Thứ tư 15/04/2026 06:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện tiêu chí tiết kiệm, lãng phí

Tóm tắt: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành, các địa phương. Do đó, việc nhận diện và định hình tiêu chí tiết kiệm, lãng phí là một việc làm có ý nghĩa quan trọng.

Tóm tắt: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành, các địa phương. Do đó, việc nhận diện và định hình tiêu chí tiết kiệm, lãng phí là một việc làm có ý nghĩa quan trọng.

Abstract: Practicing economy, preventing waste have been defined as a central duty of all levels, branches and localities. Therefore, the identifying and shaping criteria of saving, waste has important meaning.


1. Tình hình thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là cơ sở pháp lý cao nhất cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Sau khi Luật này ra đời, nhiều văn bản hướng dẫn đã được xây dựng, ban hành, đồng thời tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật khác tạo thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đồng bộ cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Về cơ bản, các văn bản quy phạm pháp luật đã tác động trực tiếp tạo ra sự chuyển biến trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là một số nội dung như thực hiện cơ chế khoán chi, tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với cơ quan nhà nước và một số giải pháp mạnh nhằm chấn chỉnh những lĩnh vực có lãng phí lớn. Các bộ, ngành đã ban hành mới và bổ sung các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật để làm cơ sở cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trong quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đã rà soát, sửa đổi các tiêu chuẩn, định mức phân bổ ngân sách, xây dựng tiêu chí phân bổ vốn đầu tư phát triển, định mức chi thường xuyên.

Chính phủ, các bộ, ngành, các địa phương triển khai xây dựng chương trình hành động để thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng như Luật Phòng, chống tham nhũng. Chương trình hành động của các cấp, các ngành đã quy định những việc làm cụ thể để thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản quy phạm pháp luật khác, thể hiện ý thức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chương trình hành động đã định hướng cho cơ quan, tổ chức trong phạm vi và lĩnh vực quản lý của mình, khắc phục những tồn tại, thực hiện tiết kiệm sử dụng các nguồn lực, bảo vệ tài sản quốc gia, mang lại lợi ích cho cơ quan, tổ chức và xã hội.

Việc tuyên truyền, phổ biến Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được các cơ quan nhà nước đặc biệt quan tâm và được nhân dân hưởng ứng. Nội dung của Luật này đã được tổ chức học tập, phổ biến, quán triệt kịp thời trước khi Luật có hiệu lực... Những việc làm đó đã tác động tích cực, giúp nhận thức rõ hơn các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; nhận diện ngày càng rõ hơn các hành vi lãng phí và hậu quả lãng phí.

Với mục tiêu đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; thực hiện có trọng tâm, trọng điểm để tạo chuyển biến rõ rệt trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí với những kết quả cụ thể, Nhà nước đã tập trung xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí nhằm phát huy cao nhất mọi nguồn lực để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội. Kết quả triển khai thực hiện Luật và chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được tiến hành khá mạnh mẽ tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và xã hội. Ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và xã hội đã được quan tâm và dần được nâng lên. Các phong trào thi đua của các đoàn thể quần chúng, trong nhân dân đã được phát động. Báo chí đã vào cuộc phản ánh những vụ việc thất thoát, lãng phí. Hệ thống giám sát, đặc biệt là giám sát của cơ quan dân cử đang từng bước được hoàn chỉnh để bảo đảm nguyên tắc “dân biết, dân kiểm tra” nhằm phát hiện và đưa ra công luận những vụ việc tiêu cực, gây lãng phí, gây thất thoát tài sản, tiền của của nhân dân, của Nhà nước và đã có những hình thức xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

2. Tiêu chí tiết kiệm, lãng phí

Tiêu chí của tiết kiệm hay lãng phí cần được xác định cụ thể cho từng loại hoạt động, từng nguồn công quỹ hoặc hoàn cảnh nhất định. Tiêu chí tiết kiệm, lãng phí có thể mang tính định tính hoặc định lượng. Các tiêu chí định lượng thể hiện qua tính kinh tế, tính hiệu quả của quyết định, của hoạt động và hoàn toàn có thể thiết lập cho từng loại hoạt động, từng môi trường cụ thể, bằng những thông tin có thể đo lường (như lãng phí hay tiết kiệm tài sản, tài nguyên, vốn, nhân lực, thời gian). Các tiêu chí định tính được xây dựng và sử dụng cho những đánh giá tiết kiệm hay lãng phí trong xây dựng vận hành thể chế, chính sách và thủ tục hành chính... Ví dụ như thể chế, cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng, năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh.

Đi sâu vào từng lĩnh vực hoạt động có thể nhận diện tiết kiệm, lãng phí và xây dựng các tiêu chí mang tính định lượng và các tiêu chí mang tính định tính. Quan trọng là phải nhận diện hình thức, biểu hiện của lãng phí, tiết kiệm làm cơ sở cho nền tảng đưa ra các tiêu chí cần thiết cho từng lĩnh vực, từng loại hình tổ chức trong nền kinh tế - xã hội.

Thứ nhất, trong quản lý ngân sách nhà nước, ngân quỹ quốc gia: Các chế độ, chính sách của Nhà nước về tài chính được các tổ chức và cá nhân chấp hành và thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đúng quy định, từ việc huy động, tập trung nguồn thu ngân sách nhà nước, phân bổ và sử dụng ngân sách, ngân quỹ nhà nước. Nhiều quyết định, quy định của Nhà nước đã được tuân thủ như chấp hành quy trình thủ tục thu nộp thuế, phí, lệ phí, phân bổ ngân sách, sử dụng ngân quỹ. Trong nhiều năm đã tiết kiệm 10% kinh phí thường xuyên, cắt giảm ngay từ khâu phân bổ hay việc tạm dừng mua xe ô tô mới, hạn chế tình trạng trang bị xe ô tô không đúng tiêu chuẩn.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, quỹ ngân sách nhà nước chưa thực sự tiết kiệm, còn lãng phí. Hoàn toàn có thể nhận dạng và định lượng được sự lãng phí, thất thoát ngân sách và ngân quỹ nhà nước thông qua những biểu hiện như sau:

- Thất thu ngân sách nhà nước, tập trung không kịp thời, chậm nộp, nợ đọng thuế, phí. Tình trạng gian lận, trốn thuế, gian lận trong chuyển giá, trong tính trị giá chịu thuế hoặc thuế suất.

- Điều tiết sai giữa ngân sách các cấp do vô tình hoặc cố ý.

- Phân bổ ngân sách không đúng mục tiêu, mục đích, không tuân thủ định mức phân bổ kinh phí chi thường xuyên, không tuân thủ các tiêu chí phân bổ vốn đầu tư xây dựng, vi phạm các điều kiện phân bổ kinh phí, giải ngân các nguồn vốn...

- Sử dụng sai kinh phí ngân sách, không đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ. Chấp hành Luật Ngân sách nhà nước và chính sách của Nhà nước có những biểu hiện tùy tiện, chưa nghiêm, việc dùng ngân sách cho vay, cho tạm ứng sai chế độ quy định vẫn còn diễn ra. Tình trạng sử dụng nguồn vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án không đúng mục tiêu, vượt định mức và dự toán... Việc công khai, minh bạch các khoản chi tiêu chưa được thực hiện thường xuyên, còn mang tính hình thức. Công tác quản lý, giám sát hoạt động thu - chi của một số ngành có thu, các đơn vị sự nghiệp có thu và việc chuyển đơn vị sự nghiệp có thu sang hoạt động theo mô hình tự chịu trách nhiệm về tài chính còn chậm.

Thực tế cho thấy, các sai phạm tài chính liên quan đến ngân sách, ngân quỹ nhà nước do Kiểm toán Nhà nước phát hiện và yêu cầu xử lý tài chính năm 2017 là 91.322 tỷ đồng; 06 tháng đầu năm 2018, theo tổng hợp chưa đầy đủ đã là 22.669 tỷ đồng, trong đó tăng thu cho ngân sách nhà nước 12.614 tỷ đồng, giảm chi ngân sách nhà nước 8.600 tỷ đồng, đã có một số hồ sơ được chuyển sang cơ quan điều tra để làm rõ những dấu hiệu hình sự.

Thứ hai, trong quản lý đầu tư xây dựng: Dấu hiệu của lãng phí là tình trạng vi phạm quy trình đầu tư, không thực hiện đấu thầu, vi phạm thủ tục thanh quyết toán, tính toán không đúng khối lượng đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành, áp sai đơn giá, định mức. Lãng phí lớn nhất là đầu tư không đúng quy hoạch, không đúng mục đích đầu tư, thi công trong thời gian dài, chậm đưa công trình vào sử dụng, chất lượng công trình, dự án kém. Trên thực tế, việc đấu thầu và đấu giá công trình, dự án đã tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Thông qua thẩm tra hồ sơ thanh quyết toán công trình, dự án đã cắt giảm hàng nghìn tỷ đồng do khối lượng đầu tư, do đơn giá, định mức và đặc biệt là do chất lượng công trình, dự án, do những phát sinh không hợp lý, không đúng thủ tục.

Kỷ luật chấp hành kế hoạch bố trí vốn đầu tư chưa nghiêm, phân bổ, sử dụng vốn cho các dự án đầu tư còn dàn trải, số lượng dự án nhiều, tình trạng dự án kéo dài. Thực hiện đầu tư và giải ngân còn chậm. Bố trí vốn cho các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản thiếu chặt chẽ, gây lãng phí, thất thoát vốn, chất lượng công trình thấp. Công tác xử lý sau thanh tra, việc xử lý các sai phạm còn chưa mạnh mẽ. Tình trạng nợ đọng vốn đầu tư xây dựng kéo dài cản trở doanh nghiệp quay vòng vốn, không phát huy hiệu quả vốn ngân sách.

Thứ ba, trong quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản: Đây là nguồn lực quan trọng của đất nước, là nguồn lực quốc gia thuộc sở hữu toàn dân, nhưng đây cũng là lĩnh vực lãng phí, thất thoát lớn, là sự lãng phí tài nguyên, tài sản quốc gia. Lãng phí trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên, khoáng sản thể hiện dưới các dạng như sau:

- Quy hoạch không đúng, quy hoạch treo: Việc quy hoạch nhiều khi còn mang tính chất hình thức, chất lượng không cao, công tác dự báo còn thiếu tính khoa học, chất lượng của các phương án quy hoạch thấp, dự báo không sát tình hình, quy hoạch không hợp lý, mang nặng tính chủ quan duy ý chí.

- Các phương án sử dụng đất được xây dựng thiếu khoa học hoặc đã xây dựng nhưng không được tuân thủ. Tình trạng lạm quyền và độc quyền trong các quyết định về đất đai, khai thác khoáng sản gây lãng phí, thậm chí dẫn đến chiếm đoạt, biến tài sản thuộc sở hữu quốc gia, sở hữu toàn dân thành sở hữu của cá nhân hoặc nhóm lợi ích, tham nhũng, gây tác động xấu không chỉ trước mắt mà còn tác động tiêu cực lâu dài.

- Tình trạng khai thác và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp lãng phí và sai mục đích.

- Nhiều địa phương nôn nóng phát triển khu công nghiệp và đô thị đã quy hoạch sử dụng đất vượt quá khả năng đầu tư và điều kiện thực tế của địa phương dẫn đến tình trạng lãng phí không nhỏ về đất đai. Quản lý và sử dụng đất còn nhiều buông lỏng gây ra những tiêu cực trong sử dụng đất. Tình trạng đất để hoang hoặc sử dụng đất không đúng mục đích còn xảy ra.

- Khai thác, sử dụng tài nguyên khác (nước, khoáng sản, rừng) còn nhiều lãng phí. Tại một số địa phương, do thiếu kiểm tra, thanh tra và đưa ra các giải pháp hợp lý nên để xảy ra tình trạng khai thác tài nguyên trái phép, bừa bãi..., làm lãng phí lớn một nguồn tài nguyên của đất nước.

Thứ tư, trong quản lý và sử dụng trụ sở làm việc, nhà ở công vụ: Đây là những tài sản quốc gia được đầu tư qua nhiều năm, nhưng tình trạng lãng phí diễn ra dưới nhiều hình thức như sử dụng sai công năng, sai mục đích; chiếm dụng hoặc chiếm đoạt làm tài sản riêng của tập thể, cá nhân, khai thác và sử dụng vì lợi ích nhóm; đã đầu tư xây trụ sở mới hoặc nhận diện tích, trụ sở mới nhưng không giao lại trụ sở cũ, vẫn tiếp tục chiếm dụng và sử dụng vì những mục đích không rõ ràng.

Thứ năm, trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp: Tình trạng thất thoát, lãng phí tài sản, vốn nhà nước trong khâu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài; việc sử dụng vốn, tài sản nhà nước không đúng mục đích; thủ tục thành lập, giải thể doanh nghiệp mặc dù đã được đơn giản hóa song trên thực tế, còn có nhiều giấy phép con gây lãng phí thời gian, tốn kém cho doanh nghiệp. Lãng phí về các thủ tục hành chính là đáng kể, gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Thứ sáu, trong đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động

- Thiếu quy hoạch và chiến lược đào tạo: Sự bất cập về cơ cấu đào tạo; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động được đào tạo; chi phí đào tạo của cả Nhà nước và xã hội bỏ ra là lớn nhưng hiệu quả không cao, lãng phí nhiều do lao động được đào tạo phải đào tạo lại, làm việc không đúng ngành nghề được đào tạo.

- Việc chấp hành kỷ luật lao động, hiệu quả ngày công lao động ở một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức ở hầu hết các cơ quan vẫn chưa thực hiện tốt. Tình trạng hội họp còn nhiều, nhiều cuộc hội nghị tổng kết, các cuộc họp chất lượng chưa cao nên gây lãng phí lớn cho xã hội.

Thứ bảy, trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân: Cần đánh giá trên các tiêu chí số lượng và quy mô lễ hội, cưới xin, ma chay, đánh giá ý thức tiết kiệm của nhân dân.

Về nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: (i) Pháp luật về vấn đề này còn bất cập và chưa được tuân thủ nghiêm minh; (ii) Tổ chức quản lý thiếu chặt chẽ, chỉ đạo, điều hành thiếu kiên quyết, chất lượng quy hoạch thấp, quản lý thực hiện quy hoạch và quản lý thực hiện quy chuẩn, tiêu chuẩn thiếu nghiêm túc; (iii) Việc tổ chức tự kiểm tra chưa trở thành việc làm thường xuyên, nên dẫn đến hạn chế trong vấn đề tự phát hiện, tự chấn chỉnh. Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán phát hiện ra nhiều sai phạm, vi phạm nhưng chậm được xử lý khắc phục và xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm thiếu kịp thời, nghiêm minh; (iv) Công tác giám sát của các cơ quan dân cử, của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp còn chưa đáp ứng yêu cầu, chưa thực sự mạnh mẽ, đúng thẩm quyền và hiệu quả. Hiệu lực khắc phục những sai phạm được phát hiện thấp. Việc xử lý các vi phạm chưa nghiêm minh, kịp thời, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thiếu gương mẫu trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là trong cuộc sống, sinh hoạt, lễ lạt; thiếu trách nhiệm trong việc thực thi công việc và lạm dụng quyền hạn để vụ lợi. Nguyên nhân này đã có những tác động tiêu cực, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

3. Một số giải pháp

Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, được thực hiện lâu dài ở các cấp và trong nhân dân. Nhiệm vụ, giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần cụ thể để bảo đảm tính khả thi.

- Cần rà soát pháp luật hiện hành và bổ sung những luật, pháp lệnh mới để sớm tạo được hệ thống pháp luật cụ thể, đồng bộ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường kiểm soát, giám sát về tài sản, tiền vốn, kinh phí của quốc gia, của Nhà nước, thuộc sở hữu nhà nước. Quốc hội, Hội đồng nhân dân phải đảm bảo thực quyền, nghiêm minh hơn trong thực hiện quyền năng của cơ quan dân cử đối với tài sản quốc gia, đối với tài chính quốc gia, trong đó có tài chính nhà nước, đối với nguồn lực của đất nước…

- Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chỉ đạo xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, loại bỏ hoặc chỉnh sửa các quy định còn chồng chéo trách nhiệm và các văn bản cần thiết khác. Tập trung rà soát lại các quy hoạch, các tiêu chuẩn, quy chuẩn, các định mức, sớm loại bỏ những quy hoạch không còn phù hợp, những quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức đã lạc hậu. Đồng thời, ngăn ngừa lạm dụng “tiết kiệm” để hạ thấp tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức gây hậu quả lãng phí lâu dài. sớm xử lý nghiêm túc việc bố trí kế hoạch cân đối ngân sách nhà nước hàng năm của một số bộ, ngành, địa phương có những sai phạm không tuân thủ Nghị quyết của Quốc hội, kế hoạch giao của Chính phủ, nhất là việc chuyển nguồn cân đối cho đầu tư phát triển sang chi thường xuyên; bố trí vốn cho các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư; cân đối thu ngân sách tại địa phương thấp hơn kế hoạch...

- Tập trung chấn chỉnh tổ chức quản lý ở các cấp trong các lĩnh vực tồn tại nhiều lãng phí, lãng phí nghiêm trọng. Cần có những giải pháp cụ thể tạo được những tiến bộ trong quản lý đất đai, giải phóng mặt bằng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý đầu tư, quản lý nhà do Nhà nước sở hữu. Tập trung chỉ đạo ngăn chặn có hiệu quả việc khai thác tài nguyên trái phép ở nhiều địa phương và tình trạng phá rừng, cháy rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Trong tổ chức thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần đặc biệt quan tâm việc thực hiện chương trình hành động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở các bộ, ngành, địa phương. Thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức thực hiện việc tổ chức tại kiểm tra, tự ngăn chặn và chịu trách nhiệm để xảy ra lãng phí. Tăng cường hơn nữa các cuộc thanh tra, kiểm tra, phát hiện sai phạm đến đâu, xử lý đến đó, cả hậu quả lãng phí và người gây ra lãng phí.

- Cần kiên quyết đẩy mạnh thực hiện các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã đề ra để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng lãng phí trong nền kinh tế xã hội, bảo đảm cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có kết quả bền vững, dần trở thành ý thức của các cơ quan, tổ chức, của cán bộ, công chức và công dân. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, rất cần có sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, kiên quyết và sự quyết tâm trong quá trình triển khai thực hiện của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương.

TS. Bùi Đặng Dũng

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội

PGS.TS. Đặng Văn Thanh

Hội Kế toán, kiểm toán Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: