Thứ ba 06/10/2026 06:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghiên cứu thành lập cơ quan bảo vệ quyền con người tại Việt Nam – Kinh nghiệm từ Ấn Độ

Hiện nay, nước ta vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách về vấn đề thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Tại chu kỳ thứ hai năm 2014 kiểm điểm định kỳ phổ quát về tình hình thực hiện quyền con người của Việt Nam, có 16 khuyến nghị từ các nước về việc cân nhắc thành lập cơ quan quốc gia về quyền con người ở Việt Nam.

Thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2018, hiện nay các cơ quan có thẩm quyền đang nghiên cứu, xây dựng đề án về việc thành lập cơ quan quốc gia về quyền con người. Theo thống kê của Văn phòng Cao ủy của Liên Hợp quốc về quyền con người, ở cấp độ quốc gia, có nhiều mô hình cơ quan quyền con người khác nhau: Ủy ban Quốc gia về quyền con người (chiếm 50%), Thanh tra Quốc hội – Ombudsman (chiếm 30%), hỗn hợp (chiếm 5%) như thiết lập cơ quan chuyên trách về một vấn đề quyền con người cụ thể như phụ nữ, trẻ em (Hoa Kỳ)... và dưới dạng thức khác (chiếm 7%) như Viện Quyền con người (Đức, Đan Mạch), luật sư bảo vệ công dân (Albania)...[2]. Để có thêm góc nhìn về mô hình cơ quan quốc gia về quyền con người trong thực tiễn thi hành, bài viết này đưa ra một số vụ việc phát sinh trong thực tế, qua đó tìm hiểu về cơ chế thành lập, hoạt động của một trong số cơ quan quốc gia về quyền con người trên thế giới được thành lập theo mô hình Hội đồng. Ấn Độ được coi là một trong những quốc gia có bề dày lịch sử và tồn tại lâu đời nhất trên thế giới[3] và là một trong những quốc gia có nguồn văn bản lâu đời nhất giải quyết các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của người dân (Ấn Độ giáo)[4]. Vì vậy, việc tìm hiểu cơ chế bảo đảm quyền con người của Ấn Độ và thực tiễn thi hành thông qua một số vụ việc cụ thể sẽ cung cấp góc nhìn về mô hình cơ quan quốc gia về quyền con người theo hình thức Hội đồng để qua đó, nghiên cứu, xây dựng mô hình cơ quan bảo vệ quyền con người một cách phù hợp nhất ở Việt Nam.

1. Chức năng hướng dẫn để thực thi hiệu quả các quy định của Hiến pháp và pháp luật cho các cơ quan nhà nước

Theo vụ việc số 117/8/97-98[5] có nêu Hội đồng nhận được đơn của Shri Inder P. Choudhrie, một công dân New Delhi ngày 12/5/1997 khiếu nại về việc bị công an bắt giam do nghi có liên quan đến vụ án giết người và trong quá trình bị giam giữ 13 ngày tại Shimla, anh chịu sự tra tấn dưới nhiều hình thức. Bên cạnh việc bị giam giữ bất hợp tác, bị tra tấn, anh còn bị áp dụng biện pháp “phát hiện nói dối” và bị tiêm thuốc vào tĩnh mạch mà chưa có sự đồng ý của anh. Anh đã khiếu nại lên Tòa cấp cao của Himachal Pradesh và sau đó là Tòa án tối cao nhưng không thành công. Hội đồng quyền con người đã từ chối can thiệp vào vấn đề này. Tuy nhiên, Hội đồng nhận định việc áp dụng biện pháp phát hiện nói dối chưa được quy định bởi luật, vì vậy, Hội đồng cho rằng cần có hướng dẫn cho việc áp dụng biện pháp này. Sau khi xem xét cẩn thận, Hội đồng đã đưa ra một số hướng dẫn liên quan đến việc quản lý biện pháp phát hiện nói dối, gồm một số nội dung như: (i) Việc áp dụng biện pháp này phải được sự đồng thuận của bị cáo; (ii) Nếu bị cáo tự nguyện áp dụng biện pháp này thì phải cho phép bị cáo tiếp cận luật sư. Trách nhiệm của công an và luật sư là giải thích về tác động thể chất, tinh thần và pháp lý thông qua việc áp dụng biện pháp này đối với bị cáo; (iii) Sự đồng thuận của bị cáo phải được thực hiện trước một thẩm phán... Hướng dẫn này của Hội đồng đã được gửi đến Tổng thư ký của Nghị viện cũng như đến Hội đồng quyền con người ở các bang ngày 11/01/2000. Theo Điều 12 Luật Bảo vệ quyền con người 1993 của Ấn Độ thì Hội đồng quyền con người không chỉ có nghĩa vụ tìm hiểu, điều tra bất kỳ sự vi phạm quyền con người nào mà còn có nghĩa vụ rộng hơn trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người như: (i) Thanh tra việc tổ chức thi hành các quy định của luật đặc biệt tại các trại giam để nghiên cứu về điều kiện sống của người bị giam giữ và kiến nghị với Chính phủ về những biện pháp thực hiện; (ii) Rà soát các biện pháp bảo vệ quyền trong Hiến pháp hoặc các luật hiện hành và đề xuất các biện pháp để thi hành các quy định này có hiệu quả; (iii) Rà soát các yếu tố gây cản trở cho quyền con người, bao gồm các hành vi khủng bố và kiến nghị các biện pháp khắc phục phù hợp; (iv) Nghiên cứu các điều ước và các tài liệu quốc tế khác về quyền con người và đưa ra kiến nghị để thực hiện các quy định này hiệu quả hơn...

Thông qua vụ việc nêu trên, có thể nhận thấy, một trong những chức năng quan trọng của Hội đồng quyền con người là đưa ra hướng dẫn để thực thi hiệu quả các quy định của Hiến pháp và pháp luật cho các cơ quan nhà nước. Thực tiễn cho thấy, việc đưa ra hướng dẫn này giúp cơ quan nhà nước có liên quan “định hướng” và được “cầm tay chỉ việc” trong quá trình áp dụng các quy định chưa rõ hoặc chưa được quy định trong Hiến pháp và luật.

Tại Việt Nam, chức năng hướng dẫn để thực thi hiệu quả các quy định của Hiến pháp và pháp luật cho các cơ quan nhà nước được giao cho nhiều cơ quan thực hiện. Các cơ quan có chức năng ban hành văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết các quy định của Hiến pháp, bộ luật, luật... được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

2. Chức năng đưa ra khuyến nghị về mức bồi thường

Theo vụ việc số 2839/13/23/2015[6], một bệnh nhân nữ phải đối mặt với chấn thương tâm lý vì bị trả kết quả HIV sai do bệnh viện tại Quận Indapur Taluka của Pune trả. Người phụ nữ này đã khiếu nại lên Hội đồng quyền con người và sau khi quan sát, Hội đồng nhận định người phụ nữ này là nạn nhân của hành vi vô ý của nhân viên y tế. Do đó, Hội đồng đã khuyến nghị nhân viên y tế cần bồi thường cho cô số tiền là 1,00,000 rupee (khoảng $1.500). Hiện nay, Hội đồng vẫn đang giám sát việc bồi thường của nhân viên y tế cho nạn nhân[7]. Thông qua vụ việc nêu trên, có thể nhận định, một trong những chức năng, quyền hạn của Hội đồng là việc giải quyết khiếu nại của công dân và đưa ra khuyến nghị về mức bồi thường đối với người gây thiệt hại.

Tại Việt Nam, thông qua nguồn tin báo chí, có thể dễ dàng tìm thấy những vụ việc tương tự. Tiêu biểu là vụ ông Nguyễn Hữu Khánh (sinh năm 1963, ngụ tại 165A Đốc Bình Kiều, khu 2 thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) bị kết luận nhầm kết quả xét nghiệm HIV[8]... Tuy nhiên, chức năng khuyến nghị về mức bồi thường đối với các vụ việc chưa được giao cho một cơ quan nào cụ thể nào để thực hiện.

3. Chức năng theo dõi thông tin báo chí và nhận thông tin từ các cơ quan nhà nước khác

Theo vụ việc số 7841/30/4/2012[9], Hội đồng đã tiếp nhận từ một bài tạp chí đăng trên tờ “The Indian Express” ngày 05/12/2012 với nội dung bốn bệnh nhân đã tử vong vào ngày 04/12/2012 tại Trung tâm Chấn thương Sushuruta của Chính phủ Delhi ở phía bắc Delhi do máy thở oxi trong khu vực chăm sóc chuyên biệt bị ngắt trong 12 phút. Trước thông tin báo chí nêu, ngày 12/12/2012, Hội đồng đã có thông báo gửi Bộ trưởng Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình thuộc Chính phủ ở vùng Delhi để đề nghị báo cáo cụ thể vụ việc này trong thời hạn 02 tuần. Phúc đáp yêu cầu của Hội đồng, Phó Chánh văn phòng của Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình đã có văn bản thông báo về việc đã có hành động đề nghị xem xét trách nhiệm của bệnh viện và công ty cung cấp bình thở oxi thông qua việc thành lập đoàn điều tra về sự việc nêu trên, trưởng đoàn là Bộ trưởng Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng thành lập Ủy ban chuyên gia cao cấp dưới sự chủ trì của Cựu Trưởng bộ phận gây mê của Bệnh viện ở Lok Nayak và các thành viên là bác sỹ ở Bệnh viện GTB để làm rõ nội dung vụ việc. Sau quá trình điều tra, theo báo cáo của Phó Chánh văn phòng Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình ngày 14/8/2014, cho thấy, Bộ Sức khỏe và phúc lợi gia đình ở vùng Delhi xác định trách nhiệm thuộc về Công ty TNHH Lắp đặt PES, khi đã không tuân thủ thủ tục, tiêu chuẩn hoạt động để bảo đảm dự phòng oxi cho các phòng trong trung tâm; đồng thời, báo cáo cũng ghi nhận trách nhiệm của người phụ trách quản lý thiết bị vì thiếu tinh thần trách nhiệm dẫn đến tử vong của các nạn nhân. Do đó, đã yêu cầu công ty và người phụ trách quản lý thiết bị bồi thường cho các nạn nhân nêu trên số tiền 2.000 Rs (khoảng $29.000) cho mỗi nạn nhân tử vong. Tuy nhiên, tính đến thời điểm 29/9/2014, Hội đồng chưa nhận được thông báo về việc đã thanh toán tiền bồi thường. Do đó, Hội đồng đã đề nghị Chính phủ ở vùng ở Delhi đôn đốc việc bồi thường và cung cấp bằng chứng về việc đã bồi thường cho nạn nhân trong thời hạn 06 tuần.

Qua vụ việc này có thể thấy, ngoài các chức năng như đã thấy trong vụ việc 1 và 2 thì Hội đồng không chỉ có chức năng theo dõi các vụ việc trên báo chí để kiến nghị, chuyển tiếp đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét, giải quyết mà Hội đồng còn có chức năng được nhận các thông báo về tình hình giải quyết vụ việc và báo cáo về kết quả bồi thường cho nạn nhân. Qua vụ việc cũng thấy rõ, Hội đồng không tham gia việc xem xét tính đúng sai của vụ án mà chỉ đóng vai trò “can thiệp”, giám sát, điều tra và kiến nghị. Hiện nay tại Việt Nam, qua thông tin báo chí, cũng cho thấy, cả nước đang theo sát vụ việc bệnh nhân tử vong trong quá trình chạy thận tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình, một vụ việc cũng có một số tình tiết tương tự như vụ việc tại Ấn Độ nêu trên.

Chức năng về việc theo dõi thông tin báo chí, nhận văn bản, báo cáo từ các vụ việc được quy định cụ thể trong từng lĩnh vực, trong từng chuyên ngành cụ thể mà chưa quy định một cơ quan có thẩm quyền chung, can thiệp vào tất cả các cơ quan nhà nước khác như chức năng của Hội đồng về quyền con người tại Ấn Độ và một số quốc gia trên thế giới.

4. Đề xuất tại Việt Nam

Một trong những đặc điểm của quyền con người là tính phổ quát, toàn cầu. Theo đó, xuất phát từ nhiều nguyên nhân mà hiện nay, vi phạm về quyền con người có thể diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, nhận diện và có định hướng để giải quyết, hạn chế việc để xảy ra các vi phạm là một trong những mục tiêu được hầu hết các quốc gia đặt ra. Điều này được thể hiện thông qua việc gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người của các quốc gia, bên cạnh đó là việc nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định mục tiêu phát triển lấy con người làm trung tâm. Theo đó, bên cạnh việc kế thừa các quy định còn phù hợp, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định cụ thể quyền con người tách biệt với quyền công dân. Để Nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của con người của công dân thì bên cạnh các giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật làm tiền đề cho việc bảo đảm phát triển quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện và nâng cao cơ chế kiểm tra, giám sát và tham gia của nhân dân vào việc quản lý của nhà nước... thì việc xây dựng và thành lập một cơ quan độc lập, chuyên trách - thiết chế để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là cần thiết. Hiện nay, chức năng bảo vệ và thúc đẩy quyền con người được giao cho nhiều cơ quan thực hiện, ví dụ: Chính phủ có vai trò xây dựng thể chế, quản lý các mặt của đời sống xã hội, phát hiện và xử lý vi phạm liên quan đến việc thực hiện các quyền cơ bản của con người[10]...; Tòa án bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử công bằng và công khai, khôi phục lại quyền và lợi ích của cá nhân tổ chức... mà chưa có cơ quan chuyên trách về vấn đề này. Vì vậy, từ điều kiện trong nước, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia, cơ quan chức năng có thẩm quyền có thể nghiên cứu thành lập cơ quan chuyên trách bảo về quyền con người tại Việt Nam. Dù cơ quan quốc gia về quyền con người được hình thành theo mô hình nào thì trong quá trình nghiên cứu, thành lập cũng cần đặt ra một số nguyên tắc của cơ quan quyền con người quốc gia như:

Thứ nhất, bảo đảm tính độc lập. Sự độc lập của cơ quan này sẽ có ý nghĩa quan trọng, một mặt tạo lòng tin của người dân, mặt khác, để giám sát, kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm quyền con người do các cơ quan, người thi hành công vụ gây ra.

Thứ hai, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả. Ngày 17/4/2015, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong số các giải pháp, có nội dung quy định từng cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế trong 07 năm (2015 - 2021) và từng năm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để tổ chức thực hiện. Do đó, trong tình hình tinh giản biên chế hiện nay, cần thiết phải nghiên cứu xây dựng mô hình cơ quan bảo đảm tinh gọn và hiệu quả, trên cơ sở thu gọn đầu mối các cơ quan có chức năng bảo vệ quyền con người hiện nay thành một cơ quan thống nhất và theo nguyên tắc nâng cấp và kiện toàn những cơ quan đó để hạn chế phát sinh biên chế, bộ máy.

Thứ ba, về tài chính, để hạn chế sự ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng của cơ quan này, nguồn tài chính chủ yếu cần được cấp một cách độc lập từ nguồn ngân sách nhà nước, có thể nghiên cứu huy động xã hội hóa từ nguồn của cá nhân, tổ chức.

Thứ tư, bảo đảm phản ứng nhanh, kịp thời trước những hành vi vi phạm về quyền con người. Việc phúc đáp này sẽ góp phần nâng cao vai trò, tạo dựng thêm uy tín của Nhà nước trước nhân dân. Mặt khác, tạo sức ép lên sự vận hành có hiệu quả và kịp thời hơn của các cơ quan nhà nước khi phát sinh hành vi vi phạm quyền con người./.

Trần Thị Thu Hằng

Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp


[1]http://thuviennhanquyen.vn/Monitoring/Paper/danh-sach-cac-khuyen-nghi-nam-2014.

[2] Survey on National Human rights Institution – Report on finding and recommendations of a quetionaire addressed to NHRI worldwide, 7/2009, page 9 – www.ohchr.org/Documents/Publications/PTS-4Rev1-NHRI_en.pdf.

[3]http://bkcs.online/nuoc-ngoai/kham-pha-10-quoc-gia-ton-tai-lau-doi-nhat-the-gioi.html.

[4]http://www.legalservicesindia.com/law-india/Human-Rights-law-in-India.htm.

[5]http://nhrc.nic.in/cases_99_00.htm#no22.

[6] Báo cáo tình hình về quyền con người Ấn Độ 2013, tr. 111.

[7] Báo cáo tình hình quyền con người Ấn Độ 2013, tr. 111.

[8]http://www.doisongphapluat.com/phap-luat/an-ninh-hinh-su/tranh-cai-vu-benh-vien-ket-luan-nham-bi-hiv-suot-gan-10-nam-a109017.html.

[9]http://nhrc.nic.in/Documents/AR/NHRC_AR_EN_2014-2015.pdf.

[10] Viện Khoa học pháp lý, Vai trò của Bộ Tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, Số 1 năm 2017, tr. 5,6.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: