Thứ tư 13/05/2026 21:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguyên tắc và tiêu chí xác định việc thi hành án dân sự điển hình

Hiện nay, mặc dù “việc thi hành án dân sự điển hình” là thuật ngữ pháp lý hoàn toàn mới nhưng việc đầu tư nghiên cứu các khía cạnh pháp lý có liên quan để đề xuất bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật chuyên ngành về thi hành án dân sự là thực sự cần thiết. Trên cơ sở đó sẽ xây dựng các hồ sơ mẫu về việc thi hành án dân sự điển hình để phổ biến, áp dụng rộng rãi trong hoạt động thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác này, đặc biệt là đối với các bản án, quyết định về kinh tế, tham nhũng điển hình, nhằm bảo đảm sự chắc chắn và hiệu quả của việc áp dụng và thực hiện pháp luật trong thực tiễn. Bài viết tập trung nghiên cứu các vấn đề cụ thể như khái niệm thi hành án dân sự điển hình, ý nghĩa của việc xác định việc thi hành án dân sự điển hình và nguyên tắc lựa chọn việc thi hành án dân sự điển hình.


1. Khái niệm việc thi hành án dân sự điển hình

Dưới góc độ pháp lý, theo nghiên cứu của nhóm tác giả, cho đến thời điểm hiện tại, trong hệ thống pháp luật thi hành án dân sự (THADS) Việt Nam cũng như trong các công trình nghiên cứu, chưa có tài liệu nào đề cập đến khái niệm “việc THADS điển hình”. Do đó, việc nghiên cứu các khía cạnh pháp lý liên quan đến việc THADS điển hình dưới đây sẽ có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Khoản 9 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) gián tiếp đề cập khái niệm việc THADS thông qua quyết định THADS. Theo đó, cách xác định số lượng “việc thi hành án” dựa trên số lượng “quyết định thi hành án”. Quyết định thi hành án (chủ động hoặc theo yêu cầu) là một văn bản do thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền ký ban hành để thi hành một hoặc nhiều khoản trong các bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục THADS. Quyết định của thủ trưởng cơ quan THADS là căn cứ pháp lý đầu tiên trong hồ sơ thi hành án chủ động hoặc hồ sơ thi hành án theo yêu cầu[1] (đều là bút lục số 01) và là căn cứ để chấp hành viên lập hồ sơ, ban hành các quyết định về THADS để tổ chức thi hành[2].

Kết hợp các khái niệm “việc”, “thi hành”, “THADS”, “điển hình” trong một số tài liệu[3] thì có thể hiểu: “Việc THADS điển hình là loại việc THADS có tính chất tiêu biểu, đặc trưng; có ý nghĩa đặc biệt về mặt lý luận và có giá trị tham khảo thực tiễn trong số các loại việc THADS do chấp hành viên, thừa phát lại thi hành nhằm đảm bảo thi hành đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực thi hành theo trình tự, thủ tục luật định”.

2. Ý nghĩa của việc xác định “việc thi hành án dân sự điển hình”

Một là, thực tế đã có nhiều việc THADS được xem là điển hình đã được thi hành thành công[4], nhưng cho đến nay, chưa có tài liệu nào tổng kết, đúc rút kinh nghiệm cho việc thi hành các việc THADS điển hình về sau. Việc tập hợp, nghiên cứu các việc THADS điển hình sẽ giúp phát hiện ra những sai sót, những “khoảng trống pháp lý” cần phải bổ sung, hoàn thiện trong quy trình thi hành án, tìm ra những “điểm nghẽn” dẫn đến quy trình thi hành án bị kéo dài, ảnh hưởng đến quyền cơ bản của con người và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Hai là, từ yêu cầu thực tiễn, để nâng cao hiệu quả thi hành các việc THADS điển hình nói riêng cũng như nâng cao hiệu quả thi hành án nói chung cần có sự đánh giá toàn diện, xuyên suốt toàn bộ các việc THADS còn vướng mắc, tồn đọng, kéo dài, để cùng tư duy, nhận định những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong hệ thống, từ tất cả các “mắt xích” trong hoạt động thi hành án, làm cơ sở cho việc xây dựng Luật Thi hành án dân sự toàn diện, hiệu quả hơn nữa. Do đó, việc nghiên cứu đề xuất tiêu chí việc THADS điển hình, đồng thời xây dựng hồ sơ việc THADS điển hình sẽ mang lại ý nghĩa mang tính thực tiễn và lý luận cao; đề xuất rút ngắn thời gian, đơn giản hóa trình tự, thủ tục thi hành án, đặc biệt là việc THADS điển hình.

Ba là, có những vụ việc THADS trọng điểm, phức tạp, kéo dài, có giá trị phải thi hành lớn, đặc biệt lớn hoặc mặc dù giá trị không lớn nhưng quá trình tổ chức thi hành rất khó khăn, phức tạp, tốn kém; việc thi hành những việc như vậy là chưa từng có tiền lệ; chưa có văn bản pháp luật quy định về trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định, trong khi về mặt nguyên tắc thì mọi bán án, quyết định đã có hiệu lực đều phải được thi hành. Thực tế khó khăn này đòi hỏi chấp hành viên phải có những kỹ năng, biện pháp nghiệp vụ và áp dụng sáng tạo pháp luật để tổ chức thi hành bản án, quyết định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự. Vậy, trong những trường hợp này, những việc như vậy được tổ chức thi hành có hiệu quả có thể trở thành những việc “thi hành án lệ“ không? Việc chấp hành viên áp dụng sáng tạo, linh hoạt các biện pháp kỹ năng, nghiệp vụ mà chưa được pháp luật quy định nhằm thi hành bản án, quyết định, bảo vệ hài hòa lợi ích của các bên có được xem là đã áp dụng lẽ công bằng[5] không? Hay nói cách khác, chấp hành viên có được áp dụng lẽ công bằng trong tổ chức thi hành bản án, quyết định khi pháp luật chưa quy định hoặc quy định còn mâu thuẫn, chưa rõ ràng hay không? Chấp hành viên có được áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự trong tổ chức thi hành bản án, quyết định khi việc áp dụng các nguyên tắc THADS không có kết quả? Đây là những vấn đề lớn, mới và có tính học thuật cao, cần phải tiếp tục nghiên cứu, áp dụng trong lĩnh vực THADS, đặc biệt là trình tự, thủ tục thi hành việc THADS điển hình.

Bốn là, làm rõ mối liên hệ giữa số lượng và tính chất của đơn vị được thống kê của Ngành Tòa án là “bản án, quyết định” với đơn vị thống kê của Ngành THADS là “việc THADS”. Sau một thời gian thực hiện Luật Thi hành án dân sự đã phát sinh một số bất cập như Tòa án không nắm được các bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên có được chấp hành đầy đủ hay không. Pháp luật hiện hành quy định cơ quan THADS khi ra quyết định về thi hành án phải “gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp”[6] chứ không gửi cho Tòa án nhân dân. Nhiều bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ ràng, không khả thi nên khó thi hành; một số Tòa án vì một lý do nào đó nên chậm trả lời hoặc không trả lời yêu cầu cơ quan THADS về giải thích bản án đã làm cho việc thi hành án gặp không ít khó khăn[7]. Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng, cần phải xác định cụ thể trách nhiệm của cơ quan THADS trong những trường hợp bản án, quyết định tuyên đã rõ ràng nhưng có yêu cầu Tòa án giải thích, sửa chữa, bổ sung[8]. Điều này cho thấy sự cần thiết phải làm rõ tính hiệu quả trong công tác phối hợp liên ngành giữa cơ quan Tòa án và cơ quan THADS. Thực tế có thể sẽ có việc THADS điển hình liên quan đến các khái niệm như “bản án tuyên không rõ, án khó thi hành”. Vậy, lý do và giải pháp là gì, liệu có mối liên hệ nào giữa tính chất điển hình trong việc THADS với tính chất điển hình trong cùng bản án, quyết định đã được tuyên trước đó? Quy định của pháp luật về vấn đề này như thế nào, trách nhiệm của mỗi cơ quan cũng như cơ chế phối hợp giữa Ngành Tòa án và Ngành THADS cũng cần phải tiếp tục nghiên cứu để tìm ra giải pháp cho vấn đề này.

3. Nguyên tắc lựa chọn việc thi hành án dân sự điển hình

Nguyên tắc được hiểu đơn giản đó là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”[9]. Vậy, nguyên tắc lựa chọn việc THADS điển hình là những yêu cầu cơ bản đặt ra nhất thiết phải tuân theo trong quá trình lựa chọn để xác định việc THADS điển hình. Lựa chọn việc THADS điển hình phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Một là, lựa chọn việc THADS điển hình phải dựa vào các tiêu chí của việc THADS điển hình. Trong hệ thống Tòa án nhân dân, khái niệm “án lệ” và “tiêu chí lựa chọn án lệ” cũng đã được áp dụng từ năm 2015 theo Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP) và những khái niệm này cũng đã được sửa đổi bởi Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP). Theo đó, án lệ là gì và được lựa chọn phải đáp ứng các tiêu chí nào được quy định cụ thể tại Điều 1, Điều 2 Nghị Quyết số 04/2019/NQ-HĐTP. Ở các nước thuộc hệ thống thông luật, tiêu biểu như Anh, Hoa Kỳ, Úc, “án lệ” chiếm vị trí quan trọng, được ví như mạch máu của hệ thống pháp luật “life blood of a legal system”, là nguồn luật chính thức[10]. Với các đặc điểm nêu trên, có thể hiểu rằng, để trở thành án lệ thì quyết định đó của Tòa án phải được ban hành từ một tình huống pháp lý tiêu biểu, điển hình, có tính mẫu mực để thẩm phán có thể dựa vào để đưa ra lý do cho quyết định trong vụ việc hiện thời. Do bản chất của hoạt động xét xử và hoạt động THADS là khác nhau nên không phải mọi bản án, quyết định được công nhận là án lệ sẽ trở thành những việc THADS điển hình ở giai đoạn thi hành án. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì có nhiều cách phân loại việc THADS khác nhau, tùy thuộc vào mục đích của mỗi cách phân loại. Ví dụ, việc THADS chủ động và việc THADS theo yêu cầu được phân loại dựa vào tính chất của khoản phải thi hành, chủ thể yêu cầu thi hành án và tính chủ động phụ thuộc khi ra quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan THADS (Điều 36 Luật Thi hành án dân sự và Thông tư số 06/2019/TT-BTP ngày 21/11/2019 của Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo thống kê THADS, theo dõi thi hành án hành chính (Thông tư số 06/2019/TT-BTP)). Đối với việc THADS trọng điểm thì căn cứ để thống kê việc THADS là dựa vào 01 trong 09 nhóm tiêu chí quy định tại Điều 3 Quyết định số 907/QĐ-TCTHADS ngày 29/8/2016 của Tổng cục Thi hành án dân sự quy định về tiêu chí xác định việc THADS trọng điểm (Quyết định số 907/QĐ-TCTHADS). Việc THADS điển hình là khái niệm pháp lý hoàn toàn mới nên chưa có văn bản quy định về tiêu chí xác định việc THADS điển hình. Sau khi bộ tiêu chí việc THADS điển hình được xác định thống nhất thì nguyên tắc đầu tiên trong việc lựa chọn việc THADS điển hình đó là phải dựa vào các tiêu chí của việc THADS điển hình. Tuy nhiên, bản án, quyết định được công nhận là án lệ cũng là một yếu tố cần cân nhắc kỹ hơn khi xem xét, lựa chọn việc THADS điển hình.

Hai là, việc lựa chọn việc THADS điển hình phải do cơ quan có thẩm quyền quyết định và theo trình tự, thủ tục của pháp luật. Trong giai đoạn xét xử, để việc phát triển án lệ trở thành nhiệm vụ thường xuyên, thiết thực và phát huy được tác dụng của án lệ, trước đây, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên của hệ thống Tòa án nhân dân Việt Nam về án lệ. Ngày 18/6/2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP thay thế cho Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP. Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2019 đã quy định việc lựa chọn án lệ phải thực hiện qua nhiều bước[11].

Tham khảo nguyên tắc của quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, quy trình lựa chọn và vận dụng giải pháp, bài học kinh nghiệm từ việc thi hành việc THADS điển hình cũng phải tuân theo quy trình, thủ tục chặt chẽ như: Xác định đúng chủ thể đề xuất việc THADS điển hình (gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức mà tập trung nhất chủ yếu là cơ quan THADS thông qua đề xuất của chấp hành viên, công chức Ngành THADS; văn phòng thừa phát lại thông qua đề xuất của các thừa phát lại; từ các văn phòng luật sư, công ty luật, các bên đương sự...); quy trình lựa chọn (lựa chọn việc THADS điển hình ở cấp Chi cục Thi hành án dân sự của mỗi Cục Thi hành án dân sự, sau đó lựa chọn việc THADS điển hình giữa các Cục Thi hành án dân sự, lựa chọn việc THADS điển hình do thừa phát lại thực hiện giữa các văn phòng thừa phát lại); thẩm quyền quyết định việc THADS điển hình (trên cơ sở kết quả thẩm định, lựa chọn của Hội đồng thẩm định việc THADS điển hình của Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành danh sách và nội dung các việc THADS điển hình); trong quá trình tổ chức thi hành các vụ việc THADS điển hình về sau cần vận dụng những giải pháp, bài học kinh nghiệm từ các việc THADS điển hình đã được công bố để rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án, hạn chế sai sót trong quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao hiệu quả công tác THADS đặc biệt là đối với những vụ việc THADS điển hình.

Ba là, việc THADS được lựa chọn là điển hình phải là việc mà bản án, quyết định làm căn cứ ban hành quyết định thi hành án chứa đựng những kiến nghị có giá trị của Tòa án hoặc những kiến nghị của cơ quan quản lý nhà nước về THADS, cơ quan THADS trong việc hoàn thiện pháp luật; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, khắc phục những hạn chế, thiếu sót của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về thi hành án nói riêng; kiến nghị cá nhân có thẩm quyền trực tiếp khởi tố vụ án khác, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải thích, đính chính bản án, quyết định...

Bốn là, lựa chọn việc THADS điển hình phải thực hiện theo định kỳ và có tính hệ thống. Hàng năm, trên cơ sở dữ liệu thống kê kết quả thi hành án về việc và về tiền, cần có đề xuất, lựa chọn những việc THADS điển hình theo những tiêu chí của việc THADS điển hình. Việc lựa chọn này cần được thực hiện có hệ thống, từ cấp huyện (thông qua lựa chọn của các Chi cục Thi hành án dân sự), đến cấp tỉnh (thông qua lựa chọn của các Cục Thi hành án dân sự) và cấp trung ương (thông qua lựa chọn của Tổng cục Thi hành án dân sự).

Năm là, kết quả lựa chọn việc THADS điển hình phải được công bố rộng rãi, ứng dụng trong công tác giáo dục, đào tạo nhằm cung cấp giải pháp, bài học kinh nghiệm thực tiễn cho các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ THADS cũng như cho cơ quan quản lý nhà nước về THADS, cho chấp hành viên và các cán bộ trong thực tiễn tổ chức thi hành án.

Sáu là, có cơ chế bãi bỏ việc THADS điển hình, thay đổi tiêu chí việc THADS điển hình. Khi hệ thống pháp luật nói chung, quy định của pháp luật THADS nói riêng thay đổi hoặc cùng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế, xã hội, hoặc từ thực tiễn công tác quản lý THADS, công tác THADS phát hiện việc THADS không đáp ứng các tiêu chí của việc THADS điển hình thì việc THADS được lựa chọn là điển hình cần xem xét, bãi bỏ. Việc bãi bỏ cần phải được thông tin kịp thời, rộng rãi tới đối tượng áp dụng nhằm ngăn chặn sai sót trong công tác THADS. Tiêu chí việc THADS điển hình cũng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn.

4. Các tiêu chí xác định “việc thi hành án dân sự điển hình”

Hiện nay, thống kê phân loại việc THADS được thực hiện theo Thông tư số 06/2019/TT-BTP. Ngoài ra, còn có các tiêu chí để phân theo việc THADS trọng điểm trên cơ sở Quyết định số 907/QĐ-TCTHADS được thực hiện từ ngày ban hành quyết định. Hoặc, trước việc gia tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng của tội phạm tham nhũng, kinh tế và hiệu quả thi hành thấp đối với các loại việc này, cơ quan quản lý nhà nước về THADS và cơ quan THADS địa phương còn thống kê theo loại việc tham nhũng, kinh tế.

Việc THADS chủ động và việc THADS theo yêu cầu được phân loại dựa vào tính chất của khoản phải thi hành, chủ thể yêu cầu thi hành án và tính chủ động hoặc phụthuộc khi ra quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan THADS (Điều 36 Luật Thi hành án dân sự và Thông tư số 06/2019/TT-BTP). Đối với việc THADS trọng điểm thì căn cứ để thống kê việc THADS là dựa vào 01 trong 09 nhóm tiêu chí quy định tại Điều 3 Quyết định số 907/QĐ-TCTHADS.

Hiện nay, pháp luật chưa quy định cụ thể về tiêu chí xếp loại việc THADS tham nhũng, kinh tế, tuy nhiên, có thể hiểu đó là việc THADS tổ chức thi hành các bản án về tham nhũng, kinh tế. Đây thường là những vụ việc có giá trị lớn, tính chất phức tạp, kéo dài, khó thi hành, người phải thi hành án thường là những chủ thể đặc biệt. Khác với căn cứ phân loại của việc THADS chủ động, việc THADS theo yêu cầu và việc THADS trọng điểm thì cách xác định việc THADS điển hình dựa vào tính chất tiêu biểu, đặc điểm đặc trưng của việc THADS; ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn để lựa chọn một số việc THADS trong tổng số các việc THADS thông thường là việc THADS điển hình. Cách lựa chọn việc THADS điển hình có thể dựa vào 06 nhóm tiêu chí: (i) Căn cứ vào thực trạng quy định của pháp luật (những việc thuộc tiêu chí thứ 03 và tiêu chí thứ 07 việc THADS trọng điểm); (ii) Căn cứ vào thực trạng tổ chức thi hành án (những việc thuộc tiêu chí thứ 04, tiêu chí thứ 05, tiêu chí thứ 06 việc THADS trọng điểm); (iii) Căn cứ vào dấu hiệu là chủ thể đặc biệt của các bên đương sự (những việc thuộc tiêu chí thứ 08 việc THADS trọng điểm); (iv) Căn cứ vào các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước (những việc thuộc tiêu chí thứ 01 việc THADS trọng điểm); (v) Căn cứ vào quyết định của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo Bộ Tư pháp, lãnh đạo địa phương và Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự (những việc thuộc các tiêu chí thứ 02 và tiêu chí thứ 09 của việc THADS trọng điểm); (vi) Đặc điểm, tính chất tiêu biểu của việc THADS tham nhũng, kinh tế.

TS. Nguyễn Văn Nghĩa
Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa
Chi cục THADS huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội


[1]. Điều 30 Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS.

[2]. Điều 36 Luật Thi hành án dân sự; các điều 6, 7, 8 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ).

[3]. Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2003; NCS. Bùi Đức Tiến, Luận án Tiến sỹ, Thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS ở Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2018, tr. 31 - 32.

[4]. Ví dụ, vụ Epco - Minh Phụng phải thi hành trên 4.000 tỷ đồng, vụ Tân Trường Sanh phải thi hành trên 1.000 tỷ đồng.

[5]. Khoản 3 Điều 45 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về xác định lẽ công bằng.

[6]. Điều 38 Luật Thi hành án dân sự.

[7]. Hương Bằng, “Chật vật” với các bản án tuyên không rõ, đăng tại https://baophapluat.vn/tu-phap/chat-vat-voi-cac-ban-an-tuyen-khong-ro-353683.html, ngày 19/11/2017.

[8]. ThS. Chu Thành Quang & Phùng Thị Hoàn, Tòa án nhân dân với công tác THADS qua các thời kỳ, Số chuyên đề 70 năm truyền thống THADS, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, năm 2016, tr. 134.

[9]. Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2003, tr. 964.

[10]. Nguyễn Bá Bình, Án lệ và sử dụng án lệ trong đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Tư pháp, 2019, tr. 7, chú thích 1.

[11]. Từ Điều 3 đến Điều 9 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: