Thứ ba 18/08/2026 10:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện tiêu chí tiết kiệm, lãng phí

Tóm tắt: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành, các địa phương. Do đó, việc nhận diện và định hình tiêu chí tiết kiệm, lãng phí là một việc làm có ý nghĩa quan trọng.

Tóm tắt: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành, các địa phương. Do đó, việc nhận diện và định hình tiêu chí tiết kiệm, lãng phí là một việc làm có ý nghĩa quan trọng.

Abstract: Practicing economy, preventing waste have been defined as a central duty of all levels, branches and localities. Therefore, the identifying and shaping criteria of saving, waste has important meaning.


1. Tình hình thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là cơ sở pháp lý cao nhất cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Sau khi Luật này ra đời, nhiều văn bản hướng dẫn đã được xây dựng, ban hành, đồng thời tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật khác tạo thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đồng bộ cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Về cơ bản, các văn bản quy phạm pháp luật đã tác động trực tiếp tạo ra sự chuyển biến trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là một số nội dung như thực hiện cơ chế khoán chi, tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với cơ quan nhà nước và một số giải pháp mạnh nhằm chấn chỉnh những lĩnh vực có lãng phí lớn. Các bộ, ngành đã ban hành mới và bổ sung các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật để làm cơ sở cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trong quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đã rà soát, sửa đổi các tiêu chuẩn, định mức phân bổ ngân sách, xây dựng tiêu chí phân bổ vốn đầu tư phát triển, định mức chi thường xuyên.

Chính phủ, các bộ, ngành, các địa phương triển khai xây dựng chương trình hành động để thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng như Luật Phòng, chống tham nhũng. Chương trình hành động của các cấp, các ngành đã quy định những việc làm cụ thể để thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản quy phạm pháp luật khác, thể hiện ý thức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chương trình hành động đã định hướng cho cơ quan, tổ chức trong phạm vi và lĩnh vực quản lý của mình, khắc phục những tồn tại, thực hiện tiết kiệm sử dụng các nguồn lực, bảo vệ tài sản quốc gia, mang lại lợi ích cho cơ quan, tổ chức và xã hội.

Việc tuyên truyền, phổ biến Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được các cơ quan nhà nước đặc biệt quan tâm và được nhân dân hưởng ứng. Nội dung của Luật này đã được tổ chức học tập, phổ biến, quán triệt kịp thời trước khi Luật có hiệu lực... Những việc làm đó đã tác động tích cực, giúp nhận thức rõ hơn các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; nhận diện ngày càng rõ hơn các hành vi lãng phí và hậu quả lãng phí.

Với mục tiêu đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; thực hiện có trọng tâm, trọng điểm để tạo chuyển biến rõ rệt trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí với những kết quả cụ thể, Nhà nước đã tập trung xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí nhằm phát huy cao nhất mọi nguồn lực để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội. Kết quả triển khai thực hiện Luật và chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được tiến hành khá mạnh mẽ tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và xã hội. Ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và xã hội đã được quan tâm và dần được nâng lên. Các phong trào thi đua của các đoàn thể quần chúng, trong nhân dân đã được phát động. Báo chí đã vào cuộc phản ánh những vụ việc thất thoát, lãng phí. Hệ thống giám sát, đặc biệt là giám sát của cơ quan dân cử đang từng bước được hoàn chỉnh để bảo đảm nguyên tắc “dân biết, dân kiểm tra” nhằm phát hiện và đưa ra công luận những vụ việc tiêu cực, gây lãng phí, gây thất thoát tài sản, tiền của của nhân dân, của Nhà nước và đã có những hình thức xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

2. Tiêu chí tiết kiệm, lãng phí

Tiêu chí của tiết kiệm hay lãng phí cần được xác định cụ thể cho từng loại hoạt động, từng nguồn công quỹ hoặc hoàn cảnh nhất định. Tiêu chí tiết kiệm, lãng phí có thể mang tính định tính hoặc định lượng. Các tiêu chí định lượng thể hiện qua tính kinh tế, tính hiệu quả của quyết định, của hoạt động và hoàn toàn có thể thiết lập cho từng loại hoạt động, từng môi trường cụ thể, bằng những thông tin có thể đo lường (như lãng phí hay tiết kiệm tài sản, tài nguyên, vốn, nhân lực, thời gian). Các tiêu chí định tính được xây dựng và sử dụng cho những đánh giá tiết kiệm hay lãng phí trong xây dựng vận hành thể chế, chính sách và thủ tục hành chính... Ví dụ như thể chế, cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng, năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh.

Đi sâu vào từng lĩnh vực hoạt động có thể nhận diện tiết kiệm, lãng phí và xây dựng các tiêu chí mang tính định lượng và các tiêu chí mang tính định tính. Quan trọng là phải nhận diện hình thức, biểu hiện của lãng phí, tiết kiệm làm cơ sở cho nền tảng đưa ra các tiêu chí cần thiết cho từng lĩnh vực, từng loại hình tổ chức trong nền kinh tế - xã hội.

Thứ nhất, trong quản lý ngân sách nhà nước, ngân quỹ quốc gia: Các chế độ, chính sách của Nhà nước về tài chính được các tổ chức và cá nhân chấp hành và thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đúng quy định, từ việc huy động, tập trung nguồn thu ngân sách nhà nước, phân bổ và sử dụng ngân sách, ngân quỹ nhà nước. Nhiều quyết định, quy định của Nhà nước đã được tuân thủ như chấp hành quy trình thủ tục thu nộp thuế, phí, lệ phí, phân bổ ngân sách, sử dụng ngân quỹ. Trong nhiều năm đã tiết kiệm 10% kinh phí thường xuyên, cắt giảm ngay từ khâu phân bổ hay việc tạm dừng mua xe ô tô mới, hạn chế tình trạng trang bị xe ô tô không đúng tiêu chuẩn.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, quỹ ngân sách nhà nước chưa thực sự tiết kiệm, còn lãng phí. Hoàn toàn có thể nhận dạng và định lượng được sự lãng phí, thất thoát ngân sách và ngân quỹ nhà nước thông qua những biểu hiện như sau:

- Thất thu ngân sách nhà nước, tập trung không kịp thời, chậm nộp, nợ đọng thuế, phí. Tình trạng gian lận, trốn thuế, gian lận trong chuyển giá, trong tính trị giá chịu thuế hoặc thuế suất.

- Điều tiết sai giữa ngân sách các cấp do vô tình hoặc cố ý.

- Phân bổ ngân sách không đúng mục tiêu, mục đích, không tuân thủ định mức phân bổ kinh phí chi thường xuyên, không tuân thủ các tiêu chí phân bổ vốn đầu tư xây dựng, vi phạm các điều kiện phân bổ kinh phí, giải ngân các nguồn vốn...

- Sử dụng sai kinh phí ngân sách, không đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ. Chấp hành Luật Ngân sách nhà nước và chính sách của Nhà nước có những biểu hiện tùy tiện, chưa nghiêm, việc dùng ngân sách cho vay, cho tạm ứng sai chế độ quy định vẫn còn diễn ra. Tình trạng sử dụng nguồn vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án không đúng mục tiêu, vượt định mức và dự toán... Việc công khai, minh bạch các khoản chi tiêu chưa được thực hiện thường xuyên, còn mang tính hình thức. Công tác quản lý, giám sát hoạt động thu - chi của một số ngành có thu, các đơn vị sự nghiệp có thu và việc chuyển đơn vị sự nghiệp có thu sang hoạt động theo mô hình tự chịu trách nhiệm về tài chính còn chậm.

Thực tế cho thấy, các sai phạm tài chính liên quan đến ngân sách, ngân quỹ nhà nước do Kiểm toán Nhà nước phát hiện và yêu cầu xử lý tài chính năm 2017 là 91.322 tỷ đồng; 06 tháng đầu năm 2018, theo tổng hợp chưa đầy đủ đã là 22.669 tỷ đồng, trong đó tăng thu cho ngân sách nhà nước 12.614 tỷ đồng, giảm chi ngân sách nhà nước 8.600 tỷ đồng, đã có một số hồ sơ được chuyển sang cơ quan điều tra để làm rõ những dấu hiệu hình sự.

Thứ hai, trong quản lý đầu tư xây dựng: Dấu hiệu của lãng phí là tình trạng vi phạm quy trình đầu tư, không thực hiện đấu thầu, vi phạm thủ tục thanh quyết toán, tính toán không đúng khối lượng đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành, áp sai đơn giá, định mức. Lãng phí lớn nhất là đầu tư không đúng quy hoạch, không đúng mục đích đầu tư, thi công trong thời gian dài, chậm đưa công trình vào sử dụng, chất lượng công trình, dự án kém. Trên thực tế, việc đấu thầu và đấu giá công trình, dự án đã tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Thông qua thẩm tra hồ sơ thanh quyết toán công trình, dự án đã cắt giảm hàng nghìn tỷ đồng do khối lượng đầu tư, do đơn giá, định mức và đặc biệt là do chất lượng công trình, dự án, do những phát sinh không hợp lý, không đúng thủ tục.

Kỷ luật chấp hành kế hoạch bố trí vốn đầu tư chưa nghiêm, phân bổ, sử dụng vốn cho các dự án đầu tư còn dàn trải, số lượng dự án nhiều, tình trạng dự án kéo dài. Thực hiện đầu tư và giải ngân còn chậm. Bố trí vốn cho các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản thiếu chặt chẽ, gây lãng phí, thất thoát vốn, chất lượng công trình thấp. Công tác xử lý sau thanh tra, việc xử lý các sai phạm còn chưa mạnh mẽ. Tình trạng nợ đọng vốn đầu tư xây dựng kéo dài cản trở doanh nghiệp quay vòng vốn, không phát huy hiệu quả vốn ngân sách.

Thứ ba, trong quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản: Đây là nguồn lực quan trọng của đất nước, là nguồn lực quốc gia thuộc sở hữu toàn dân, nhưng đây cũng là lĩnh vực lãng phí, thất thoát lớn, là sự lãng phí tài nguyên, tài sản quốc gia. Lãng phí trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên, khoáng sản thể hiện dưới các dạng như sau:

- Quy hoạch không đúng, quy hoạch treo: Việc quy hoạch nhiều khi còn mang tính chất hình thức, chất lượng không cao, công tác dự báo còn thiếu tính khoa học, chất lượng của các phương án quy hoạch thấp, dự báo không sát tình hình, quy hoạch không hợp lý, mang nặng tính chủ quan duy ý chí.

- Các phương án sử dụng đất được xây dựng thiếu khoa học hoặc đã xây dựng nhưng không được tuân thủ. Tình trạng lạm quyền và độc quyền trong các quyết định về đất đai, khai thác khoáng sản gây lãng phí, thậm chí dẫn đến chiếm đoạt, biến tài sản thuộc sở hữu quốc gia, sở hữu toàn dân thành sở hữu của cá nhân hoặc nhóm lợi ích, tham nhũng, gây tác động xấu không chỉ trước mắt mà còn tác động tiêu cực lâu dài.

- Tình trạng khai thác và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp lãng phí và sai mục đích.

- Nhiều địa phương nôn nóng phát triển khu công nghiệp và đô thị đã quy hoạch sử dụng đất vượt quá khả năng đầu tư và điều kiện thực tế của địa phương dẫn đến tình trạng lãng phí không nhỏ về đất đai. Quản lý và sử dụng đất còn nhiều buông lỏng gây ra những tiêu cực trong sử dụng đất. Tình trạng đất để hoang hoặc sử dụng đất không đúng mục đích còn xảy ra.

- Khai thác, sử dụng tài nguyên khác (nước, khoáng sản, rừng) còn nhiều lãng phí. Tại một số địa phương, do thiếu kiểm tra, thanh tra và đưa ra các giải pháp hợp lý nên để xảy ra tình trạng khai thác tài nguyên trái phép, bừa bãi..., làm lãng phí lớn một nguồn tài nguyên của đất nước.

Thứ tư, trong quản lý và sử dụng trụ sở làm việc, nhà ở công vụ: Đây là những tài sản quốc gia được đầu tư qua nhiều năm, nhưng tình trạng lãng phí diễn ra dưới nhiều hình thức như sử dụng sai công năng, sai mục đích; chiếm dụng hoặc chiếm đoạt làm tài sản riêng của tập thể, cá nhân, khai thác và sử dụng vì lợi ích nhóm; đã đầu tư xây trụ sở mới hoặc nhận diện tích, trụ sở mới nhưng không giao lại trụ sở cũ, vẫn tiếp tục chiếm dụng và sử dụng vì những mục đích không rõ ràng.

Thứ năm, trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp: Tình trạng thất thoát, lãng phí tài sản, vốn nhà nước trong khâu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài; việc sử dụng vốn, tài sản nhà nước không đúng mục đích; thủ tục thành lập, giải thể doanh nghiệp mặc dù đã được đơn giản hóa song trên thực tế, còn có nhiều giấy phép con gây lãng phí thời gian, tốn kém cho doanh nghiệp. Lãng phí về các thủ tục hành chính là đáng kể, gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Thứ sáu, trong đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động

- Thiếu quy hoạch và chiến lược đào tạo: Sự bất cập về cơ cấu đào tạo; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động được đào tạo; chi phí đào tạo của cả Nhà nước và xã hội bỏ ra là lớn nhưng hiệu quả không cao, lãng phí nhiều do lao động được đào tạo phải đào tạo lại, làm việc không đúng ngành nghề được đào tạo.

- Việc chấp hành kỷ luật lao động, hiệu quả ngày công lao động ở một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức ở hầu hết các cơ quan vẫn chưa thực hiện tốt. Tình trạng hội họp còn nhiều, nhiều cuộc hội nghị tổng kết, các cuộc họp chất lượng chưa cao nên gây lãng phí lớn cho xã hội.

Thứ bảy, trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân: Cần đánh giá trên các tiêu chí số lượng và quy mô lễ hội, cưới xin, ma chay, đánh giá ý thức tiết kiệm của nhân dân.

Về nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: (i) Pháp luật về vấn đề này còn bất cập và chưa được tuân thủ nghiêm minh; (ii) Tổ chức quản lý thiếu chặt chẽ, chỉ đạo, điều hành thiếu kiên quyết, chất lượng quy hoạch thấp, quản lý thực hiện quy hoạch và quản lý thực hiện quy chuẩn, tiêu chuẩn thiếu nghiêm túc; (iii) Việc tổ chức tự kiểm tra chưa trở thành việc làm thường xuyên, nên dẫn đến hạn chế trong vấn đề tự phát hiện, tự chấn chỉnh. Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán phát hiện ra nhiều sai phạm, vi phạm nhưng chậm được xử lý khắc phục và xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm thiếu kịp thời, nghiêm minh; (iv) Công tác giám sát của các cơ quan dân cử, của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp còn chưa đáp ứng yêu cầu, chưa thực sự mạnh mẽ, đúng thẩm quyền và hiệu quả. Hiệu lực khắc phục những sai phạm được phát hiện thấp. Việc xử lý các vi phạm chưa nghiêm minh, kịp thời, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thiếu gương mẫu trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là trong cuộc sống, sinh hoạt, lễ lạt; thiếu trách nhiệm trong việc thực thi công việc và lạm dụng quyền hạn để vụ lợi. Nguyên nhân này đã có những tác động tiêu cực, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

3. Một số giải pháp

Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, được thực hiện lâu dài ở các cấp và trong nhân dân. Nhiệm vụ, giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần cụ thể để bảo đảm tính khả thi.

- Cần rà soát pháp luật hiện hành và bổ sung những luật, pháp lệnh mới để sớm tạo được hệ thống pháp luật cụ thể, đồng bộ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường kiểm soát, giám sát về tài sản, tiền vốn, kinh phí của quốc gia, của Nhà nước, thuộc sở hữu nhà nước. Quốc hội, Hội đồng nhân dân phải đảm bảo thực quyền, nghiêm minh hơn trong thực hiện quyền năng của cơ quan dân cử đối với tài sản quốc gia, đối với tài chính quốc gia, trong đó có tài chính nhà nước, đối với nguồn lực của đất nước…

- Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chỉ đạo xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, loại bỏ hoặc chỉnh sửa các quy định còn chồng chéo trách nhiệm và các văn bản cần thiết khác. Tập trung rà soát lại các quy hoạch, các tiêu chuẩn, quy chuẩn, các định mức, sớm loại bỏ những quy hoạch không còn phù hợp, những quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức đã lạc hậu. Đồng thời, ngăn ngừa lạm dụng “tiết kiệm” để hạ thấp tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức gây hậu quả lãng phí lâu dài. sớm xử lý nghiêm túc việc bố trí kế hoạch cân đối ngân sách nhà nước hàng năm của một số bộ, ngành, địa phương có những sai phạm không tuân thủ Nghị quyết của Quốc hội, kế hoạch giao của Chính phủ, nhất là việc chuyển nguồn cân đối cho đầu tư phát triển sang chi thường xuyên; bố trí vốn cho các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư; cân đối thu ngân sách tại địa phương thấp hơn kế hoạch...

- Tập trung chấn chỉnh tổ chức quản lý ở các cấp trong các lĩnh vực tồn tại nhiều lãng phí, lãng phí nghiêm trọng. Cần có những giải pháp cụ thể tạo được những tiến bộ trong quản lý đất đai, giải phóng mặt bằng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý đầu tư, quản lý nhà do Nhà nước sở hữu. Tập trung chỉ đạo ngăn chặn có hiệu quả việc khai thác tài nguyên trái phép ở nhiều địa phương và tình trạng phá rừng, cháy rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Trong tổ chức thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần đặc biệt quan tâm việc thực hiện chương trình hành động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở các bộ, ngành, địa phương. Thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức thực hiện việc tổ chức tại kiểm tra, tự ngăn chặn và chịu trách nhiệm để xảy ra lãng phí. Tăng cường hơn nữa các cuộc thanh tra, kiểm tra, phát hiện sai phạm đến đâu, xử lý đến đó, cả hậu quả lãng phí và người gây ra lãng phí.

- Cần kiên quyết đẩy mạnh thực hiện các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã đề ra để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng lãng phí trong nền kinh tế xã hội, bảo đảm cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có kết quả bền vững, dần trở thành ý thức của các cơ quan, tổ chức, của cán bộ, công chức và công dân. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, rất cần có sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, kiên quyết và sự quyết tâm trong quá trình triển khai thực hiện của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương.

TS. Bùi Đặng Dũng

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội

PGS.TS. Đặng Văn Thanh

Hội Kế toán, kiểm toán Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: