Thứ năm 19/03/2026 13:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những bất cập về giải quyết vụ án ma túy trong thực tiễn của Thông tư liên tịch số 17/2007

Tóm tắt: Ngày 24/12/2007, Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự Thông tư này đã góp phần làm rõ cũng như thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Hình sự về giải quyết án ma túy. Tuy nhiên, hiện nay Thông tư đã phát sinh nhiều vướng mắc trên thực tế.

Abstract: Joint circular No.17 BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP/TTLT (December 24, 2007) of the Ministry of Public Security - Supreme people's procuracy - Supreme people's court - Ministry of Justice instructed how to carry out the regulations in the chapter “Drug crimes”of Penal Law Code 1999, this Joint circular has contributed clarify and execute the rules correctly of Penal Law Code about solving druge cases. However, now adays, this Joint circular has incurred many obstacles in fact.

1. Vấn đề vận chuyển, tàng trữ nhằm mục đích mua bán trái phép chất ma túy cho người khác quy định tại tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007

Tình huống 1: Ngày 01/01/2017, Tạ Minh A bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q bắt khẩn cấp về hành vi vận chuyển trái phép 99,99 gam Methamphetamine. Tiếp tục khám xét nơi ở của A thu giữ 67,01 gam Methamphetamine. Quá trình điều tra A khai nhận số ma túy mà A vận chuyển và tàng trữ là nhằm mục đích bán cho người khác, trong ngày bị bắt khẩn cấp, khi đang trên đường vận chuyển ma túy để tìm đối tượng nghiện, nếu có ai mua thì A sẽ bán thì bị bắt giữ.

A vận chuyển trái phép 99,99 gam Methamphetamine và tàng trữ 67,01 gam Methamphetamine thuộc trường hợp các chất ma túy ở thể rắn có trọng lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam nên hành vi của A đã đủ yếu tố cấu thành tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và chuyển vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra huyện N để điều tra theo thẩm quyền. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra huyện N cho rằng do mục đích A vận chuyển, tàng trữ số ma túy trên là để bán cho người khác nên phải cộng tất cả trọng lượng này lại và tổng trọng lượng là trên 100 gam vì thế A phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự và thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q. Sau đó vụ án đã được cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp thống nhất về tội danh mua bán trái phép chất ma túy và xác định thuộc thẩm quyền xử lý của cấp tỉnh bởi căn cứ vào tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự, lời khai của A (A khai nhận vận chuyển, tàng trữ trái phép số ma túy trên nhằm mục đích mua bán trái phép cho người khác) nên phải chịu TNHS về tội mua bán phép chất ma túy là phù hợp. Đồng thời điều này cũng có lợi hơn việc tổng hợp hình phạt về hai tội tàng trữ và vận chuyển trái phép chất ma túy đối với bị cáo.

Tình huống 2: Thái Văn B vận chuyển trái phép 99,99 gram Methamphetamine (thuộc khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999) và tàng trữ 01 gram Methamphetamine nên thuộc khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và cũng nhằm mục đích mua bán. Và nếu việc định tội giống như đối với A ở tình huống 1 thì B cũng sẽ bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy thuộc khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự khi cộng trọng lượng hai chất ma túy này lại với nhau (trên 100 gam) và vì cùng mục đích để mua bán.

Tình huống 3: Tô Thanh C bị bắt giữ về hành vi vận chuyển trái phép 99,99 gram Methamphetamine nên thuộc khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tàng trữ 0,2 gram Methamphetamine thuộc trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo hướng dẫn tại điểm e tiểu mục 3.6 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự, do các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới 01 gam nên chỉ bị xử lý hành chính. Cũng tương tự với cách định tội của A và B thì tổng trọng lượng của hai chất thu giữ trên 100 gam nên C cũng sẽ bị khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, A phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 3 Điều 194 khi có 02 tội danh ở khoản 2 Điều 194; B phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 3 Điều 194 khi có 01 tội danh ở khoản 2 Điều 194, 01 tội danh ở khoản 1 Điều 194; C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy tại khoản 3 Điều 194 khi có 01 tội danh ở khoản 2 Điều 194 và 01 trường hợp không cấu thành tội phạm. Từ ba tình huống trên cho thấy sự bất hợp lý và không công bằng trong việc định tội đối với A, B và C bởi từ 01 tội danh ở khoản 2 Điều 194 và một hành vi không cấu thành tội phạm cũng sẽ phạm vào khoản 3 Điều 194, tương đương với 02 trường hợp còn lại thay vì C chỉ bị khởi tố về tội vận chuyển trái phép chất ma túy với khung hình phạt tại khoản 2 Điều 194 nếu như không áp dụng tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự. Điều đó là rất bất lợi đối với C đồng thời sẽ tạo ra sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật. Và sự không thống nhất này lại phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người phạm tội.

Khi không có chứng cứ khác chứng minh cho lời khai của người phạm tội là trung thực hay gian dối thì khó có thể chấp nhận hay bác bỏ lời khai đó mà cần kết hợp với những tình tiết có trong hồ sơ vụ án từ đó đánh giá chứng cứ phù hợp với diễn biến sự việc và hồ sơ. Bởi nếu như trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng sau khi đánh giá các chứng cứ đã đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị can là hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì không cần sự thừa nhận của người phạm tội về mục đích tàng trữ, vận chuyển là để mua bán trái phép chất ma túy. Một khi sự nhận tội phụ thuộc vào ý thức của người phạm tội thì ở giai đoạn nào đó, người phạm tội cũng hoàn toàn có thể chối tội. Hơn thế nữa, khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định “không dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”. Tại một số tài liệu cũng như thực tiễn thì mua bán trái phép chất ma túy phải có ít nhất 02 đối tượng nghiện hoặc 02 người chứng kiến việc bị can bán ma túy, nếu không có chứng cứ khác chứng minh thì không thể kết luận bị can có hành vi mua bán trái phép chất ma túy bởi tất cả các chứng cứ và cũng là chứng cứ duy nhất đó chính là lời khai của bị can, không còn chứng cứ nào khác. Và nếu như đã không phụ thuộc vào sự thừa nhận của người phạm tội thì cũng không cần quy định về nội dung này, đồng thời việc xử lý tội phạm phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người phạm tội thì khó có thể có sự thống nhất quan điểm.

Phải chăng trong trường hợp này, nhằm bán trái phép cho người khác là mua bán trái phép chất ma túy cần được hiểu: là sự chứng minh của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử về chuỗi các hành vi của việc tàng trữ, vận chuyển, nếu các hành vi này thể hiện bị can mua bán trái phép chất ma túy thì sẽ bị xử lý về hành vi mua bán chứ không phải dựa vào ý chí, lời khai của người tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy. Nếu như bị can khai vận chuyển để mua bán là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, vậy bị can khai vận chuyển mục đích để sử dụng thì có kết luận là bị can sử dụng trái phép chất ma túy hay không (vì hành vi này không bị xem là tội phạm) bởi việc vận chuyển, tàng trữ để mua bán hay để sử dụng đều cùng do ý chí, lời khai của bị can. Nếu như người phạm tội nắm được quy định này và trình bày lời khai theo hướng mục đích nhằm mua bán trái phép chất ma túy thì sẽ có lợi hơn là để sử dụng vì mục đích để sử dụng sẽ bất lợi hơn (bị khởi tố về vận chuyển trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy), điều này là không hợp lý, không công bằng và tạo ra tiền lệ.

Thế nhưng vấn đề đặt ra, liệu khi có một hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy thuộc khoản 2 Điều 194 và một hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy không đủ định lượng thì cơ quan điều tra vẫn khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy theo mục đích lời khai của người phạm tội hay vẫn khởi tố đúng với tính chất, hành vi là chỉ vận chuyển. Cùng một quy định nhưng bối cảnh khác nhau thì áp dụng khác nhau, điều này là rất không chính xác và không đúng với tinh thần của điều luật.

Có thể viện dẫn điểm c tiểu mục 3.3 Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự về trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 194 (hoặc Điều 195 hoặc Điều 196) Bộ luật Hình sự mà các hành vi đó độc lập với nhau, thì bị truy cứu TNHS về những tội độc lập mà người ấy đã thực hiện. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt chung. Ví dụ: một người mua bán một loại tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và bị bắt, khi khám nhà phát hiện người đó còn tàng trữ một loại tiền chất khác nhưng không nhằm mục đích để mua bán. Trong trường hợp này, người phạm tội bị truy cứu TNHS về tội mua bán tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và tội tàng trữ tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 195 của Bộ luật Hình sự. Tùy từng trường hợp cụ thể mà người đó bị xử phạt mức hình phạt tương ứng đối với từng tội và sau đó quyết định hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đối chiếu với quy định trên thì hành vi của Tạ Minh A đã cấu thành hai tội độc lập là tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy, và có thể hiểu, nếu hành vi của A không cấu thành một tội độc lập trước đó là tội mua bán trái phép chất ma túy thì A không bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy mà cấu thành hai tội độc lập là tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy chỉ vì khác nhau ở chỗ người phạm tội đã bị chứng cứ kết luận là đủ cơ sở cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy hoặc mua bán một loại tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và bị bắt như ví dụ nói trên. Một tội danh mà có thể áp dụng tùy từng tình huống thì trong chừng mực nào đó, tính khuôn mẫu của pháp luật cũng đã giảm đi, và mỗi nơi sẽ áp dụng khác nhau tùy vào đánh giá tình huống của các cơ quan tiến hành tố tụng, tạo nên những hệ quả khác nhau. Do đó, đề xuất sửa đổi Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự theo hướng không nên quy định trong Thông tư này nội dung “nhằm bán trái phép cho người khác” vì điều này sẽ không cần thiết nhưng lại tạo ra cách hiểu khác nhau và áp dụng không thống nhất các quy phạm pháp luật.

2. Vấn đề tiền án về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy được quy định tại điểm a tiểu mục 3.7. Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007

Điểm a tiểu mục 3.7. Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào đã bị kết án về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt một trong các chất ma túy có số lượng được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.6 trên đây, nếu không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Nếu là tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự”.

Sở dĩ Thông tư này chỉ liệt kê các án tích về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy mà không quy định người đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy là vì hành vi mua bán trái phép chất ma túy không cần định lượng, do đó, lần vi phạm tiếp theo, người thực hiện hành vi phạm tội không có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy vẫn bị truy cứu TNHS. Thế nhưng, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự đã không dự liệu trường hợp một người tiếp tục tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt một trong các chất ma túy… không đủ định lượng (ví dụ dưới 0,1 gam đối với Hêrôin) mà trước đó đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy, thì không thể bị xử lý theo liệt kê bên trên của Thông tư, trong khi đó, tội phạm mua bán trái phép chất ma túy là tội phạm gây ảnh hưởng không nhỏ cho xã hội. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Hình sự một người đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy đương nhiên sẽ là căn cứ để tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm nếu như người này chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 64 Bộ luật Hình sự. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Tái phạm nguy hiểm là đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý[1]. Đồng thời tái phạm nguy hiểm cũng được quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự cũng như một số điều luật khác của Bộ luật này có cấu thành định khung tăng nặng.

Như vậy, nếu một người đã từng bị kết án, không phân biệt về tội gì, trong đó có cả tội mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích thì án tích đó sẽ được làm căn cứ để xác định tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo Bộ luật Hình sự nhưng không được căn cứ để định tội (hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy) theo Thông tư liên tịch số 17/2007. Án tích không dùng làm căn cứ để định tội nhưng để định khung là điều không hợp lý và không phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự như đã phân tích. Vì vậy, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự cần bổ sung theo hướng người nào đã bị kết án về các tội ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, … nhằm phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự về án tích và phù hợp với quy định của các nhóm tội về chiếm đoạt tài sản.

Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia[2], kéo theo nhiều loại tội phạm khác như những người “ngáo đá” dễ gây ra ảo giác và dẫn đến giết người, do vậy, các quy định của pháp luật nói chung, pháp luật về ma túy nói riêng trong đó có Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự cần phải được hoàn thiện nhằm góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn nữa với loại tội phạm ngày càng tinh vi và để lại nhiều hậu quả nặng nề cho xã hội như tội phạm ma túy.

Bùi Kim Trọng

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ



Tài liệu tham khảo:

1. Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

2. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.

3. Luật Phòng chống ma túy năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

4. Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự.


[1] Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[2] Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2008.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: