Thứ sáu 13/03/2026 07:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những biến đổi trong hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, trong điều kiện đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế có thể thấy, hệ thống các quy định pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đã ngày càng được hoàn thiện,

1. Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2013

1.1. Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, trong điều kiện đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế có thể thấy, hệ thống các quy định pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đã ngày càng được hoàn thiện, cụ thể:

(i) Trong Hiến pháp và các văn bản luật

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trước hết được ghi nhận tại Điều 70, Hiến pháp năm 1992, trong đó khẳng định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân: “Cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo... Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.

Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009 quy định tại Điều 87 về tội phá hoại chính sách đoàn kết, trong đó có hành vi “gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội”, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm và Điều 129 về tội xâm phạm quyền tự do hội họp, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định: “Người nào có hành vi cản trở công dân thực hiện quyền hội họp, quyền lập hội phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm”.

(ii) Trong các văn bản dưới luật

Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1992, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 đã quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy”.

Ngày 01/3/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP để hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo (Nghị định số 22/2005/NĐ-CP). Tuy nhiên, trước những thay đổi của đời sống xã hội, một số quy định trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP đã bộc lộ những bất cập. Những bất cập này về cơ bản đã được sửa đổi, bổ sung trong Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 8/11/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo.

Có thể nói đây sự biến đổi quan trọng của pháp luật Việt Nam về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng. Điều này cho thấy, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo càng ngày càng được quy định đầy đủ, cũng như những cơ chế đảm bảo quyền tín ngưỡng, tôn giáo không ngừng được hoàn thiện, bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

1.2. Vấn đề đất đai của cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng

Một sự biến đổi quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo chính là những quy định mang tính đột phá về vấn đề đất đai của cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng được quy định trong Luật Đất đai năm 2003.

Lần đầu tiên pháp luật đất đai đã đưa cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng trở thành một trong những chủ thể của quyền sử dụng đất và cũng nêu rõ khái niệm thế nào là cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng tại các khoản 3 và 4 Điều 9 Luật Đất đai năm 2003[1]. Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2003 còn quy định rõ một số vấn đề cụ thể sau:

(i) Đất của cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng theo quy định của Luật là loại đất phi nông nghiệp do Nhà nước giao và không phải đóng tiền sử dụng đất (khoản 7 Điều 33) và do vậy sẽ không được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, để lại thừa kế, cũng như không được nhận thừa kế, tặng cho.

(ii) Kế thừa các quy định của các văn bản pháp luật trước đó quy định rõ hơn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng (tại các điều 50, 51, 99, 100...)

Trên cơ sở quy định của Luật Đất đai năm 2003, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 cũng quy định thế nào là cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng và đất của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể tại khoản 2 và khoản 7 Điều 3 của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 quy định: “Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng, bao gồm đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ và những cơ sở tương tự khác”; “Cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận”.

Như vậy có thể thấy, các quy định pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo từ Luật cho đến Pháp lệnh đã không có sự đồng nhất từ khái niệm từ khái niệm về tín ngưỡng, tôn giáo, chính vì vậy đã không đảm bảo được quyền của các cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng. Đây chính là mặt hạn chế của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn này.

Về đất của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được quy định tại Điều 27 của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004[2]. Ngoài ra, còn có các nghị định, thông tư hướng đẫn thi hành về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, chính vì các văn bản hướng dẫn này không quy định rõ chủ thể trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ai nên các cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên người trụ trì chùa, dẫn đến khi người trụ trì mất, hay chuyển sang trụ trì chùa khác thì dễ xảy ra tranh chấp.

Như vậy có thể thấy, trong giai đoạn này các quy định pháp luật về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng còn tản mạn, các văn bản điều chỉnh còn mâu thuẫn chưa thống nhất, dẫn đễn các cách hiểu khác nhau và dễ xảy ra tranh chấp, nhất là tranh chấp về đất đai của các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng.

2. Biến đổi của các quy định pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo từ năm 2013 đến nay

2.1. Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Hiến pháp năm 2013 được thông qua đã có nhiều nội dung mới được bổ sung liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó, đã khẳng định rõ hơn việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cụ thể hóa quy định này, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã dành riêng 01 điều khoản quy định về tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác (Điều 164)[3]. Đây là bước tiến bộ của quy định pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Bên cạnh đó, ngày 18/11/2016 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo đã được Quốc hội thảo luận và thông qua tại kỳ họp thứ hai, khóa XIV. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 gồm 9 chương, 8 mục và 68 điều quy định rõ về: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Ngoài ra, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 còn quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 cũng có các quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt luật đã quy định rõ tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Ngày 30/12/2017 Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo.

2.2. Về vấn đề đất đai của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo

Theo Luật Đất đai năm 2013 thì đất của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đã được quy định cụ thể, rõ ràng hơn so với Luật Đất đai năm 2003, cụ thể:

Thứ nhất, bên cạnh việc khẳng định cơ sở tôn giáo, tính ngưỡng là chủ thể sử dụng đất thì Luật Đất đai năm 2013 còn nhấn mạnh 03 đặc điểm sau:

(i) Đất đai của cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng là đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao (kể từ thời điểm sau 01/7/2004). Ngoài ra, đối với cơ sở tôn giáo thì chủ thể sử dụng đất của cơ sở tôn giáo là tổ chức tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động. Tổ chức tôn giáo nào dù tồn tại nhưng không được Nhà nước cho phép hoạt động thì đất của tổ chức này cũng không được công nhận là đất của cơ sở tôn giáo.

(ii) Đất của cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng thuộc nhóm đất phi nông nghiệp (điểm g khoản 1 Điều 10) và không phải trả tiền sử dụng đất (khoản 5 Điều 54).

(iii) Quyền sử dụng đất của cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng bị hạn chế. Điều đó thể hiện ở chỗ: Tổ chức được Nhà nước giao đất không được thu tiền sử dụng đất; không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất (khoản 2 Điều 173).

Thứ hai, Luật Đất đai năm 2013 quy định rằng, đất của cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng hình thành từ 03 nguồn gốc sau: (i) Hình thành thông qua việc Nhà nước giao quyền sử dụng đất; (ii) Hình thành thông qua việc Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; (iii) Hình thành thông qua kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai; quyết định về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai; quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân; quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án quy định tại điểm l khoản 1 Điều 169.

Thứ ba, về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Luật Đất đai năm 2013 sửa đổi Luật Đất đai năm 2003 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng theo hướng bỏ 02 điều kiện (có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo; có xác nhận của UBND cấp xã về nhu cầu sử dụng đất của cơ sở tôn giáo) và bổ sung thêm điều kiện (đất không có tranh chấp)[4]. Theo điểm h, điểm i Điều 5 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ sở tôn giáo ghi tên cơ sở tôn giáo và địa chỉ nơi có cơ sở tôn giáo. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tín ngưỡng thì ghi tên của cộng đồng dân cư (do cộng đồng dân cư xác định, được UBND cấp xã xác nhận) và địa chỉ nơi sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư.

Như vậy so với Luật Đất đai năm 2003 thì Luật Đất đai năm 2013 (và các văn bản hướng dẫn) đã quy định rõ rằng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng phải ghi rõ tên chủ thể sử dụng. Tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai cũng quy định rõ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ sở tôn giáo, trong đó nêu rõ từng mục đích sử dụng đất của cơ sở tôn giáo để làm căn cứ cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất lâu dài và quyền sử dụng đất có thời hạn. Điều này đã khắc phục được những bất cập của các quy định pháp luật trước đó.

Thứ tư, về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2013 quy định: Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng là UBND cấp tỉnh. Ngoài ra, đối với đất của cộng đồng dân cư thì UBND cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Thứ năm, về vấn đề bồi thường đất. Luật Đất đai năm 2013 quy định về vấn đề bồi thường đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất do cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo đang sử dụng tại khoản 2 Điều 75, khoản 3 Điều 78 Luật Đất đai năm 2013. Đây là những quy định mới bổ sung so với Luật Đất đai năm 2003. Những quy định này giúp các địa phương tháo gỡ vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng.

Như vậy, có thể thấy từ giai đoạn Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 có hiệu lực cho đến nay, các quy định pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đã biến đổi cả về chất và lượng với mục đích đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Điều này thể hiện cụ thể như sau:

(i) Pháp luật đã mở rộng phạm vi chủ thể có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ “công dân” thành “mọi người”, thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.

(ii) Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã phản ánh rõ hơn trong phạm vi điều chỉnh của Luật cũng như thể hiện một cách cơ bản nhất chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người.

(iii) Cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đã được pháp luật đất đai thừa nhận là một trong những chủ thể quyền sử dụng đất. Đồng thời các vấn đề đất của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đã được quy định một các rõ ràng, cụ thể nhất là vấn đề nguồn gốc đất, vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vẫn đề bồi thường đất đai, đã phần nào hạn chế việc tranh chấp đất đai của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay.

(iv) Pháp luật đã phân cấp rõ trách nhiệm của các cấp cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và tín ngưỡng.

(v) Trong Bộ luật Hình sự năm 2013 thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được bảo vệ bằng một điều luật riêng (Điều 164) và mức hình phạt cao nhất đã tăng lên đến 05 năm. Đây là một bước tiến quan trọng, thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước ta đối với tội phạm vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

(vi) Pháp luật đã quy định rõ tổ chức tôn giáo ở Việt Nam là loại pháp nhân phi thương mại. Điều này đã thể hiện được vị trí của các tổ chức tôn giáo trong xã hội, đồng thời cũng giúp cho việc các tổ chức tôn giáo thực hiện được các quyền tự do tôn giáo của mình.

(vii) Các thủ tục hành chính trong công tác quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như việc công nhận thành lập tổ chức tôn giáo đã được đơn giản và thuận lợi hơn rất nhiều. Điều này cho thấy, Nhà nước ta tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình.

(viii) Pháp luật đã có những quy định khuyến khích các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc tham gia các hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, đào tạo, bảo trợ xã hội cũng như tham gia sâu vào các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo.

(ix) Pháp luật không chỉ đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Việt Nam mà còn tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được vào tu tại cơ sở tôn giáo; được tổ chức tôn giáo Việt Nam phong chức, phong phẩm… được tập trung sinh hoạt tôn giáo riêng tại cơ sở tôn giáo hoặc tại địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam. Có thể thấy, đây là bước tiến quan trọng của pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, đáp ứng được yêu cầu hội nhập toàn cầu.

(x) Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã có những quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Có thể thấy, đây là bước chuyển mới trong pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, lần đầu tiên pháp luật đã đề cập đến trách nhiệm của các cơ quan quản lý cũng như cán bộ làm công tác quản lý trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

TS. Nguyễn Thị Tố Uyên

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn


[1] Điều 9:

“…3. Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất;

4. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất…”

[2] Điều 27:

“1. Đất có các công trình do cơ sở tôn giáo sử dụng gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động được sử dụng ổn định lâu dài.

2. Đất có các công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được sử dụng ổn định lâu dài”.

[3] Điều 64:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Dẫn đến biểu tình;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

[4] Khoản 4 Điều 102 quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất: “Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện sau đây: Được Nhà nước cho phép hoạt động; Không có tranh chấp; Không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho sau ngày 01 tháng 7 năm 2004”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: