Thứ bảy 02/05/2026 06:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghiên cứu thành lập cơ quan bảo vệ quyền con người tại Việt Nam – Kinh nghiệm từ Ấn Độ

Hiện nay, nước ta vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách về vấn đề thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Tại chu kỳ thứ hai năm 2014 kiểm điểm định kỳ phổ quát về tình hình thực hiện quyền con người của Việt Nam, có 16 khuyến nghị từ các nước về việc cân nhắc thành lập cơ quan quốc gia về quyền con người ở Việt Nam.

Thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2018, hiện nay các cơ quan có thẩm quyền đang nghiên cứu, xây dựng đề án về việc thành lập cơ quan quốc gia về quyền con người. Theo thống kê của Văn phòng Cao ủy của Liên Hợp quốc về quyền con người, ở cấp độ quốc gia, có nhiều mô hình cơ quan quyền con người khác nhau: Ủy ban Quốc gia về quyền con người (chiếm 50%), Thanh tra Quốc hội – Ombudsman (chiếm 30%), hỗn hợp (chiếm 5%) như thiết lập cơ quan chuyên trách về một vấn đề quyền con người cụ thể như phụ nữ, trẻ em (Hoa Kỳ)... và dưới dạng thức khác (chiếm 7%) như Viện Quyền con người (Đức, Đan Mạch), luật sư bảo vệ công dân (Albania)...[2]. Để có thêm góc nhìn về mô hình cơ quan quốc gia về quyền con người trong thực tiễn thi hành, bài viết này đưa ra một số vụ việc phát sinh trong thực tế, qua đó tìm hiểu về cơ chế thành lập, hoạt động của một trong số cơ quan quốc gia về quyền con người trên thế giới được thành lập theo mô hình Hội đồng. Ấn Độ được coi là một trong những quốc gia có bề dày lịch sử và tồn tại lâu đời nhất trên thế giới[3] và là một trong những quốc gia có nguồn văn bản lâu đời nhất giải quyết các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của người dân (Ấn Độ giáo)[4]. Vì vậy, việc tìm hiểu cơ chế bảo đảm quyền con người của Ấn Độ và thực tiễn thi hành thông qua một số vụ việc cụ thể sẽ cung cấp góc nhìn về mô hình cơ quan quốc gia về quyền con người theo hình thức Hội đồng để qua đó, nghiên cứu, xây dựng mô hình cơ quan bảo vệ quyền con người một cách phù hợp nhất ở Việt Nam.

1. Chức năng hướng dẫn để thực thi hiệu quả các quy định của Hiến pháp và pháp luật cho các cơ quan nhà nước

Theo vụ việc số 117/8/97-98[5] có nêu Hội đồng nhận được đơn của Shri Inder P. Choudhrie, một công dân New Delhi ngày 12/5/1997 khiếu nại về việc bị công an bắt giam do nghi có liên quan đến vụ án giết người và trong quá trình bị giam giữ 13 ngày tại Shimla, anh chịu sự tra tấn dưới nhiều hình thức. Bên cạnh việc bị giam giữ bất hợp tác, bị tra tấn, anh còn bị áp dụng biện pháp “phát hiện nói dối” và bị tiêm thuốc vào tĩnh mạch mà chưa có sự đồng ý của anh. Anh đã khiếu nại lên Tòa cấp cao của Himachal Pradesh và sau đó là Tòa án tối cao nhưng không thành công. Hội đồng quyền con người đã từ chối can thiệp vào vấn đề này. Tuy nhiên, Hội đồng nhận định việc áp dụng biện pháp phát hiện nói dối chưa được quy định bởi luật, vì vậy, Hội đồng cho rằng cần có hướng dẫn cho việc áp dụng biện pháp này. Sau khi xem xét cẩn thận, Hội đồng đã đưa ra một số hướng dẫn liên quan đến việc quản lý biện pháp phát hiện nói dối, gồm một số nội dung như: (i) Việc áp dụng biện pháp này phải được sự đồng thuận của bị cáo; (ii) Nếu bị cáo tự nguyện áp dụng biện pháp này thì phải cho phép bị cáo tiếp cận luật sư. Trách nhiệm của công an và luật sư là giải thích về tác động thể chất, tinh thần và pháp lý thông qua việc áp dụng biện pháp này đối với bị cáo; (iii) Sự đồng thuận của bị cáo phải được thực hiện trước một thẩm phán... Hướng dẫn này của Hội đồng đã được gửi đến Tổng thư ký của Nghị viện cũng như đến Hội đồng quyền con người ở các bang ngày 11/01/2000. Theo Điều 12 Luật Bảo vệ quyền con người 1993 của Ấn Độ thì Hội đồng quyền con người không chỉ có nghĩa vụ tìm hiểu, điều tra bất kỳ sự vi phạm quyền con người nào mà còn có nghĩa vụ rộng hơn trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người như: (i) Thanh tra việc tổ chức thi hành các quy định của luật đặc biệt tại các trại giam để nghiên cứu về điều kiện sống của người bị giam giữ và kiến nghị với Chính phủ về những biện pháp thực hiện; (ii) Rà soát các biện pháp bảo vệ quyền trong Hiến pháp hoặc các luật hiện hành và đề xuất các biện pháp để thi hành các quy định này có hiệu quả; (iii) Rà soát các yếu tố gây cản trở cho quyền con người, bao gồm các hành vi khủng bố và kiến nghị các biện pháp khắc phục phù hợp; (iv) Nghiên cứu các điều ước và các tài liệu quốc tế khác về quyền con người và đưa ra kiến nghị để thực hiện các quy định này hiệu quả hơn...

Thông qua vụ việc nêu trên, có thể nhận thấy, một trong những chức năng quan trọng của Hội đồng quyền con người là đưa ra hướng dẫn để thực thi hiệu quả các quy định của Hiến pháp và pháp luật cho các cơ quan nhà nước. Thực tiễn cho thấy, việc đưa ra hướng dẫn này giúp cơ quan nhà nước có liên quan “định hướng” và được “cầm tay chỉ việc” trong quá trình áp dụng các quy định chưa rõ hoặc chưa được quy định trong Hiến pháp và luật.

Tại Việt Nam, chức năng hướng dẫn để thực thi hiệu quả các quy định của Hiến pháp và pháp luật cho các cơ quan nhà nước được giao cho nhiều cơ quan thực hiện. Các cơ quan có chức năng ban hành văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết các quy định của Hiến pháp, bộ luật, luật... được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

2. Chức năng đưa ra khuyến nghị về mức bồi thường

Theo vụ việc số 2839/13/23/2015[6], một bệnh nhân nữ phải đối mặt với chấn thương tâm lý vì bị trả kết quả HIV sai do bệnh viện tại Quận Indapur Taluka của Pune trả. Người phụ nữ này đã khiếu nại lên Hội đồng quyền con người và sau khi quan sát, Hội đồng nhận định người phụ nữ này là nạn nhân của hành vi vô ý của nhân viên y tế. Do đó, Hội đồng đã khuyến nghị nhân viên y tế cần bồi thường cho cô số tiền là 1,00,000 rupee (khoảng $1.500). Hiện nay, Hội đồng vẫn đang giám sát việc bồi thường của nhân viên y tế cho nạn nhân[7]. Thông qua vụ việc nêu trên, có thể nhận định, một trong những chức năng, quyền hạn của Hội đồng là việc giải quyết khiếu nại của công dân và đưa ra khuyến nghị về mức bồi thường đối với người gây thiệt hại.

Tại Việt Nam, thông qua nguồn tin báo chí, có thể dễ dàng tìm thấy những vụ việc tương tự. Tiêu biểu là vụ ông Nguyễn Hữu Khánh (sinh năm 1963, ngụ tại 165A Đốc Bình Kiều, khu 2 thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) bị kết luận nhầm kết quả xét nghiệm HIV[8]... Tuy nhiên, chức năng khuyến nghị về mức bồi thường đối với các vụ việc chưa được giao cho một cơ quan nào cụ thể nào để thực hiện.

3. Chức năng theo dõi thông tin báo chí và nhận thông tin từ các cơ quan nhà nước khác

Theo vụ việc số 7841/30/4/2012[9], Hội đồng đã tiếp nhận từ một bài tạp chí đăng trên tờ “The Indian Express” ngày 05/12/2012 với nội dung bốn bệnh nhân đã tử vong vào ngày 04/12/2012 tại Trung tâm Chấn thương Sushuruta của Chính phủ Delhi ở phía bắc Delhi do máy thở oxi trong khu vực chăm sóc chuyên biệt bị ngắt trong 12 phút. Trước thông tin báo chí nêu, ngày 12/12/2012, Hội đồng đã có thông báo gửi Bộ trưởng Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình thuộc Chính phủ ở vùng Delhi để đề nghị báo cáo cụ thể vụ việc này trong thời hạn 02 tuần. Phúc đáp yêu cầu của Hội đồng, Phó Chánh văn phòng của Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình đã có văn bản thông báo về việc đã có hành động đề nghị xem xét trách nhiệm của bệnh viện và công ty cung cấp bình thở oxi thông qua việc thành lập đoàn điều tra về sự việc nêu trên, trưởng đoàn là Bộ trưởng Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng thành lập Ủy ban chuyên gia cao cấp dưới sự chủ trì của Cựu Trưởng bộ phận gây mê của Bệnh viện ở Lok Nayak và các thành viên là bác sỹ ở Bệnh viện GTB để làm rõ nội dung vụ việc. Sau quá trình điều tra, theo báo cáo của Phó Chánh văn phòng Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình ngày 14/8/2014, cho thấy, Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình ở vùng Delhi xác định trách nhiệm thuộc về Công ty TNHH Lắp đặt PES, khi đã không tuân thủ thủ tục, tiêu chuẩn hoạt động để bảo đảm dự phòng oxi cho các phòng trong trung tâm; đồng thời, báo cáo cũng ghi nhận trách nhiệm của người phụ trách quản lý thiết bị vì thiếu tinh thần trách nhiệm dẫn đến tử vong của các nạn nhân. Do đó, đã yêu cầu công ty và người phụ trách quản lý thiết bị bồi thường cho các nạn nhân nêu trên số tiền 2.000 Rs (khoảng $29.000) cho mỗi nạn nhân tử vong. Tuy nhiên, tính đến thời điểm 29/9/2014, Hội đồng chưa nhận được thông báo về việc đã thanh toán tiền bồi thường. Do đó, Hội đồng đã đề nghị Chính phủ ở vùng ở Delhi đôn đốc việc bồi thường và cung cấp bằng chứng về việc đã bồi thường cho nạn nhân trong thời hạn 06 tuần.

Qua vụ việc này có thể thấy, ngoài các chức năng như đã thấy trong vụ việc 1 và 2 thì Hội đồng không chỉ có chức năng theo dõi các vụ việc trên báo chí để kiến nghị, chuyển tiếp đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét, giải quyết mà Hội đồng còn có chức năng được nhận các thông báo về tình hình giải quyết vụ việc và báo cáo về kết quả bồi thường cho nạn nhân. Qua vụ việc cũng thấy rõ, Hội đồng không tham gia việc xem xét tính đúng sai của vụ án mà chỉ đóng vai trò “can thiệp”, giám sát, điều tra và kiến nghị. Hiện nay tại Việt Nam, qua thông tin báo chí, cũng cho thấy, cả nước đang theo sát vụ việc bệnh nhân tử vong trong quá trình chạy thận tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình, một vụ việc cũng có một số tình tiết tương tự như vụ việc tại Ấn Độ nêu trên.

Chức năng về việc theo dõi thông tin báo chí, nhận văn bản, báo cáo từ các vụ việc được quy định cụ thể trong từng lĩnh vực, trong từng chuyên ngành cụ thể mà chưa quy định một cơ quan có thẩm quyền chung, can thiệp vào tất cả các cơ quan nhà nước khác như chức năng của Hội đồng về quyền con người tại Ấn Độ và một số quốc gia trên thế giới.

4. Đề xuất tại Việt Nam

Một trong những đặc điểm của quyền con người là tính phổ quát, toàn cầu. Theo đó, xuất phát từ nhiều nguyên nhân mà hiện nay, vi phạm về quyền con người có thể diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, nhận diện và có định hướng để giải quyết, hạn chế việc để xảy ra các vi phạm là một trong những mục tiêu được hầu hết các quốc gia đặt ra. Điều này được thể hiện thông qua việc gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người của các quốc gia, bên cạnh đó là việc nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định mục tiêu phát triển lấy con người làm trung tâm. Theo đó, bên cạnh việc kế thừa các quy định còn phù hợp, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định cụ thể quyền con người tách biệt với quyền công dân. Để Nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của con người của công dân thì bên cạnh các giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật làm tiền đề cho việc bảo đảm phát triển quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện và nâng cao cơ chế kiểm tra, giám sát và tham gia của nhân dân vào việc quản lý của nhà nước... thì việc xây dựng và thành lập một cơ quan độc lập, chuyên trách - thiết chế để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là cần thiết. Hiện nay, chức năng bảo vệ và thúc đẩy quyền con người được giao cho nhiều cơ quan thực hiện, ví dụ: Chính phủ có vai trò xây dựng thể chế, quản lý các mặt của đời sống xã hội, phát hiện và xử lý vi phạm liên quan đến việc thực hiện các quyền cơ bản của con người[10]...; Tòa án bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử công bằng và công khai, khôi phục lại quyền và lợi ích của cá nhân tổ chức... mà chưa có cơ quan chuyên trách về vấn đề này. Vì vậy, từ điều kiện trong nước, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia, cơ quan chức năng có thẩm quyền có thể nghiên cứu thành lập cơ quan chuyên trách bảo về quyền con người tại Việt Nam. Dù cơ quan quốc gia về quyền con người được hình thành theo mô hình nào thì trong quá trình nghiên cứu, thành lập cũng cần đặt ra một số nguyên tắc của cơ quan quyền con người quốc gia như:

Thứ nhất, bảo đảm tính độc lập. Sự độc lập của cơ quan này sẽ có ý nghĩa quan trọng, một mặt tạo lòng tin của người dân, mặt khác, để giám sát, kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm quyền con người do các cơ quan, người thi hành công vụ gây ra.

Thứ hai, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả. Ngày 17/4/2015, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong số các giải pháp, có nội dung quy định từng cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế trong 07 năm (2015 - 2021) và từng năm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để tổ chức thực hiện. Do đó, trong tình hình tinh giản biên chế hiện nay, cần thiết phải nghiên cứu xây dựng mô hình cơ quan bảo đảm tinh gọn và hiệu quả, trên cơ sở thu gọn đầu mối các cơ quan có chức năng bảo vệ quyền con người hiện nay thành một cơ quan thống nhất và theo nguyên tắc nâng cấp và kiện toàn những cơ quan đó để hạn chế phát sinh biên chế, bộ máy.

Thứ ba, về tài chính, để hạn chế sự ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng của cơ quan này, nguồn tài chính chủ yếu cần được cấp một cách độc lập từ nguồn ngân sách nhà nước, có thể nghiên cứu huy động xã hội hóa từ nguồn của cá nhân, tổ chức.

Thứ tư, bảo đảm phản ứng nhanh, kịp thời trước những hành vi vi phạm về quyền con người. Việc phúc đáp này sẽ góp phần nâng cao vai trò, tạo dựng thêm uy tín của Nhà nước trước nhân dân. Mặt khác, tạo sức ép lên sự vận hành có hiệu quả và kịp thời hơn của các cơ quan nhà nước khi phát sinh hành vi vi phạm quyền con người./.

Trần Thị Thu Hằng

Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp


[1]http://thuviennhanquyen.vn/Monitoring/Paper/danh-sach-cac-khuyen-nghi-nam-2014.

[2] Survey on National Human rights Institution – Report on finding and recommendations of a quetionaire addressed to NHRI worldwide, 7/2009, page 9 – www.ohchr.org/Documents/Publications/PTS-4Rev1-NHRI_en.pdf.

[3]http://bkcs.online/nuoc-ngoai/kham-pha-10-quoc-gia-ton-tai-lau-doi-nhat-the-gioi.html.

[4]http://www.legalservicesindia.com/law-india/Human-Rights-law-in-India.htm.

[5]http://nhrc.nic.in/cases_99_00.htm#no22.

[6] Báo cáo tình hình về quyền con người Ấn Độ 2013, tr. 111.

[7] Báo cáo tình hình quyền con người Ấn Độ 2013, tr. 111.

[8]http://www.doisongphapluat.com/phap-luat/an-ninh-hinh-su/tranh-cai-vu-benh-vien-ket-luan-nham-bi-hiv-suot-gan-10-nam-a109017.html.

[9]http://nhrc.nic.in/Documents/AR/NHRC_AR_EN_2014-2015.pdf.

[10] Viện Khoa học pháp lý, Vai trò của Bộ Tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, Số 1 năm 2017, tr. 5,6.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: