Thứ sáu 11/09/2026 15:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những bất cập về giải quyết vụ án ma túy trong thực tiễn của Thông tư liên tịch số 17/2007

Tóm tắt: Ngày 24/12/2007, Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự Thông tư này đã góp phần làm rõ cũng như thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Hình sự về giải quyết án ma túy. Tuy nhiên, hiện nay Thông tư đã phát sinh nhiều vướng mắc trên thực tế.

Abstract: Joint circular No.17 BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP/TTLT (December 24, 2007) of the Ministry of Public Security - Supreme people's procuracy - Supreme people's court - Ministry of Justice instructed how to carry out the regulations in the chapter “Drug crimes”of Penal Law Code 1999, this Joint circular has contributed clarify and execute the rules correctly of Penal Law Code about solving druge cases. However, now adays, this Joint circular has incurred many obstacles in fact.

1. Vấn đề vận chuyển, tàng trữ nhằm mục đích mua bán trái phép chất ma túy cho người khác quy định tại tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007

Tình huống 1: Ngày 01/01/2017, Tạ Minh A bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q bắt khẩn cấp về hành vi vận chuyển trái phép 99,99 gam Methamphetamine. Tiếp tục khám xét nơi ở của A thu giữ 67,01 gam Methamphetamine. Quá trình điều tra A khai nhận số ma túy mà A vận chuyển và tàng trữ là nhằm mục đích bán cho người khác, trong ngày bị bắt khẩn cấp, khi đang trên đường vận chuyển ma túy để tìm đối tượng nghiện, nếu có ai mua thì A sẽ bán thì bị bắt giữ.

A vận chuyển trái phép 99,99 gam Methamphetamine và tàng trữ 67,01 gam Methamphetamine thuộc trường hợp các chất ma túy ở thể rắn có trọng lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam nên hành vi của A đã đủ yếu tố cấu thành tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và chuyển vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra huyện N để điều tra theo thẩm quyền. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra huyện N cho rằng do mục đích A vận chuyển, tàng trữ số ma túy trên là để bán cho người khác nên phải cộng tất cả trọng lượng này lại và tổng trọng lượng là trên 100 gam vì thế A phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự và thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q. Sau đó vụ án đã được cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp thống nhất về tội danh mua bán trái phép chất ma túy và xác định thuộc thẩm quyền xử lý của cấp tỉnh bởi căn cứ vào tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự, lời khai của A (A khai nhận vận chuyển, tàng trữ trái phép số ma túy trên nhằm mục đích mua bán trái phép cho người khác) nên phải chịu TNHS về tội mua bán phép chất ma túy là phù hợp. Đồng thời điều này cũng có lợi hơn việc tổng hợp hình phạt về hai tội tàng trữ và vận chuyển trái phép chất ma túy đối với bị cáo.

Tình huống 2: Thái Văn B vận chuyển trái phép 99,99 gram Methamphetamine (thuộc khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999) và tàng trữ 01 gram Methamphetamine nên thuộc khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và cũng nhằm mục đích mua bán. Và nếu việc định tội giống như đối với A ở tình huống 1 thì B cũng sẽ bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy thuộc khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự khi cộng trọng lượng hai chất ma túy này lại với nhau (trên 100 gam) và vì cùng mục đích để mua bán.

Tình huống 3: Tô Thanh C bị bắt giữ về hành vi vận chuyển trái phép 99,99 gram Methamphetamine nên thuộc khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tàng trữ 0,2 gram Methamphetamine thuộc trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo hướng dẫn tại điểm e tiểu mục 3.6 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự, do các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới 01 gam nên chỉ bị xử lý hành chính. Cũng tương tự với cách định tội của A và B thì tổng trọng lượng của hai chất thu giữ trên 100 gam nên C cũng sẽ bị khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, A phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 3 Điều 194 khi có 02 tội danh ở khoản 2 Điều 194; B phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 3 Điều 194 khi có 01 tội danh ở khoản 2 Điều 194, 01 tội danh ở khoản 1 Điều 194; C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy tại khoản 3 Điều 194 khi có 01 tội danh ở khoản 2 Điều 194 và 01 trường hợp không cấu thành tội phạm. Từ ba tình huống trên cho thấy sự bất hợp lý và không công bằng trong việc định tội đối với A, B và C bởi từ 01 tội danh ở khoản 2 Điều 194 và một hành vi không cấu thành tội phạm cũng sẽ phạm vào khoản 3 Điều 194, tương đương với 02 trường hợp còn lại thay vì C chỉ bị khởi tố về tội vận chuyển trái phép chất ma túy với khung hình phạt tại khoản 2 Điều 194 nếu như không áp dụng tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự. Điều đó là rất bất lợi đối với C đồng thời sẽ tạo ra sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật. Và sự không thống nhất này lại phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người phạm tội.

Khi không có chứng cứ khác chứng minh cho lời khai của người phạm tội là trung thực hay gian dối thì khó có thể chấp nhận hay bác bỏ lời khai đó mà cần kết hợp với những tình tiết có trong hồ sơ vụ án từ đó đánh giá chứng cứ phù hợp với diễn biến sự việc và hồ sơ. Bởi nếu như trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng sau khi đánh giá các chứng cứ đã đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị can là hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì không cần sự thừa nhận của người phạm tội về mục đích tàng trữ, vận chuyển là để mua bán trái phép chất ma túy. Một khi sự nhận tội phụ thuộc vào ý thức của người phạm tội thì ở giai đoạn nào đó, người phạm tội cũng hoàn toàn có thể chối tội. Hơn thế nữa, khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định “không dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”. Tại một số tài liệu cũng như thực tiễn thì mua bán trái phép chất ma túy phải có ít nhất 02 đối tượng nghiện hoặc 02 người chứng kiến việc bị can bán ma túy, nếu không có chứng cứ khác chứng minh thì không thể kết luận bị can có hành vi mua bán trái phép chất ma túy bởi tất cả các chứng cứ và cũng là chứng cứ duy nhất đó chính là lời khai của bị can, không còn chứng cứ nào khác. Và nếu như đã không phụ thuộc vào sự thừa nhận của người phạm tội thì cũng không cần quy định về nội dung này, đồng thời việc xử lý tội phạm phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người phạm tội thì khó có thể có sự thống nhất quan điểm.

Phải chăng trong trường hợp này, nhằm bán trái phép cho người khác là mua bán trái phép chất ma túy cần được hiểu: là sự chứng minh của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử về chuỗi các hành vi của việc tàng trữ, vận chuyển, nếu các hành vi này thể hiện bị can mua bán trái phép chất ma túy thì sẽ bị xử lý về hành vi mua bán chứ không phải dựa vào ý chí, lời khai của người tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy. Nếu như bị can khai vận chuyển để mua bán là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, vậy bị can khai vận chuyển mục đích để sử dụng thì có kết luận là bị can sử dụng trái phép chất ma túy hay không (vì hành vi này không bị xem là tội phạm) bởi việc vận chuyển, tàng trữ để mua bán hay để sử dụng đều cùng do ý chí, lời khai của bị can. Nếu như người phạm tội nắm được quy định này và trình bày lời khai theo hướng mục đích nhằm mua bán trái phép chất ma túy thì sẽ có lợi hơn là để sử dụng vì mục đích để sử dụng sẽ bất lợi hơn (bị khởi tố về vận chuyển trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy), điều này là không hợp lý, không công bằng và tạo ra tiền lệ.

Thế nhưng vấn đề đặt ra, liệu khi có một hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy thuộc khoản 2 Điều 194 và một hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy không đủ định lượng thì cơ quan điều tra vẫn khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy theo mục đích lời khai của người phạm tội hay vẫn khởi tố đúng với tính chất, hành vi là chỉ vận chuyển. Cùng một quy định nhưng bối cảnh khác nhau thì áp dụng khác nhau, điều này là rất không chính xác và không đúng với tinh thần của điều luật.

Có thể viện dẫn điểm c tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự về trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 194 (hoặc Điều 195 hoặc Điều 196) Bộ luật Hình sự mà các hành vi đó độc lập với nhau, thì bị truy cứu TNHS về những tội độc lập mà người ấy đã thực hiện. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt chung. Ví dụ: một người mua bán một loại tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và bị bắt, khi khám nhà phát hiện người đó còn tàng trữ một loại tiền chất khác nhưng không nhằm mục đích để mua bán. Trong trường hợp này, người phạm tội bị truy cứu TNHS về tội mua bán tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và tội tàng trữ tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 195 của Bộ luật Hình sự. Tùy từng trường hợp cụ thể mà người đó bị xử phạt mức hình phạt tương ứng đối với từng tội và sau đó quyết định hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đối chiếu với quy định trên thì hành vi của Tạ Minh A đã cấu thành hai tội độc lập là tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy, và có thể hiểu, nếu hành vi của A không cấu thành một tội độc lập trước đó là tội mua bán trái phép chất ma túy thì A không bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy mà cấu thành hai tội độc lập là tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy chỉ vì khác nhau ở chỗ người phạm tội đã bị chứng cứ kết luận là đủ cơ sở cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy hoặc mua bán một loại tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và bị bắt như ví dụ nói trên. Một tội danh mà có thể áp dụng tùy từng tình huống thì trong chừng mực nào đó, tính khuôn mẫu của pháp luật cũng đã giảm đi, và mỗi nơi sẽ áp dụng khác nhau tùy vào đánh giá tình huống của các cơ quan tiến hành tố tụng, tạo nên những hệ quả khác nhau. Do đó, đề xuất sửa đổi Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự theo hướng không nên quy định trong Thông tư này nội dung “nhằm bán trái phép cho người khác” vì điều này sẽ không cần thiết nhưng lại tạo ra cách hiểu khác nhau và áp dụng không thống nhất các quy phạm pháp luật.

2. Vấn đề tiền án về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy được quy định tại điểm a tiểu mục 3.7. Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007

Điểm a tiểu mục 3.7. Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào đã bị kết án về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt một trong các chất ma túy có số lượng được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.6 trên đây, nếu không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Nếu là tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự”.

Sở dĩ Thông tư này chỉ liệt kê các án tích về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy mà không quy định người đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy là vì hành vi mua bán trái phép chất ma túy không cần định lượng, do đó, lần vi phạm tiếp theo, người thực hiện hành vi phạm tội không có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy vẫn bị truy cứu TNHS. Thế nhưng, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự đã không dự liệu trường hợp một người tiếp tục tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt một trong các chất ma túy… không đủ định lượng (ví dụ dưới 0,1 gam đối với Hêrôin) mà trước đó đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy, thì không thể bị xử lý theo liệt kê bên trên của Thông tư, trong khi đó, tội phạm mua bán trái phép chất ma túy là tội phạm gây ảnh hưởng không nhỏ cho xã hội. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Hình sự một người đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy đương nhiên sẽ là căn cứ để tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm nếu như người này chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 64 Bộ luật Hình sự. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Tái phạm nguy hiểm là đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý[1]. Đồng thời tái phạm nguy hiểm cũng được quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự cũng như một số điều luật khác của Bộ luật này có cấu thành định khung tăng nặng.

Như vậy, nếu một người đã từng bị kết án, không phân biệt về tội gì, trong đó có cả tội mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích thì án tích đó sẽ được làm căn cứ để xác định tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo Bộ luật Hình sự nhưng không được căn cứ để định tội (hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy) theo Thông tư liên tịch số 17/2007. Án tích không dùng làm căn cứ để định tội nhưng để định khung là điều không hợp lý và không phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự như đã phân tích. Vì vậy, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự cần bổ sung theo hướng người nào đã bị kết án về các tội ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, … nhằm phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự về án tích và phù hợp với quy định của các nhóm tội về chiếm đoạt tài sản.

Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia[2], kéo theo nhiều loại tội phạm khác như những người “ngáo đá” dễ gây ra ảo giác và dẫn đến giết người, do vậy, các quy định của pháp luật nói chung, pháp luật về ma túy nói riêng trong đó có Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự cần phải được hoàn thiện nhằm góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn nữa với loại tội phạm ngày càng tinh vi và để lại nhiều hậu quả nặng nề cho xã hội như tội phạm ma túy.

Bùi Kim Trọng

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ



Tài liệu tham khảo:

1. Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

2. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.

3. Luật Phòng chống ma túy năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

4. Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự.


[1] Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[2] Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2008.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: