử vong trong quá trình chạy thận tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình, một vụ việc cũng có một số tình tiết tương tự như vụ việc tại Ấn Độ nêu trên.

Chức năng về việc theo dõi thông tin báo chí, nhận văn bản, báo cáo từ các vụ việc được quy định cụ thể trong từng lĩnh vực, trong từng chuyên ngành cụ thể mà chưa quy định một cơ quan có thẩm quyền chung, can thiệp vào tất cả các cơ quan nhà nước khác như chức năng của Hội đồng về quyền con người tại Ấn Độ và một số quốc gia trên thế giới.

4. Đề xuất tại Việt Nam

Một trong những đặc điểm của quyền con người là tính phổ quát, toàn cầu. Theo đó, xuất phát từ nhiều nguyên nhân mà hiện nay, vi phạm về quyền con người có thể diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, nhận diện và có định hướng để giải quyết, hạn chế việc để xảy ra các vi phạm là một trong những mục tiêu được hầu hết các quốc gia đặt ra. Điều này được thể hiện thông qua việc gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người của các quốc gia, bên cạnh đó là việc nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định mục tiêu phát triển lấy con người làm trung tâm. Theo đó, bên cạnh việc kế thừa các quy định còn phù hợp, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định cụ thể quyền con người tách biệt với quyền công dân. Để Nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của con người của công dân thì bên cạnh các giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật làm tiền đề cho việc bảo đảm phát triển quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện và nâng cao cơ chế kiểm tra, giám sát và tham gia của nhân dân vào việc quản lý của nhà nước... thì việc xây dựng và thành lập một cơ quan độc lập, chuyên trách - thiết chế để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là cần thiết. Hiện nay, chức năng bảo vệ và thúc đẩy quyền con người được giao cho nhiều cơ quan thực hiện, ví dụ: Chính phủ có vai trò xây dựng thể chế, quản lý các mặt của đời sống xã hội, phát hiện và xử lý vi phạm liên quan đến việc thực hiện các quyền cơ bản của con người[10]...; Tòa án bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử công bằng và công khai, khôi phục lại quyền và lợi ích của cá nhân tổ chức... mà chưa có cơ quan chuyên trách về vấn đề này. Vì vậy, từ điều kiện trong nước, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia, cơ quan chức năng có thẩm quyền có thể nghiên cứu thành lập cơ quan chuyên trách bảo về quyền con người tại Việt Nam. Dù cơ quan quốc gia về quyền con người được hình thành theo mô hình nào thì trong quá trình nghiên cứu, thành lập cũng cần đặt ra một số nguyên tắc của cơ quan quyền con người quốc gia như:

Thứ nhất, bảo đảm tính độc lập. Sự độc lập của cơ quan này sẽ có ý nghĩa quan trọng, một mặt tạo lòng tin của người dân, mặt khác, để giám sát, kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm quyền con người do các cơ quan, người thi hành công vụ gây ra.

Thứ hai, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả. Ngày 17/4/2015, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong số các giải pháp, có nội dung quy định từng cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế trong 07 năm (2015 - 2021) và từng năm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để tổ chức thực hiện. Do đó, trong tình hình tinh giản biên chế hiện nay, cần thiết phải nghiên cứu xây dựng mô hình cơ quan bảo đảm tinh gọn và hiệu quả, trên cơ sở thu gọn đầu mối các cơ quan có chức năng bảo vệ quyền con người hiện nay thành một cơ quan thống nhất và theo nguyên tắc nâng cấp và kiện toàn những cơ quan đó để hạn chế phát sinh biên chế, bộ máy.

Thứ ba, về tài chính, để hạn chế sự ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng của cơ quan này, nguồn tài chính chủ yếu cần được cấp một cách độc lập từ nguồn ngân sách nhà nước, có thể nghiên cứu huy động xã hội hóa từ nguồn của cá nhân, tổ chức.

Thứ tư, bảo đảm phản ứng nhanh, kịp thời trước những hành vi vi phạm về quyền con người. Việc phúc đáp này sẽ góp phần nâng cao vai trò, tạo dựng thêm uy tín của Nhà nước trước nhân dân. Mặt khác, tạo sức ép lên sự vận hành có hiệu quả và kịp thời hơn của các cơ quan nhà nước khi phát sinh hành vi vi phạm quyền con người./.

Trần Thị Thu Hằng

Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp


[1]http://thuviennhanquyen.vn/Monitoring/Paper/danh-sach-cac-khuyen-nghi-nam-2014.

[2] Survey on National Human rights Institution – Report on finding and recommendations of a quetionaire addressed to NHRI worldwide, 7/2009, page 9 – www.ohchr.org/Documents/Publications/PTS-4Rev1-NHRI_en.pdf.

[3]http://bkcs.online/nuoc-ngoai/kham-pha-10-quoc-gia-ton-tai-lau-doi-nhat-the-gioi.html.

[4]http://www.legalservicesindia.com/law-india/Human-Rights-law-in-India.htm.

[5]http://nhrc.nic.in/cases_99_00.htm#no22.

[6] Báo cáo tình hình về quyền con người Ấn Độ 2013, tr. 111.

[7] Báo cáo tình hình quyền con người Ấn Độ 2013, tr. 111.

[8]http://www.doisongphapluat.com/phap-luat/an-ninh-hinh-su/tranh-cai-vu-benh-vien-ket-luan-nham-bi-hiv-suot-gan-10-nam-a109017.html.

[9]http://nhrc.nic.in/Documents/AR/NHRC_AR_EN_2014-2015.pdf.

[10] Viện Khoa học pháp lý, Vai trò của Bộ Tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, Số 1 năm 2017, tr. 5,6.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: