Thứ hai 25/05/2026 08:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguồn gốc tư tưởng về quyền con người và sự phát triển tư tưởng hiến định về quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam trước năm 1946*

Bài viết phân tích một số vấn đề về nguồn gốc tư tưởng về quyền con người ở Việt Nam và đánh giá sự phát triển tư tưởng hiến định về quyền con người, quyền công dân ở nước ta trước năm 1946.

1. Nguồn gốc tư tưởng về quyền con người ở Việt Nam

Tư tưởng về quyền con người ở Việt Nam có cội rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc luôn nêu cao tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn, đồng thời phản ánh nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam - từng là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược và bị tước đoạt những quyền và tự do cơ bản nhất[1]. Với hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đất nước và con người Việt Nam luôn tự hào có bề dày lịch sử của một dân tộc sẵn sàng hy sinh xương máu, kiên cường, bền bỉ đấu tranh để giành lại những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con người. Đó là quyền được sống trong độc lập, tự do và quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Thực tiễn lịch sử Việt Nam cho thấy, không chỉ trong công cuộc đổi mới quyền con người mới trở thành động lực, mà nó đã được đề cao và phát huy trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Thực tiễn đấu tranh của dân tộc Việt Nam cũng chỉ rõ việc bảo đảm quyền con người không thể tách rời độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và phát triển.

Với ý nghĩa là nền tảng của sự tôn trọng, bảo vệ các quyền con người và cũng như ở nhiều dân tộc trên thế giới, lòng khoan dung, độ lượng, vị tha, nhân đạo cũng là một trong những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, có ảnh hưởng đến cách thức cầm quyền qua các thời đại. Từ thời các vua Hùng dựng nước, các triều đại phong kiến Việt Nam đã chú ý kết hợp giữa “nhân trị” với “pháp trị”, giữa “trị quốc” và “an dân”. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã được Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đề cập một cách trực tiếp và gián tiếp từ thế kỷ XIV, XV[2]. Thời Lý - Trần, Nhà nước Đại Việt là Nhà nước quân chủ theo mô hình Nho giáo nhưng tư tưởng chính trị dựa trên ý thức hệ Tam giáo với đường lối tư duy và hành động khoan dung, nhân đạo, thấm đượm tinh thần Phật đạo. Ngay cả việc ban hành Hình thư ở triều Lý - Bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử dân tộc cũng xuất phát từ mong muốn giảm bớt nỗi khổ sở, bất công trong thiên hạ. Trong Bộ luật Hồng Đức (thời nhà Lê) chứa đựng nhiều điều khoản có ý nghĩa khẳng định và bảo vệ các quyền con người như: Bảo vệ tính mạng, nhân phẩm và tài sản của người dân; bảo vệ người dân khỏi nhũng nhiễu bởi giới quan lại; bảo vệ những đối tượng yếu thế trong xã hội... Ở một góc độ khác, tư tưởng về quyền con người xuyên suốt trong thời kỳ phong kiến Việt Nam còn thể hiện ở truyền thống dân chủ trong nhiều lĩnh vực, mà tiêu biểu là trong việc quản lý cộng đồng, tuyển dụng và sử dụng nhân tài và trong việc thảo luận, quyết định các vấn đề “quốc gia đại sự”. Hội nghị Diên Hồng được tổ chức dưới thời nhà Trần để hỏi ý kiến về việc chống quân Nguyên có thể coi là một ví dụ tiêu biểu về truyền thống dân chủ của dân tộc Việt Nam.

Nằm trong khu vực Đông Nam châu Á, Việt Nam cũng như nhiều nước khác trong khu vực đã trải qua một thời kỳ dài dưới chế độ phong kiến và sau đó là chế độ thuộc địa nửa thực dân nửa phong kiến. Theo tác giả Nguyễn Đăng Dung, chính bối cảnh đó khiến Việt Nam không có một nền lập hiến với bề dày truyền thống như nhiều nước khác ở phương Tây[3]. Dưới chế độ phong kiến và chế độ thực dân nửa phong kiến, ở Việt Nam không có Hiến pháp, do đó không có chế định về quyền con người, quyền công dân. Khi dân tộc Việt Nam đang phải đấu tranh để thoát khỏi cảnh nô lệ thì ở hầu hết các nước phương Tây đã thiết lập được chế độ dân chủ tư sản với Hiến pháp bao gồm chế định về vấn đề quan trọng này.

2. Sự phát triển tư tưởng hiến định về quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam trước năm 1946

Tư tưởng lập hiến và quyền con người, quyền công dân đã được các nhà yêu nước Việt Nam chú trọng tìm hiểu ngay sau khi chứng kiến sự thất bại của chế độ phong kiến trong việc bảo vệ chủ quyền của đất nước trước sự xâm lược của thực dân Pháp. Từ thời điểm đó, nhiều sĩ phu yêu nước (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, Nguyễn An Ninh...) đã thấy rõ sự cần thiết và cổ vũ cho việc xây dựng Hiến pháp, đi liền với nó là việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân.

Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, nhìn chung các quyền cơ bản của cả dân tộc và của mỗi người dân Việt Nam bị tước bỏ hoặc hạn chế nghiêm ngặt[4]. Tuy nhiên, cũng trong thời kỳ này, những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của Cách mạng tư sản Pháp và sau này là tư tưởng “tam dân” về độc lập, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp của Cách mạng tháng Mười Nga đã được truyền bá mạnh mẽ vào nước ta, tạo ra những ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của tư tưởng, pháp luật và thực tiễn về quyền con người ở Việt Nam.

Ngay từ cuối thế kỷ XIX, nhiều nhân sĩ, trí thức và nhà cách mạng Việt Nam như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Ái Quốc… đã tiếp thu các tư tưởng tiến bộ của nhân loại, đầu tiên là những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng Pháp, sau đó là tư tưởng về dân quyền và quyền bình đẳng, độc lập dân tộc trong các học thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và trong các văn kiện của chủ nghĩa Mác Lênin... Kết quả là nhiều cuộc vận động cách mạng đã diễn ra vào đầu thế kỷ XX cả ở trong và ngoài nước nhằm mục tiêu đánh đổ ách phong kiến, thực dân, giành quyền độc lập cho dân tộc và các quyền con người, quyền công dân cho người dân Việt Nam. Do ảnh hưởng tiến bộ của cách mạng Pháp và phong trào đấu tranh của người Việt, vào cuối thời kỳ Pháp thuộc, một số quyền tự do cá nhân, ví dụ như tự do ngôn luận, quyền bình đẳng trước Tòa án, quyền được bào chữa trong tố tụng... đã được thừa nhận và thực hiện ở mức độ nhất định. Cụ thể, trên phương diện bình đẳng giới, nếu như trong cả thời phong kiến không có người phụ nữ Việt Nam nào được đi học thì đến đầu thế kỷ XX đã có một số trường trung học dành cho phụ nữ được lập ra ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Những điều này phản ánh sự phát triển thực chất cả về tư tưởng và pháp luật về quyền con người ở Việt Nam trong thời kỳ này so với thời kỳ phong kiến[5].

Trong bối cảnh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp dưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến và tư sản của nhân dân Việt Nam diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại. Bằng nhãn quan chính trị, sớm nhận thức được hoàn cảnh đất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Tư tưởng về một nền lập hiến gắn liền với quyền con người đã nảy sinh từ rất sớm ở Nguyễn Tất Thành. Điều này thể hiện ở việc trong bức thư tám điểm (bản Yêu sách của nhân dân An Nam) gửi đến Hội nghị Vécxay (Pháp) năm 1919 với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đòi quyền tự do dân chủ - quyền cơ bản nhất của con người cho nhân dân Việt Nam. Bản Yêu sách này đã đưa ra những yêu cầu cụ thể về quyền cho dân tộc Việt Nam. Theo một tác giả, Bản yêu sách này có dáng dấp ban đầu của một “Tuyên ngôn về quyền con người của Việt Nam”[6]. Điều đó xuất phát từ tính toàn diện của những quyền con người cơ bản được Nguyễn Ái Quốc nêu ra trong Bản yêu sách. Đây chính là những quyền dân sự, chính trị cốt lõi nhất được đề cập trong luật quốc tế về quyền con người về sau và Hiến pháp của các quốc gia hiện nay. Yêu sách về quyền của người dân và chế độ pháp lý của Nhà nước với Hiến pháp ở vị trí tối thượng được Người khái quát, nâng lên thành tâm niệm linh thiêng, khắc khoải lòng người trong “Việt Nam yêu cầu ca” (1922)[7]. Trong bài diễn ca ấy, Nguyễn Ái Quốc đã viết[8]:

“Bảy xin Hiến pháp ban hành,

Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”

Có thể thấy, một trong những nội dung đấu tranh đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc chống thực dân Pháp là đòi hỏi cải cách nền pháp lý, mà muốn cải cách nền pháp lý thì phải xây dựng Hiến pháp làm nền tảng cho nền pháp lý ấy[9]. Từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, con đường cách mạng không phải đến ngay một lúc mà đã trải qua một quá trình bắt đầu từ sự quan sát, học hỏi, so sánh, tìm ra những mô hình để thực hiện. Sự phát triển của tư tưởng lập hiến cũng từ sự quan sát đến ý tưởng, tư tưởng pháp lý và ý tưởng, tư tưởng pháp lý đã đi vào hiện thực bằng việc xây dựng một bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - bản Hiến pháp đầu tiên ở nước ta[10].

Như vậy, có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người Việt Nam đi tiên phong, đồng thời là người có cách tiếp cận mối quan hệ giữa Hiến pháp và quyền con người một cách toàn diện và khoa học. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa nhân văn, nhân quyền, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa yêu nước, giải quyết quan hệ “nhân quyền”, “dân quyền” và Hiến pháp một cách mẫu mực, hài hòa. Ở đây, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người muốn được tự do thì dân tộc phải được độc lập: “Một dân tộc nô lệ không thể có con người tự do”[11]. Tuy nhiên, độc lập dân tộc chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ; để bảo đảm phát triển bền vững thì phải xây dựng một Nhà nước thực sự “của dân, do dân và vì dân”[12], một xã hội mới “sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền”[13]. Để làm được điều đó thì cần phải xây dựng và thông qua một bản Hiến pháp tiến bộ, ghi nhận đầy đủ các quyền con người, quyền công dân. Nói cách khác, chiến lược phát triển của cách mạng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết phải giành độc lập cho dân tộc nhưng sau đó quan trọng hơn phải xây dựng một Nhà nước tôn trọng và bảo đảm nhân quyền, coi nhân quyền, dân quyền là các giá trị thiêng liêng, là lý do và là mục tiêu tồn tại, là sự bảo đảm cho phát triển bền vững, bởi “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[14].

Tư tưởng nhân quyền gắn liền với độc lập dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rõ ràng và sâu sắc nhất thông qua bản Tuyên ngôn độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 02/9/1945. Tuyên ngôn độc lập là sự kết tinh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao không chỉ về tính nhân văn sâu sắc, giá trị đạo lý và chính trị to lớn đối với các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động trên toàn thế giới, mà còn ở tính khoa học - pháp lý chặt chẽ, sáng tạo, là phương pháp luận đúng đắn về giải phóng dân tộc, giải phóng con người, hiện thực hóa các quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người[15]. Theo tác giả Nguyễn Đăng Dung, việc gắn kết giữa quyền con người với quyền độc lập của dân tộc có thể coi là một sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này cho thấy Người không chỉ là một nhà cộng sản quốc tế, một nhà yêu nước chân chính mà còn là một nhà tư tưởng xuất sắc về quyền con người[16]. Nhận định về vấn đề này, cố Giáo sư Vũ Đình Hòe từng viết: “Đáng chú ý là các điều mà Hồ Chủ tịch “suy rộng ra” ấy, thì ngày nay, Hội nghị thế giới về quyền con người họp ngày 25 tháng 6 năm 1993 đã biến thành quy phạm của luật quốc tế hiện đại. Hội nghị tuyên bố “Quyền dân tộc tự quyết không thể bị tước đoạt” và coi việc khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm quyền con người”[17].

Có thể thấy, trong suốt cuộc đời của Hồ Chí Minh, Người không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự do, dân quyền... Xuất phát từ nhận thức về mối quan hệ không tách rời giữa nhân quyền và Hiến pháp, sau khi Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên càng sớm, càng tốt với mục đích để nhân dân thực hiện quyền tự do chính trị, quyền dân chủ, quyền công dân của mình là bầu ra Quốc hội, và Quốc hội có quyền thông qua một bản Hiến pháp ghi nhận các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Việc xây dựng Hiến pháp là nhiệm vụ cách mạng trọng đại đeo đuổi suốt quá trình đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ khởi đầu cho đến khi cách mạng thành công[18]. Người chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”[19]. Tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam chi phối việc soạn thảo và thông qua không chỉ bản Hiến pháp năm 1946, mà còn các bản Hiến pháp sau này của Việt Nam. Điều đó thể hiện ở tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Hiến pháp năm 2013) đều có một chương riêng về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Có thể thấy, bảo đảm và bảo vệ quyền con người là mục tiêu và thành quả quá trình đấu tranh, hy sinh gian khổ của nhiều thế hệ người dân Việt Nam. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước mà Việt Nam tiến hành gần 40 năm qua, con người (nhân dân) luôn được Đảng, Nhà nước ta đặt ở vị trí trung tâm, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Dù còn nhiều khó khăn, thách thức bởi cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, tin tưởng, đánh giá cao. Bảo đảm và bảo vệ quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục được Đại hội lần thứ XIII của Đảng kế thừa và phát triển. Theo Đại hội lần thứ XIII, cần “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”.[20] Đảng ta xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”[21]. Gần đây, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới cũng yêu cầu “tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Ðảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”…/.

TS. LS. Trương Hồng Quang

Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội

Ảnh: Internet


* Bài viết là một phần kết quả của Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2021 do Viện Khoa học pháp lý (nay là Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý), Bộ Tư pháp chủ trì: “Sự phát triển của chế định quyền con người, quyền công dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam và một số vấn đề đặt ra đối với pháp luật Việt Nam hiện nay”, Chủ nhiệm: TS. Trương Hồng Quang.

[1] Đỗ Đức Minh (2015), “Nguồn gốc ý tưởng về quyền con người ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (8), tr. 29 - 41.

[2] Văn phòng thường trực về nhân quyền & Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Phối hợp thực hiện, 2015), Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam (Sách chuyên khảo), Hà Nội, tr. 110 - 112.

[3] Phần này có tổng hợp nội dung từ tài liệu: Văn phòng thường trực về nhân quyền & Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Phối hợp thực hiện, 2015), Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam, tlđd, tr. 109 - 119; Nguyễn Thùy Dương (2014), Chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam, tlđd, tr. 27 - 36...

[4] Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên, 2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 398.

[5] Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên, 2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, tlđd, tr. 399.

[6] Phan Đăng Thanh (1996), Tư tưởng lập hiến của một số phong trào đấu tranh giành độc lập trước Hiến pháp năm 1946, Luận án cao học Luật, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 106.

[7] Dương Thị Thanh Mai (2021), “Cảm nghĩ về bảo hiến theo tư tưởng pháp quyền dân chủ của Hồ Chí Minh”, in trong: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật: Giá trị và thực tiễn vận dụng ở Việt Nam” (Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 280.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 1, tr. 473.

[9] Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa (2012), Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 165.

[10] Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa (2012), Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, tlđd, tr. 165 - 166.

[11] Nguyễn Đình Lộc (2015), Tuyên ngôn độc lập năm 1945 - những giá trị truyền thống và đương đại, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/tuyen-ngon-doc-lap-nam-1945-nhung-gia-tri-truyen-thong-va-duong-dai-2424, ngày 07/10/2015, truy cập ngày 10/4/2024.

[12] Nguyễn Đình Lộc (1998), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 41 - 92.

[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 2, tr. 502.

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr. 64.

[15] Hoàng Văn Nghĩa (2021), Tính thống nhất biện chứng giữa quyền con người với quyền dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 - Ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh vì quyền con người chân chính hiện nay, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/tinh-thong-nhat-bien-chung-giua-quyen-con-nguoi-voi-quyen-dan-toc-trong-tuyen-ngon-doc-lap-nam-1945-y-nghia-doi-voi-cuoc-dau-tranh-vi-quyen-con-nguoi-, ngày 08/9/2021, truy cập ngày 10/4/2024.

[16] Văn phòng thường trực về nhân quyền & Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Phối hợp thực hiện, 2015), Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam, tlđd, tr. 118.

[17] Vũ Đình Hòe (1998), “Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam: Một mô hình mới - Hiến pháp dân tộc và dân chủ”, in trong: Văn phòng Quốc hội, Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 67.

[18] Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa (2012), Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, tlđd, tr. 166.

[19] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr. 7.

[20] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 71.

[21] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, sđd, tr. 76.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: