Thứ năm 12/03/2026 00:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguyên tắc và tiêu chí xác định việc thi hành án dân sự điển hình

Hiện nay, mặc dù “việc thi hành án dân sự điển hình” là thuật ngữ pháp lý hoàn toàn mới nhưng việc đầu tư nghiên cứu các khía cạnh pháp lý có liên quan để đề xuất bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật chuyên ngành về thi hành án dân sự là thực sự cần thiết. Trên cơ sở đó sẽ xây dựng các hồ sơ mẫu về việc thi hành án dân sự điển hình để phổ biến, áp dụng rộng rãi trong hoạt động thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác này, đặc biệt là đối với các bản án, quyết định về kinh tế, tham nhũng điển hình, nhằm bảo đảm sự chắc chắn và hiệu quả của việc áp dụng và thực hiện pháp luật trong thực tiễn. Bài viết tập trung nghiên cứu các vấn đề cụ thể như khái niệm thi hành án dân sự điển hình, ý nghĩa của việc xác định việc thi hành án dân sự điển hình và nguyên tắc lựa chọn việc thi hành án dân sự điển hình.


1. Khái niệm việc thi hành án dân sự điển hình

Dưới góc độ pháp lý, theo nghiên cứu của nhóm tác giả, cho đến thời điểm hiện tại, trong hệ thống pháp luật thi hành án dân sự (THADS) Việt Nam cũng như trong các công trình nghiên cứu, chưa có tài liệu nào đề cập đến khái niệm “việc THADS điển hình”. Do đó, việc nghiên cứu các khía cạnh pháp lý liên quan đến việc THADS điển hình dưới đây sẽ có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Khoản 9 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) gián tiếp đề cập khái niệm việc THADS thông qua quyết định THADS. Theo đó, cách xác định số lượng “việc thi hành án” dựa trên số lượng “quyết định thi hành án”. Quyết định thi hành án (chủ động hoặc theo yêu cầu) là một văn bản do thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền ký ban hành để thi hành một hoặc nhiều khoản trong các bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục THADS. Quyết định của thủ trưởng cơ quan THADS là căn cứ pháp lý đầu tiên trong hồ sơ thi hành án chủ động hoặc hồ sơ thi hành án theo yêu cầu[1] (đều là bút lục số 01) và là căn cứ để chấp hành viên lập hồ sơ, ban hành các quyết định về THADS để tổ chức thi hành[2].

Kết hợp các khái niệm “việc”, “thi hành”, “THADS”, “điển hình” trong một số tài liệu[3] thì có thể hiểu: “Việc THADS điển hình là loại việc THADS có tính chất tiêu biểu, đặc trưng; có ý nghĩa đặc biệt về mặt lý luận và có giá trị tham khảo thực tiễn trong số các loại việc THADS do chấp hành viên, thừa phát lại thi hành nhằm đảm bảo thi hành đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực thi hành theo trình tự, thủ tục luật định”.

2. Ý nghĩa của việc xác định “việc thi hành án dân sự điển hình”

Một là, thực tế đã có nhiều việc THADS được xem là điển hình đã được thi hành thành công[4], nhưng cho đến nay, chưa có tài liệu nào tổng kết, đúc rút kinh nghiệm cho việc thi hành các việc THADS điển hình về sau. Việc tập hợp, nghiên cứu các việc THADS điển hình sẽ giúp phát hiện ra những sai sót, những “khoảng trống pháp lý” cần phải bổ sung, hoàn thiện trong quy trình thi hành án, tìm ra những “điểm nghẽn” dẫn đến quy trình thi hành án bị kéo dài, ảnh hưởng đến quyền cơ bản của con người và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Hai là, từ yêu cầu thực tiễn, để nâng cao hiệu quả thi hành các việc THADS điển hình nói riêng cũng như nâng cao hiệu quả thi hành án nói chung cần có sự đánh giá toàn diện, xuyên suốt toàn bộ các việc THADS còn vướng mắc, tồn đọng, kéo dài, để cùng tư duy, nhận định những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong hệ thống, từ tất cả các “mắt xích” trong hoạt động thi hành án, làm cơ sở cho việc xây dựng Luật Thi hành án dân sự toàn diện, hiệu quả hơn nữa. Do đó, việc nghiên cứu đề xuất tiêu chí việc THADS điển hình, đồng thời xây dựng hồ sơ việc THADS điển hình sẽ mang lại ý nghĩa mang tính thực tiễn và lý luận cao; đề xuất rút ngắn thời gian, đơn giản hóa trình tự, thủ tục thi hành án, đặc biệt là việc THADS điển hình.

Ba là, có những vụ việc THADS trọng điểm, phức tạp, kéo dài, có giá trị phải thi hành lớn, đặc biệt lớn hoặc mặc dù giá trị không lớn nhưng quá trình tổ chức thi hành rất khó khăn, phức tạp, tốn kém; việc thi hành những việc như vậy là chưa từng có tiền lệ; chưa có văn bản pháp luật quy định về trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định, trong khi về mặt nguyên tắc thì mọi bán án, quyết định đã có hiệu lực đều phải được thi hành. Thực tế khó khăn này đòi hỏi chấp hành viên phải có những kỹ năng, biện pháp nghiệp vụ và áp dụng sáng tạo pháp luật để tổ chức thi hành bản án, quyết định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự. Vậy, trong những trường hợp này, những việc như vậy được tổ chức thi hành có hiệu quả có thể trở thành những việc “thi hành án lệ“ không? Việc chấp hành viên áp dụng sáng tạo, linh hoạt các biện pháp kỹ năng, nghiệp vụ mà chưa được pháp luật quy định nhằm thi hành bản án, quyết định, bảo vệ hài hòa lợi ích của các bên có được xem là đã áp dụng lẽ công bằng[5] không? Hay nói cách khác, chấp hành viên có được áp dụng lẽ công bằng trong tổ chức thi hành bản án, quyết định khi pháp luật chưa quy định hoặc quy định còn mâu thuẫn, chưa rõ ràng hay không? Chấp hành viên có được áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự trong tổ chức thi hành bản án, quyết định khi việc áp dụng các nguyên tắc THADS không có kết quả? Đây là những vấn đề lớn, mới và có tính học thuật cao, cần phải tiếp tục nghiên cứu, áp dụng trong lĩnh vực THADS, đặc biệt là trình tự, thủ tục thi hành việc THADS điển hình.

Bốn là, làm rõ mối liên hệ giữa số lượng và tính chất của đơn vị được thống kê của Ngành Tòa án là “bản án, quyết định” với đơn vị thống kê của Ngành THADS là “việc THADS”. Sau một thời gian thực hiện Luật Thi hành án dân sự đã phát sinh một số bất cập như Tòa án không nắm được các bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên có được chấp hành đầy đủ hay không. Pháp luật hiện hành quy định cơ quan THADS khi ra quyết định về thi hành án phải “gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp”[6] chứ không gửi cho Tòa án nhân dân. Nhiều bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ ràng, không khả thi nên khó thi hành; một số Tòa án vì một lý do nào đó nên chậm trả lời hoặc không trả lời yêu cầu cơ quan THADS về giải thích bản án đã làm cho việc thi hành án gặp không ít khó khăn[7]. Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng, cần phải xác định cụ thể trách nhiệm của cơ quan THADS trong những trường hợp bản án, quyết định tuyên đã rõ ràng nhưng có yêu cầu Tòa án giải thích, sửa chữa, bổ sung[8]. Điều này cho thấy sự cần thiết phải làm rõ tính hiệu quả trong công tác phối hợp liên ngành giữa cơ quan Tòa án và cơ quan THADS. Thực tế có thể sẽ có việc THADS điển hình liên quan đến các khái niệm như “bản án tuyên không rõ, án khó thi hành”. Vậy, lý do và giải pháp là gì, liệu có mối liên hệ nào giữa tính chất điển hình trong việc THADS với tính chất điển hình trong cùng bản án, quyết định đã được tuyên trước đó? Quy định của pháp luật về vấn đề này như thế nào, trách nhiệm của mỗi cơ quan cũng như cơ chế phối hợp giữa Ngành Tòa án và Ngành THADS cũng cần phải tiếp tục nghiên cứu để tìm ra giải pháp cho vấn đề này.

3. Nguyên tắc lựa chọn việc thi hành án dân sự điển hình

Nguyên tắc được hiểu đơn giản đó là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”[9]. Vậy, nguyên tắc lựa chọn việc THADS điển hình là những yêu cầu cơ bản đặt ra nhất thiết phải tuân theo trong quá trình lựa chọn để xác định việc THADS điển hình. Lựa chọn việc THADS điển hình phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Một là, lựa chọn việc THADS điển hình phải dựa vào các tiêu chí của việc THADS điển hình. Trong hệ thống Tòa án nhân dân, khái niệm “án lệ” và “tiêu chí lựa chọn án lệ” cũng đã được áp dụng từ năm 2015 theo Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP) và những khái niệm này cũng đã được sửa đổi bởi Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP). Theo đó, án lệ là gì và được lựa chọn phải đáp ứng các tiêu chí nào được quy định cụ thể tại Điều 1, Điều 2 Nghị Quyết số 04/2019/NQ-HĐTP. Ở các nước thuộc hệ thống thông luật, tiêu biểu như Anh, Hoa Kỳ, Úc, “án lệ” chiếm vị trí quan trọng, được ví như mạch máu của hệ thống pháp luật “life blood of a legal system”, là nguồn luật chính thức[10]. Với các đặc điểm nêu trên, có thể hiểu rằng, để trở thành án lệ thì quyết định đó của Tòa án phải được ban hành từ một tình huống pháp lý tiêu biểu, điển hình, có tính mẫu mực để thẩm phán có thể dựa vào để đưa ra lý do cho quyết định trong vụ việc hiện thời. Do bản chất của hoạt động xét xử và hoạt động THADS là khác nhau nên không phải mọi bản án, quyết định được công nhận là án lệ sẽ trở thành những việc THADS điển hình ở giai đoạn thi hành án. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì có nhiều cách phân loại việc THADS khác nhau, tùy thuộc vào mục đích của mỗi cách phân loại. Ví dụ, việc THADS chủ động và việc THADS theo yêu cầu được phân loại dựa vào tính chất của khoản phải thi hành, chủ thể yêu cầu thi hành án và tính chủ động phụ thuộc khi ra quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan THADS (Điều 36 Luật Thi hành án dân sự và Thông tư số 06/2019/TT-BTP ngày 21/11/2019 của Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo thống kê THADS, theo dõi thi hành án hành chính (Thông tư số 06/2019/TT-BTP)). Đối với việc THADS trọng điểm thì căn cứ để thống kê việc THADS là dựa vào 01 trong 09 nhóm tiêu chí quy định tại Điều 3 Quyết định số 907/QĐ-TCTHADS ngày 29/8/2016 của Tổng cục Thi hành án dân sự quy định về tiêu chí xác định việc THADS trọng điểm (Quyết định số 907/QĐ-TCTHADS). Việc THADS điển hình là khái niệm pháp lý hoàn toàn mới nên chưa có văn bản quy định về tiêu chí xác định việc THADS điển hình. Sau khi bộ tiêu chí việc THADS điển hình được xác định thống nhất thì nguyên tắc đầu tiên trong việc lựa chọn việc THADS điển hình đó là phải dựa vào các tiêu chí của việc THADS điển hình. Tuy nhiên, bản án, quyết định được công nhận là án lệ cũng là một yếu tố cần cân nhắc kỹ hơn khi xem xét, lựa chọn việc THADS điển hình.

Hai là, việc lựa chọn việc THADS điển hình phải do cơ quan có thẩm quyền quyết định và theo trình tự, thủ tục của pháp luật. Trong giai đoạn xét xử, để việc phát triển án lệ trở thành nhiệm vụ thường xuyên, thiết thực và phát huy được tác dụng của án lệ, trước đây, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên của hệ thống Tòa án nhân dân Việt Nam về án lệ. Ngày 18/6/2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP thay thế cho Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP. Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2019 đã quy định việc lựa chọn án lệ phải thực hiện qua nhiều bước[11].

Tham khảo nguyên tắc của quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, quy trình lựa chọn và vận dụng giải pháp, bài học kinh nghiệm từ việc thi hành việc THADS điển hình cũng phải tuân theo quy trình, thủ tục chặt chẽ như: Xác định đúng chủ thể đề xuất việc THADS điển hình (gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức mà tập trung nhất chủ yếu là cơ quan THADS thông qua đề xuất của chấp hành viên, công chức Ngành THADS; văn phòng thừa phát lại thông qua đề xuất của các thừa phát lại; từ các văn phòng luật sư, công ty luật, các bên đương sự...); quy trình lựa chọn (lựa chọn việc THADS điển hình ở cấp Chi cục Thi hành án dân sự của mỗi Cục Thi hành án dân sự, sau đó lựa chọn việc THADS điển hình giữa các Cục Thi hành án dân sự, lựa chọn việc THADS điển hình do thừa phát lại thực hiện giữa các văn phòng thừa phát lại); thẩm quyền quyết định việc THADS điển hình (trên cơ sở kết quả thẩm định, lựa chọn của Hội đồng thẩm định việc THADS điển hình của Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành danh sách và nội dung các việc THADS điển hình); trong quá trình tổ chức thi hành các vụ việc THADS điển hình về sau cần vận dụng những giải pháp, bài học kinh nghiệm từ các việc THADS điển hình đã được công bố để rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án, hạn chế sai sót trong quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao hiệu quả công tác THADS đặc biệt là đối với những vụ việc THADS điển hình.

Ba là, việc THADS được lựa chọn là điển hình phải là việc mà bản án, quyết định làm căn cứ ban hành quyết định thi hành án chứa đựng những kiến nghị có giá trị của Tòa án hoặc những kiến nghị của cơ quan quản lý nhà nước về THADS, cơ quan THADS trong việc hoàn thiện pháp luật; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, khắc phục những hạn chế, thiếu sót của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về thi hành án nói riêng; kiến nghị cá nhân có thẩm quyền trực tiếp khởi tố vụ án khác, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải thích, đính chính bản án, quyết định...

Bốn là, lựa chọn việc THADS điển hình phải thực hiện theo định kỳ và có tính hệ thống. Hàng năm, trên cơ sở dữ liệu thống kê kết quả thi hành án về việc và về tiền, cần có đề xuất, lựa chọn những việc THADS điển hình theo những tiêu chí của việc THADS điển hình. Việc lựa chọn này cần được thực hiện có hệ thống, từ cấp huyện (thông qua lựa chọn của các Chi cục Thi hành án dân sự), đến cấp tỉnh (thông qua lựa chọn của các Cục Thi hành án dân sự) và cấp trung ương (thông qua lựa chọn của Tổng cục Thi hành án dân sự).

Năm là, kết quả lựa chọn việc THADS điển hình phải được công bố rộng rãi, ứng dụng trong công tác giáo dục, đào tạo nhằm cung cấp giải pháp, bài học kinh nghiệm thực tiễn cho các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ THADS cũng như cho cơ quan quản lý nhà nước về THADS, cho chấp hành viên và các cán bộ trong thực tiễn tổ chức thi hành án.

Sáu là, có cơ chế bãi bỏ việc THADS điển hình, thay đổi tiêu chí việc THADS điển hình. Khi hệ thống pháp luật nói chung, quy định của pháp luật THADS nói riêng thay đổi hoặc cùng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế, xã hội, hoặc từ thực tiễn công tác quản lý THADS, công tác THADS phát hiện việc THADS không đáp ứng các tiêu chí của việc THADS điển hình thì việc THADS được lựa chọn là điển hình cần xem xét, bãi bỏ. Việc bãi bỏ cần phải được thông tin kịp thời, rộng rãi tới đối tượng áp dụng nhằm ngăn chặn sai sót trong công tác THADS. Tiêu chí việc THADS điển hình cũng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn.

4. Các tiêu chí xác định “việc thi hành án dân sự điển hình”

Hiện nay, thống kê phân loại việc THADS được thực hiện theo Thông tư số 06/2019/TT-BTP. Ngoài ra, còn có các tiêu chí để phân theo việc THADS trọng điểm trên cơ sở Quyết định số 907/QĐ-TCTHADS được thực hiện từ ngày ban hành quyết định. Hoặc, trước việc gia tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng của tội phạm tham nhũng, kinh tế và hiệu quả thi hành thấp đối với các loại việc này, cơ quan quản lý nhà nước về THADS và cơ quan THADS địa phương còn thống kê theo loại việc tham nhũng, kinh tế.

Việc THADS chủ động và việc THADS theo yêu cầu được phân loại dựa vào tính chất của khoản phải thi hành, chủ thể yêu cầu thi hành án và tính chủ động hoặc phụthuộc khi ra quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan THADS (Điều 36 Luật Thi hành án dân sự và Thông tư số 06/2019/TT-BTP). Đối với việc THADS trọng điểm thì căn cứ để thống kê việc THADS là dựa vào 01 trong 09 nhóm tiêu chí quy định tại Điều 3 Quyết định số 907/QĐ-TCTHADS.

Hiện nay, pháp luật chưa quy định cụ thể về tiêu chí xếp loại việc THADS tham nhũng, kinh tế, tuy nhiên, có thể hiểu đó là việc THADS tổ chức thi hành các bản án về tham nhũng, kinh tế. Đây thường là những vụ việc có giá trị lớn, tính chất phức tạp, kéo dài, khó thi hành, người phải thi hành án thường là những chủ thể đặc biệt. Khác với căn cứ phân loại của việc THADS chủ động, việc THADS theo yêu cầu và việc THADS trọng điểm thì cách xác định việc THADS điển hình dựa vào tính chất tiêu biểu, đặc điểm đặc trưng của việc THADS; ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn để lựa chọn một số việc THADS trong tổng số các việc THADS thông thường là việc THADS điển hình. Cách lựa chọn việc THADS điển hình có thể dựa vào 06 nhóm tiêu chí: (i) Căn cứ vào thực trạng quy định của pháp luật (những việc thuộc tiêu chí thứ 03 và tiêu chí thứ 07 việc THADS trọng điểm); (ii) Căn cứ vào thực trạng tổ chức thi hành án (những việc thuộc tiêu chí thứ 04, tiêu chí thứ 05, tiêu chí thứ 06 việc THADS trọng điểm); (iii) Căn cứ vào dấu hiệu là chủ thể đặc biệt của các bên đương sự (những việc thuộc tiêu chí thứ 08 việc THADS trọng điểm); (iv) Căn cứ vào các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước (những việc thuộc tiêu chí thứ 01 việc THADS trọng điểm); (v) Căn cứ vào quyết định của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo Bộ Tư pháp, lãnh đạo địa phương và Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự (những việc thuộc các tiêu chí thứ 02 và tiêu chí thứ 09 của việc THADS trọng điểm); (vi) Đặc điểm, tính chất tiêu biểu của việc THADS tham nhũng, kinh tế.

TS. Nguyễn Văn Nghĩa
Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa
Chi cục THADS huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội


[1]. Điều 30 Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS.

[2]. Điều 36 Luật Thi hành án dân sự; các điều 6, 7, 8 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ).

[3]. Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2003; NCS. Bùi Đức Tiến, Luận án Tiến sỹ, Thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS ở Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2018, tr. 31 - 32.

[4]. Ví dụ, vụ Epco - Minh Phụng phải thi hành trên 4.000 tỷ đồng, vụ Tân Trường Sanh phải thi hành trên 1.000 tỷ đồng.

[5]. Khoản 3 Điều 45 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về xác định lẽ công bằng.

[6]. Điều 38 Luật Thi hành án dân sự.

[7]. Hương Bằng, “Chật vật” với các bản án tuyên không rõ, đăng tại https://baophapluat.vn/tu-phap/chat-vat-voi-cac-ban-an-tuyen-khong-ro-353683.html, ngày 19/11/2017.

[8]. ThS. Chu Thành Quang & Phùng Thị Hoàn, Tòa án nhân dân với công tác THADS qua các thời kỳ, Số chuyên đề 70 năm truyền thống THADS, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, năm 2016, tr. 134.

[9]. Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2003, tr. 964.

[10]. Nguyễn Bá Bình, Án lệ và sử dụng án lệ trong đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Tư pháp, 2019, tr. 7, chú thích 1.

[11]. Từ Điều 3 đến Điều 9 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: