Thứ năm 08/10/2026 08:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện bản chất pháp lý của nền tiền mã hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu khái niệm và những đặc điểm của tiền mã hóa so sánh với tài sản truyền thống, thực trạng về tiền mã hóa ở Việt Nam cũng như pháp luật về tiền mã hóa ở một số quốc gia trên thế giới.


Abstract: The article is engaged in research on concepts and characteristics of cryptocurrency in comparison with traditional properties, including the reality of cryptocurrency in Vietnam as well as the laws of cryptocurrency in some countries in the world.

Tiền mã hóa là đối tượng sinh ra trong giai đoạn phát triển của công nghệ thông tin. Ban đầu đối tượng này chỉ được coi như một loại sản phẩm của phần mềm máy tính với những tính chất đặc thù. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, tiền mã hóa đã phát triển và đi sâu vào trong các quan hệ xã hội như một tài sản có giá trị. Cũng vì thế mà những tranh chấp, mâu thuẫn đã phát sinh giữa các chủ thể liên quan đến đối tượng này. Do đó, ngày 21/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo.

1. Bản chất của tiền mã hóa

Có rất nhiều loại tiền mã hóa đang tồn tại trong hệ thống không gian ảo, phổ biến như Bitcoin, Litecoin, Namecoin, Ripple, Iota, Neo… Khởi đầu là đồng tiền ảo có tên gọi là Bitcoin xuất hiện vào năm 2009[1] và sau đó đã gia tăng chóng mặt về số lượng đạt mức 80 loại tiền ảo vào năm 2013. Đến tháng 4/2018 đã có khoảng hơn 1.584 đồng tiền mã hóa tương tự Bitcoin được giao dịch và định giá vào khoảng 393 tỷ USD[2].

Tiền mã hóa (cryptocurrency) là đối tượng được tạo ra bởi các mã toán học dựa trên mã nguồn mở. Hầu hết các loại tiền mã hóa được xây dựng dựa trên công nghệ blockchain. Nói một cách đơn giản, nó là một hệ thống truyền tải và lưu trữ dữ liệu hoặc thông tin được tạo ra trong khi giao dịch bằng một loại tiền mã hóa[3]. Về mặt lý thuyết, các thông tin lưu trữ trên khối blockchain là không thể thay đổi và phá hủy. Việc phát hành tiền mã hóa cũng tuân theo những quy tắc nhất định nhằm đảm bảo số lượng tiền được phát hành không quá nhiều sẽ gây ra tình trạng lạm phát giảm giá trị của đồng tiền. Tiền mã hóa thường được kiểm soát bởi các bên tư nhân và được sử dụng và chấp nhận thanh toán giữa các thành viên của một cộng đồng cụ thể[4].

Khác với tiền điện tử, cũng được số hóa, tức là tiền ở dạng những bit số (tiền điện tử phải đáp ứng đủ ba điều kiện[5] là lưu trữ điện tử, được phát hành dựa trên tiền thật và được chủ thể chấp nhận như một phương tiện thanh toán), thì tiền mã hóa chỉ đáp ứng được điều kiện thứ nhất và thứ ba (điều này khiến nhiều người nhầm lẫn giữa các khái niệm) nhưng lại không có được đặc điểm thứ hai. Ngoài ra, nếu như giá trị của tiền điện tử được tổ chức phát hành đảm bảo bằng việc cam kết sẽ chuyển đổi tiền điện tử sang tiền giấy theo yêu cầu của người sở hữu, thì đa phần các tiền mã hóa hiện nay được giao dịch mua bán hoàn toàn trên môi trường internet và không chịu sự quản lý của bất cứ cá nhân, tổ chức hay quốc gia nào.

Những nghiên cứu về tiền mã hóa đã chỉ ra rằng, bản chất của đối tượng này có những đặc điểm tương đồng với tài sản truyền thống và cũng có những đặc điểm đặc trưng riêng, bao gồm:

Thứ nhất, tính kiểm soát độc quyền: Có thể nói, đây là đặc tính cố hữu của tài sản thông thường. Nó đặt ra giới hạn sử dụng của tài sản tại bất kỳ thời điểm nào đối với một người[6]. Ví dụ, khi một người đi một đôi giày thì người khác không thể sử dụng nó hay nói một cách khác tại một thời điểm xác định thì việc sử dụng đôi giày chỉ dành cho một người. Tiền mã hóa cũng có những tính chất cá nhân hóa người sử dụng thông qua hệ thống tài khoản và mật khẩu mà phần mềm quy định. Đối với đa số các loại tiền mã hóa hiện nay tại cùng một thời điểm chỉ có thể được kiểm soát, sử dụng, điều khiển bởi một người làm chủ. Chính sự mô phỏng đặc điểm này của tiền mã hóa so với tài sản thông thường mà người sử dụng có thể đầu tư vào tiền kỹ thuật số mà không lo sợ rằng tiền kỹ thuật số đó có thể bị người khác chiếm giữ hay sử dụng[7]. Đây cũng là đặc tính thể hiện sự chiếm hữu của người sở hữu đối với các loại tiền mã hóa.

Thứ hai, tính tồn tại liên tục: Tính tồn tại một cách liên tục không gián đoạn về thời gian, không phụ thuộc vào việc liệu nó có được sử dụng hay không là đặc tính cố hữu của các loại tài sản thông thường[8]. Ví dụ, một chiếc máy vi tính đặt trên bàn, cho dù nó có được sử dụng hay không thì sau một khoảng thời gian nó vẫn tồn tại, duy trì là một chiếc máy vi tính. Tiền mã hóa cũng có những đặc tính tương tự. Khi người chơi đăng xuất tài khoản ra khỏi hệ thống internet không đồng nghĩa với việc đoạn mã đó ngừng hoạt động mà trái lại nó vẫn luôn tồn tại, duy trì và phát triển trên blockchain. Khi người chơi đăng nhập trở lại thì các tài sản đó được hiển thị trở lại. Việc mô phỏng các đặc tính của tài sản thông thường tạo nên giá trị cho tiền mã hóa. Tuy vậy, mức độ duy trì của tài sản ảo lại kém bền vững hơn so với tài sản thông thường. Việc tồn tại của tài sản thông thường là khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người nhưng sự tồn tại của tiền mã hóa lại luôn gắn với thế giới ảo.

Thứ ba, tính kết nối xã hội: Đây là đặc tính cố hữu của các tài sản thông thường làm ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi nhiều hơn một người và bởi tài sản khác[9]. Các tài sản thông thường không hề tách rời, độc lập mà có những mối liên hệ với nhau và mối liên hệ đối với các loại tài sản khác. Ví dụ, nếu nhiều người tập trung mua nhiều vàng cùng lúc ở một mức độ nào đó sẽ làm giá trị của vàng tăng lên, đều này sẽ gây ảnh hưởng đến những người đang sở hữu tài sản là vàng khác theo hướng tích cực hoặc tiêu cực tùy vào mục đích của người đó. Tiền mã hóa cũng có những đặc tính tương tự. Tính kết nối xã hội còn được biểu hiện ở việc khi một người sở hữu tài sản, mọi người đều có thể tương tác với tài sản đó khi được sự đồng ý của chủ sở hữu[10]. Như vậy, có thể thấy, môi trường ảo của tiền mã hóa cho phép nhiều người tham gia trải nghiệm và sự liên kết, kết nối giữa những người chơi với nhau tạo ra giá trị của tiền mã hóa mô phỏng theo đặc tính của các tài sản thông thường.

Tác giả Theodore J. Westbrook cho rằng, tài sản ảo có đặc tính có thể chuyển giao[11]. Tuy nhiên, xét về bản chất, thì việc có thể chuyển giao chỉ là một đặc tính cụ thể nằm trong nội hàm của tính kết nối xã hội. Các loại tiền mã hóa hiện nay đều có thể chuyển giao giữa những người tham gia bằng hình thức mua bán, trao đổi, tặng cho thông qua một kênh giao dịch ảo của chính môi trường ảo đó hoặc kênh giao dịch ảo trung gian.

Thứ tư, tính vô hình: Tiền mã hóa là những đoạn mã máy tính được lưu trữ điện tử trong thế giới trực tuyến. Điều này, đồng nghĩa với việc tiền mã hóa về bản chất được tồn tại dưới dạng vật chất xác định cụ thể. Tuy nhiên, mặc dù nó là các đoạn mã máy tính được hình thành trong môi trường ảo nhưng rõ ràng người tham gia không thể chiếm hữu các đoạn mã này. Người tham gia chỉ có thể cảm nhận nó thông qua hình thức biểu hiện trở lại máy tính của chương trình quy định. Vì thế, tiền mã hóa có những đặc tính giống với tài sản vô hình được ghi nhận trong pháp luật dân sự.

Việc yêu cầu tài sản phải là giá trị hữu hình hoặc phải có khách thể mang giá trị hữu hình là chưa phù hợp. Quyền sở hữu trí tuệ là khách thể mang tính chất “ảo”, đối tượng tài sản trí tuệ mà Luật Sở hữu trí tuệ hướng đến để bảo vệ nó là tài sản vô hình - một tác giả còn nhận xét nó là tài sản vô hình tuyệt đối[12]. Quyền tác giả, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp... có thể được thể hiện dưới dạng hình thức vật chất nhất định nhưng cái mà Luật Sở hữu trí tuệ bảo vệ dưới dạng tài sản lại không phải là các hình thức vật chất này mà là những ý tưởng sáng tạo, trí tuệ của con người. Hệ thống pháp luật chung của Anh và Mỹ đã công nhận những lợi ích thực sự nhưng hoàn toàn vô hình[13] như tiền mã hóa. Như vậy, có thể thấy, với quy định của pháp luật hiện hành thì những giá trị vô hình nhưng mang lại những lợi ích như tài sản trí tuệ thì vẫn được công nhận là tài sản để hưởng những quy định bảo vệ quyền và lợi ích cho chủ sở hữu khi tài sản vô hình trên bị xâm phạm.

Thứ năm, tính tồn tại có thời hạn: Khác với tài sản thông thường, sự tồn tại của tiền mã hóa phụ thuộc vào sự tồn tại của phần mềm trực tuyến quy định nên nó. Khi chương trình còn tồn tại thì tiền mã hóa tồn tại, khi chương trình chấm dứt tiền mã hóa cũng theo đó mà chấm dứt. Chúng ta không thể tách đoạn mã quy định tiền mã hóa ra khỏi chương trình. Mặc dù, việc tách có thể thực hiện một cách cơ học nhưng về bản chất đoạn mã đó sẽ không thể biểu hiện ra bên ngoài khi thiếu chương trình tạo nên nó, do đó lợi ích của nó sẽ không còn tồn tại trong thực tế.

Cũng có những quan điểm không đồng ý về vấn đề sở hữu tài sản ảo vì lý do hạn chế về thời gian kiểm soát, quản lý cũng như tuổi thọ không cố định của các loại tài sản này[14]. Tuy nhiên, nếu xét những tài sản trong thực tế được công nhận quyền sở hữu hiện nay như sáng chế[15], quyền tác giả... thì việc sở hữu đối với các loại tài sản này cũng sẽ hết hạn sau một khoảng thời gian. Một đối tượng khác là nhãn hiệu có thể không được bảo vệ quyền sở hữu nếu chúng không được sử dụng trên thị trường[16]. Như vậy, những hạn chế về mặt thời gian vốn có trong tiền mã hóa hầu như không khác biệt so với những lợi ích tạm thời mà chúng ta thấy trong thực tế và các tài sản trí tuệ.

2. Tiền mã hóa ở một số quốc gia trên thế giới

Theo tài liệu thống kê[17] đối với một số quốc gia trên thế giới về vấn đề giải quyết những thách thức do các loại tiền tệ ảo mang lại, thì tồn tại bốn xu hướng: Chấp nhận, cấm, đang phân vân, chấp nhận ở một dạng khác. Trên thực tế, số lượng các quốc gia chấp nhận tiền ảo như một loại tiền tệ không nhiều, nhưng hầu hết đây là những quốc gia có nền kinh tế rất phát triển.

Tại Nhật Bản, ngày 01/4/2017, Cơ quan Dịch vụ tài chính Nhật Bản đã ban hành một đạo luật mới cho phép sử dụng tiền mã hóa làm phương thức thanh toán, về cơ bản cấp cho nó địa vị pháp lý giống như bất kỳ loại tiền tệ khác[18]. Luật được ban hành sau nhiều tháng tranh luận, cuối cùng đã đưa các trao đổi Bitcoin theo các quy tắc chống rửa tiền và kết quả là phân loại Bitcoin như là một công cụ thanh toán trả trước. Để kiểm soát các giao dịch cũng như ngăn chặn các hành vi tiêu cực thì các sàn giao dịch buộc phải xác minh thông tin nhân thân khách hàng, nội dung giao dịch… nhằm kiểm soát nguồn vốn và tránh việc lợi dụng tiền mã hóa vào các mục đích bất hợp pháp như rửa tiền, tài trợ khủng bố… Ngoài ra, Luật cũng quy định việc đăng ký của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trao đổi tiền mã hóa.

Tại Pháp, ngày 22/02/2018, Ủy ban Chứng khóa Pháp (AMF) đã đề xuất với Chính phủ ba giải pháp để điều chỉnh các loại tiền mã hóa bao gồm: (i) Hướng dẫn thi hành đối với luật mà không làm thay đổi luật hiện hành; (ii) Mở rộng phạm vi luật hiện hành để xử lý các ICO[19] như dịch vụ chứng khoán ra công chúng; (iii) Đề xuất luật mới phù hợp với ICO. Trong đó, phương án (iii) về ban hành luật mới nhận được sự nhiều sự đồng thuận nhất[20].

Tại Mỹ, những tổ chức sử dụng tiền ảo cần phải tiến hành đăng ký hoạt động kinh doanh dưới hình thức một công ty dịch vụ kinh doanh tiền tệ, đồng thời phải tuân thủ mọi quy định về báo cáo và lưu trữ hồ sơ trước Bộ Tài chính của Mỹ. Theo đó, hoạt động này sẽ tiến hành lưu trữ các hồ sơ, lưu trữ danh sách các đại lý giao dịch tiền ảo, báo cáo các giao dịch, báo cáo các hành vi đáng ngờ, hồ sơ về công cụ tiền tệ, quy định nhằm chống tội phạm rửa tiền, các nguyên tắc chuyển tiền và hồ sơ đổi tiền[21]. Tuy nhiên, các bang của Mỹ lại có những quy định khác nhau về tiền mã hóa. Một số tiểu bang Mỹ có kế hoạch phê duyệt hoặc chấp nhận việc sử dụng Bitcoin và công nghệ blockchain, trong khi một số đã chuyển chúng thành luật bao gồm Arizona (công nhận hợp đồng thông minh), Vermont (blockchain làm bằng chứng) và Delaware (đang chờ chủ động cấp phép đăng ký cổ phần của các công ty Delaware ở dạng blockchain)[22].

Tại châu Âu, ngày 22/10/2015, Tòa án Công lý châu Âu đã ban hành Án lệ C-264/14 liên quan đến các giao dịch mua và bán đơn vị tiền ảo Bitcoin để trao đổi với các đồng tiền truyền thống. Theo đó, Tòa án Công lý châu Âu đã xác định bản thân Bitcoin là một đơn vị tiền tệ, nó cũng là một loại vật ngang giá được xây dựng bằng niềm tin của công chúng, tương tự như Euro hay Đô la, nhưng sở hữu nhiều ưu điểm hơn các loại tiền truyền thống, phù hợp cho một thế giới được liên kết bằng internet như hiện nay[23]. Quyết định của Tòa án Công lý châu Âu đã xem Bitcoin tương tự như một loại phương tiện thanh toán hợp pháp, từ đó Tòa án đã phán quyết rằng, các giao dịch trao đổi Bitcoin lấy các loại tiền tệ truyền thống là một hoạt động cung ứng dịch vụ vì mục đích lợi nhuận.

Tuy nhiên, vẫn có khá nhiều quốc gia hiện nay không thừa nhận các hoạt động tài chính liên quan đến tiền mã hóa có thể kể đến như: Bangladesh, Bỉ, Ecuador, Indonesia, Mexico, Serbia, Nam Phi, Hàn Quốc,... Hoặc một số quốc gia vẫn còn phân vân cân nhắc và đang trong quá trình xây dựng luật về vấn đề này như: Argentina, Malaysia.

3. Thực trạng tiền mã hóa ở Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam chưa có những quy định cụ thể nhằm điều chỉnh tiền mã hóa hay thừa nhận chính thức về tính tài sản của tiền mã hóa trong khi các giao dịch liên quan đến đối tượng này đang ngày càng gia tăng. Điều này đã làm cho việc xử lý của các cơ quan nhà nước gặp nhiều khó khăn, thậm chí tạo ra các quan điểm trái chiều.

Điển hình như ngày 12/5/2016, Chi cục Thuế thành phố Bến Tre ra Quyết định số 714/QĐ-CCT xử phạt ông C số tiền thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân phát sinh từ hoạt động mua bán tiền ảo (tiền mã hóa) của ông C. Cũng trong vụ việc này, ngày 01/4/2016, Bộ Tài chính đã có Công văn số 4356/BTC-TCT nêu rõ: “… Hoạt động mua bán tiền kỹ thuật số là hoạt động mua bán hàng hóa và được xếp vào loại hình hoạt động kinh doanh thương mại; tiền kỹ thuật số thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và cá nhân kinh doanh tiền kỹ thuật số thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân…”. Ngoài ra, Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng có công văn xác định: Pháp luật hiện hành không có quy định ngành nghề kinh doanh nạp tiền ảo và cũng không có khái niệm tiền ảo, đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh việc mua bán tiền ảo trên internet. Ông C đã khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định trên. Kiểm sát viên tham gia phiên toà cho rằng, ông C có hành vi mua bán tiền kỹ thuật số, việc mua bán tiền kỹ thuật số là kinh doanh hàng hóa. Tòa án đã nhận định, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có bất cứ một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định tiền kỹ thuật số (tiền ảo) là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng Việt Nam… Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tiền ảo là tiền tệ, phương tiện thanh toán hợp pháp. Đồng thời, Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phát hành, cung ứng và sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp như Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự. Từ đó, Tòa án đã tuyên chấp nhận yêu cầu của ông C về việc hủy Quyết định số 714/QĐ-CCT[24]. Hay như ngày 26/10/2017, Đại học FPT đã thông báo về việc chấp nhận sinh viên nộp học phí bằng Bitcoin[25], thì ngày 28/10/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có thông báo về việc Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam, việc phát hành, cung ứng, sử dụng Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác làm phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm tại Việt Nam[26].

Như vậy, trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau khi áp dụng pháp luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến tiền mã hóa tại Việt Nam xuất phát từ việc các quy định hiện nay không rõ ràng theo hướng “không cấm” nhưng cũng “không thừa nhận”. Điều này sẽ làm tăng nguy cơ bất ổn trong việc giải quyết các tranh chấp về tiền mã hóa và đòi hỏi cần có một cơ chế điều chỉnh rõ ràng, minh bạch hơn.

4. Kết luận

Những phân tích trên cho thấy, tiền mã hóa có những đặc điểm, đặc tính giống với các tài sản truyền thống. Pháp luật Việt Nam hiện hành không có quy định cụ thể điều chỉnh tiền mã hóa đã và đang gây ra những hệ lụy xã hội như thất thu thuế, không thể quản lý kinh doanh… Tác giả cho rằng, bản chất của tiền mã hóa là một loại tài sản thể hiện dưới dạng quyền tài sản. Tuy nhiên, cũng có những đặc điểm khác biệt của tiền mã hóa so với tài sản truyền thống nên việc ghi nhận và bảo hộ tài sản là tiền mã hóa cần có những cách thức riêng biệt để hạn chế những nhược điểm của nó đối với xã hội liên quan đến các vấn đề như rửa tiền, lừa đảo, tài trợ khủng bố... Việc nghiên cứu và phân tích các cách thức bảo hộ tiền mã hóa của một số quốc gia tiên phong như Nhật Bản, Mỹ, Liên minh châu Âu… sẽ giúp cho Việt Nam xây dựng cơ chế bảo hộ đối với tiền mã hóa phù hợp với cơ sở hạ tầng và điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước.

ThS. Nguyễn Nhật Thanh

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh





[1]. Mai Anh, “Tiền ảo Bitcoin là gì ?”, https://sohoa.vnexpress.net/tin-tuc/doi-song-so/tien-ao-bitcoin-la-gi-3635439.html (truy cập ngày 02/4/2018).

[2]. Https://coinmarketcap.com/all/views/all/ (truy cập ngày 23/4/2018).

[3]. IRJMS, International Research Journal Of Multidiscoplinara Studies, Vol.4, Issue 2, Feb.2018, tr. 64.

[4]. Redmar Wolf (2014), “Bitcoin and EU VAT”, International VAT Monitor September/October, tr. 255.

[5]. Chỉ thị số 2009/110/EC ngày 16/9/2009 của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng về việc giám sát, theo dõi và giám sát an toàn công việc của các tổ chức tiền điện tử sửa đổi Chỉ thị số 2005/60/EC và Chỉ thị số 2006/48/EC và bãi bỏ Chỉ thị số 2000/46/EC (OJ 2009 L 267, tr. 7).

[6]. Charles Blazer (2007), “The Five Indicia of Virtual Property”, Pierce Law Review, (2), tr.143.

[7]. Joshua Fairfield (2005), “Virtual property”, Boston University Law Review, Vol. 85, Issue 4, tr.1053.

[8]. Joshua Fairfield (2005), “Virtual property”, Boston University Law Review, Vol. 85, Issue 4, tr.1054.

[9]. Charles Blazer (2007), “The Five Indicia of Virtual Property”, Pierce Law Review, (2), tr.145.

[10]. Xem: Đỗ Thành Công (2010), “Virtual property rights in online games: a vietnamese perspective”, tr. 2.

[11]. Theodore J. Westbrook (2006), “Owned- Finding a Place for Virtual World Property Rights”, Mich. St. L. tr. 779.

[12]. Nguyễn Ngọc Điện (2009), Nghiên cứu về tài sản trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tr. 70.

[13]. Dan Hunter and F.Grehory Lastowka (2003), “Virtual Property”, For presentation at the State of Play Conference, NewYork Law School, 13-14 November 2003, tr. 22.

[14]. Lê Bá Hưng (2014), “Tài sản - Tài sản ảo game online, những bất cập và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ I tháng 7 - 2014 (số 13), tr.12.

[15]. Khoản 2 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn”.

[16]. Khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn,có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm”.

[17]. Https://www.marketwatch.com/story/heres-how-the-us-and-the-world-are-regulating-bitcoin-and-tiền tệ ảo-2017-12-18 (truy cập ngày 31/12/2017).

[18]. Xem thêm tại https://www.coindesk.com/japan-bitcoin-law-effect-tomorrow/ (truy cập ngày 20/5/2018).

[19]. Initial Coin Offering là một hình thức kêu gọi vốn đầu tư khá phổ biến trong các dự án tiền thuật toán.

[20]. http://www.amf-france.org/en_US/Actualites/Communiques-de-presse/AMF/annee-2018?docId=workspace%3A%2F%2FSpacesStore%2F57711a6c-4494-4215-993b-716870ffb182 (truy cập ngày 20/5/2018).

[21]. Xem thêm: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), “Nghiên cứu về tiền ảo Bitcoin và các khuyến nghị quản lý tiền ảo ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Hà Nội, tr.47-48.

[22]. Https://www.marketwatch.com/story/heres-how-the-us-and-the-world-are-regulating-bitcoin-and-cryptocurrency-2017-12-18 (truy cập ngày 21/5/2018).

[23]. Xem: In Case C-264/14 of Judgment of the court (Fifth Chamber), ngày 22/10/2015.

[24]. Xem: Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

[25]. Xem: Https://tuoitre.vn/dh-fpt-chap-nhan-thu-hoc-phi-bang-bitcoin-20171026224058222.htm (truy cập ngày 20/5/2018).

[26]. Xem http://dantri.com.vn/kinh-doanh/fpt-thu-hoc-phi-bang-bitcoin-co-the-bi-phat-toi-200-trieu-dong-20171028094812322.htm (truy cập ngày 20/5/2018).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: