Thứ ba 10/02/2026 07:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những bất cập về giải quyết vụ án ma túy trong thực tiễn của Thông tư liên tịch số 17/2007

Tóm tắt: Ngày 24/12/2007, Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự Thông tư này đã góp phần làm rõ cũng như thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Hình sự về giải quyết án ma túy. Tuy nhiên, hiện nay Thông tư đã phát sinh nhiều vướng mắc trên thực tế.

Abstract: Joint circular No.17 BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP/TTLT (December 24, 2007) of the Ministry of Public Security - Supreme people's procuracy - Supreme people's court - Ministry of Justice instructed how to carry out the regulations in the chapter “Drug crimes”of Penal Law Code 1999, this Joint circular has contributed clarify and execute the rules correctly of Penal Law Code about solving druge cases. However, now adays, this Joint circular has incurred many obstacles in fact.

1. Vấn đề vận chuyển, tàng trữ nhằm mục đích mua bán trái phép chất ma túy cho người khác quy định tại tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007

Tình huống 1: Ngày 01/01/2017, Tạ Minh A bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q bắt khẩn cấp về hành vi vận chuyển trái phép 99,99 gam Methamphetamine. Tiếp tục khám xét nơi ở của A thu giữ 67,01 gam Methamphetamine. Quá trình điều tra A khai nhận số ma túy mà A vận chuyển và tàng trữ là nhằm mục đích bán cho người khác, trong ngày bị bắt khẩn cấp, khi đang trên đường vận chuyển ma túy để tìm đối tượng nghiện, nếu có ai mua thì A sẽ bán thì bị bắt giữ.

A vận chuyển trái phép 99,99 gam Methamphetamine và tàng trữ 67,01 gam Methamphetamine thuộc trường hợp các chất ma túy ở thể rắn có trọng lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam nên hành vi của A đã đủ yếu tố cấu thành tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và chuyển vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra huyện N để điều tra theo thẩm quyền. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra huyện N cho rằng do mục đích A vận chuyển, tàng trữ số ma túy trên là để bán cho người khác nên phải cộng tất cả trọng lượng này lại và tổng trọng lượng là trên 100 gam vì thế A phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự và thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q. Sau đó vụ án đã được cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp thống nhất về tội danh mua bán trái phép chất ma túy và xác định thuộc thẩm quyền xử lý của cấp tỉnh bởi căn cứ vào tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự, lời khai của A (A khai nhận vận chuyển, tàng trữ trái phép số ma túy trên nhằm mục đích mua bán trái phép cho người khác) nên phải chịu TNHS về tội mua bán phép chất ma túy là phù hợp. Đồng thời điều này cũng có lợi hơn việc tổng hợp hình phạt về hai tội tàng trữ và vận chuyển trái phép chất ma túy đối với bị cáo.

Tình huống 2: Thái Văn B vận chuyển trái phép 99,99 gram Methamphetamine (thuộc khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999) và tàng trữ 01 gram Methamphetamine nên thuộc khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và cũng nhằm mục đích mua bán. Và nếu việc định tội giống như đối với A ở tình huống 1 thì B cũng sẽ bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy thuộc khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự khi cộng trọng lượng hai chất ma túy này lại với nhau (trên 100 gam) và vì cùng mục đích để mua bán.

Tình huống 3: Tô Thanh C bị bắt giữ về hành vi vận chuyển trái phép 99,99 gram Methamphetamine nên thuộc khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tàng trữ 0,2 gram Methamphetamine thuộc trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo hướng dẫn tại điểm e tiểu mục 3.6 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự, do các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới 01 gam nên chỉ bị xử lý hành chính. Cũng tương tự với cách định tội của A và B thì tổng trọng lượng của hai chất thu giữ trên 100 gam nên C cũng sẽ bị khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, A phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 3 Điều 194 khi có 02 tội danh ở khoản 2 Điều 194; B phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 3 Điều 194 khi có 01 tội danh ở khoản 2 Điều 194, 01 tội danh ở khoản 1 Điều 194; C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy tại khoản 3 Điều 194 khi có 01 tội danh ở khoản 2 Điều 194 và 01 trường hợp không cấu thành tội phạm. Từ ba tình huống trên cho thấy sự bất hợp lý và không công bằng trong việc định tội đối với A, B và C bởi từ 01 tội danh ở khoản 2 Điều 194 và một hành vi không cấu thành tội phạm cũng sẽ phạm vào khoản 3 Điều 194, tương đương với 02 trường hợp còn lại thay vì C chỉ bị khởi tố về tội vận chuyển trái phép chất ma túy với khung hình phạt tại khoản 2 Điều 194 nếu như không áp dụng tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự. Điều đó là rất bất lợi đối với C đồng thời sẽ tạo ra sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật. Và sự không thống nhất này lại phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người phạm tội.

Khi không có chứng cứ khác chứng minh cho lời khai của người phạm tội là trung thực hay gian dối thì khó có thể chấp nhận hay bác bỏ lời khai đó mà cần kết hợp với những tình tiết có trong hồ sơ vụ án từ đó đánh giá chứng cứ phù hợp với diễn biến sự việc và hồ sơ. Bởi nếu như trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng sau khi đánh giá các chứng cứ đã đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị can là hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì không cần sự thừa nhận của người phạm tội về mục đích tàng trữ, vận chuyển là để mua bán trái phép chất ma túy. Một khi sự nhận tội phụ thuộc vào ý thức của người phạm tội thì ở giai đoạn nào đó, người phạm tội cũng hoàn toàn có thể chối tội. Hơn thế nữa, khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định “không dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”. Tại một số tài liệu cũng như thực tiễn thì mua bán trái phép chất ma túy phải có ít nhất 02 đối tượng nghiện hoặc 02 người chứng kiến việc bị can bán ma túy, nếu không có chứng cứ khác chứng minh thì không thể kết luận bị can có hành vi mua bán trái phép chất ma túy bởi tất cả các chứng cứ và cũng là chứng cứ duy nhất đó chính là lời khai của bị can, không còn chứng cứ nào khác. Và nếu như đã không phụ thuộc vào sự thừa nhận của người phạm tội thì cũng không cần quy định về nội dung này, đồng thời việc xử lý tội phạm phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người phạm tội thì khó có thể có sự thống nhất quan điểm.

Phải chăng trong trường hợp này, nhằm bán trái phép cho người khác là mua bán trái phép chất ma túy cần được hiểu: là sự chứng minh của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử về chuỗi các hành vi của việc tàng trữ, vận chuyển, nếu các hành vi này thể hiện bị can mua bán trái phép chất ma túy thì sẽ bị xử lý về hành vi mua bán chứ không phải dựa vào ý chí, lời khai của người tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy. Nếu như bị can khai vận chuyển để mua bán là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, vậy bị can khai vận chuyển mục đích để sử dụng thì có kết luận là bị can sử dụng trái phép chất ma túy hay không (vì hành vi này không bị xem là tội phạm) bởi việc vận chuyển, tàng trữ để mua bán hay để sử dụng đều cùng do ý chí, lời khai của bị can. Nếu như người phạm tội nắm được quy định này và trình bày lời khai theo hướng mục đích nhằm mua bán trái phép chất ma túy thì sẽ có lợi hơn là để sử dụng vì mục đích để sử dụng sẽ bất lợi hơn (bị khởi tố về vận chuyển trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy), điều này là không hợp lý, không công bằng và tạo ra tiền lệ.

Thế nhưng vấn đề đặt ra, liệu khi có một hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy thuộc khoản 2 Điều 194 và một hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy không đủ định lượng thì cơ quan điều tra vẫn khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy theo mục đích lời khai của người phạm tội hay vẫn khởi tố đúng với tính chất, hành vi là chỉ vận chuyển. Cùng một quy định nhưng bối cảnh khác nhau thì áp dụng khác nhau, điều này là rất không chính xác và không đúng với tinh thần của điều luật.

Có thể viện dẫn điểm c tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự về trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 194 (hoặc Điều 195 hoặc Điều 196) Bộ luật Hình sự mà các hành vi đó độc lập với nhau, thì bị truy cứu TNHS về những tội độc lập mà người ấy đã thực hiện. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt chung. Ví dụ: một người mua bán một loại tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và bị bắt, khi khám nhà phát hiện người đó còn tàng trữ một loại tiền chất khác nhưng không nhằm mục đích để mua bán. Trong trường hợp này, người phạm tội bị truy cứu TNHS về tội mua bán tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và tội tàng trữ tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 195 của Bộ luật Hình sự. Tùy từng trường hợp cụ thể mà người đó bị xử phạt mức hình phạt tương ứng đối với từng tội và sau đó quyết định hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đối chiếu với quy định trên thì hành vi của Tạ Minh A đã cấu thành hai tội độc lập là tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy, và có thể hiểu, nếu hành vi của A không cấu thành một tội độc lập trước đó là tội mua bán trái phép chất ma túy thì A không bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy mà cấu thành hai tội độc lập là tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy chỉ vì khác nhau ở chỗ người phạm tội đã bị chứng cứ kết luận là đủ cơ sở cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy hoặc mua bán một loại tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và bị bắt như ví dụ nói trên. Một tội danh mà có thể áp dụng tùy từng tình huống thì trong chừng mực nào đó, tính khuôn mẫu của pháp luật cũng đã giảm đi, và mỗi nơi sẽ áp dụng khác nhau tùy vào đánh giá tình huống của các cơ quan tiến hành tố tụng, tạo nên những hệ quả khác nhau. Do đó, đề xuất sửa đổi Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự theo hướng không nên quy định trong Thông tư này nội dung “nhằm bán trái phép cho người khác” vì điều này sẽ không cần thiết nhưng lại tạo ra cách hiểu khác nhau và áp dụng không thống nhất các quy phạm pháp luật.

2. Vấn đề tiền án về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy được quy định tại điểm a tiểu mục 3.7. Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007

Điểm a tiểu mục 3.7. Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào đã bị kết án về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt một trong các chất ma túy có số lượng được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.6 trên đây, nếu không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Nếu là tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự”.

Sở dĩ Thông tư này chỉ liệt kê các án tích về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy mà không quy định người đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy là vì hành vi mua bán trái phép chất ma túy không cần định lượng, do đó, lần vi phạm tiếp theo, người thực hiện hành vi phạm tội không có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy vẫn bị truy cứu TNHS. Thế nhưng, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự đã không dự liệu trường hợp một người tiếp tục tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt một trong các chất ma túy… không đủ định lượng (ví dụ dưới 0,1 gam đối với Hêrôin) mà trước đó đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy, thì không thể bị xử lý theo liệt kê bên trên của Thông tư, trong khi đó, tội phạm mua bán trái phép chất ma túy là tội phạm gây ảnh hưởng không nhỏ cho xã hội. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Hình sự một người đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy đương nhiên sẽ là căn cứ để tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm nếu như người này chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 64 Bộ luật Hình sự. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Tái phạm nguy hiểm là đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý[1]. Đồng thời tái phạm nguy hiểm cũng được quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự cũng như một số điều luật khác của Bộ luật này có cấu thành định khung tăng nặng.

Như vậy, nếu một người đã từng bị kết án, không phân biệt về tội gì, trong đó có cả tội mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích thì án tích đó sẽ được làm căn cứ để xác định tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo Bộ luật Hình sự nhưng không được căn cứ để định tội (hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy) theo Thông tư liên tịch số 17/2007. Án tích không dùng làm căn cứ để định tội nhưng để định khung là điều không hợp lý và không phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự như đã phân tích. Vì vậy, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự cần bổ sung theo hướng người nào đã bị kết án về các tội ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, … nhằm phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự về án tích và phù hợp với quy định của các nhóm tội về chiếm đoạt tài sản.

Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia[2], kéo theo nhiều loại tội phạm khác như những người “ngáo đá” dễ gây ra ảo giác và dẫn đến giết người, do vậy, các quy định của pháp luật nói chung, pháp luật về ma túy nói riêng trong đó có Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự cần phải được hoàn thiện nhằm góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn nữa với loại tội phạm ngày càng tinh vi và để lại nhiều hậu quả nặng nề cho xã hội như tội phạm ma túy.

Bùi Kim Trọng

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ



Tài liệu tham khảo:

1. Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

2. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.

3. Luật Phòng chống ma túy năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

4. Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự.


[1] Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[2] Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2008.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: