Thứ hai 27/07/2026 00:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những điểm mới trong khái niệm tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015

Tóm tắt: Qua việc phân tích các điểm mới trong khái niệm tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015,tác giả bài viết chỉ ra một số vấn đề cần phải bàn luận và đề xuất một số góp ý nhằm hoàn thiện khái niệm tội phạm.

Abstract: By analyzing new points in the definition of crime according to the Penal Code in 2015, the author has pointed out some issues need to be discussed and proposed a number of suggestions for perfecting the definition of crime.

Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (viết tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 với rất nhiều điểm mới, trong đó đáng chú ý là những sửa đổi, bổ sung về khái niệm tội phạm. Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự bởi lẽ, nội dung của khái niệm tội phạm “thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự”[1]. Đồng thời,nó còn “được xem như là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lý khác”[2]. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về những điểm mới cũng như những nội dung trong khái niệm tội phạm không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm của Đảng và Nhà nước ta. Điều đó thể hiện ở một số nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, về khách thể của tội phạm

Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”[3].

So với khái niệm tội phạm của các Bộ luật Hình sự trước đó thì khái niệm tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm “quyền con người” vào các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Sự bổ sung này là nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 (Điều 3 và chương II). Cụ thể tại Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”[4]. Như vậy, khi Hiến pháp (luật gốc) đã xác định quyền con người là một trong những quyền cơ bản và cần được bảo vệ thì Bộ luật Hình sự (một trong những luật chuyên ngành, là sự cụ thể hóa luật gốc) bổ sung thêm quyền con người vào các quan hệ xã hội cần được bảo vệ là hoàn toàn phù hợp.

Thứ hai, về chủ thể của tội phạm

Nếu như trong các Bộ luật Hình sự trước đây chỉ quy định duy nhất một chủ thể của tội phạm đó là con người thì đến Bộ luật Hình sự năm 2015, chủ thể của tội phạm đã được mở rộng hơn, bao gồm cả: con người và pháp nhân thương mại. Vậy, pháp nhân thương mại là gì? Tại sao Bộ luật Hình sự lại quy định mở rộng chủ thể của tội phạm bao gồm cả pháp nhân thương mại? Theo Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên...”[5]. Quy định trên cho thấy, pháp nhân thương mại trước hết phải là pháp nhân được thành lập và hoạt động theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật có liên quan nhưng có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Tuy nhiên, khi pháp nhân thương mại thực hiện hành vi bị coi là tội phạm, xâm hại đến các quan hệ xã hội được Nhà nước và pháp luật bảo vệ thì pháp nhân thương mại đó sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều đó có nghĩa, pháp nhân thương mại cũng là một trong những chủ thể của tội phạm. Và sự mở rộng về chủ thể của tội phạm này xuất phát từ những lý do sau đây:

Một là, xuất phát từ tình hình vi phạm pháp luật do pháp nhân thương mại thực hiện diễn ra trong những năm qua ngày càng phức tạp và nghiêm trọng. Đặc biệt là các hành vi gây ô nhiễm môi trường, buôn lậu, trốn thuế, sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng giả, hàng cấm, trốn đóng bảo hiểm cho người lao động... Những hành vi vi phạm pháp luật nói trên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội và có tính chất, mức độ nguy hiểm như tội phạm nhưng do chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự nên không thể xử lý hình sự với những pháp nhân thương mại đó mà chỉ có thể xem xét xử phạt vi phạm hành chính hoặc nhắc nhở yêu cầu sửa chữa, khắc phục hậuquả.

Ví dụ: Năm 2008, Công ty trách nhiệm hữu hạn Vedan có vốn đầu tư nước ngoài (Đài Loan) thực hiện hành vi gian lận tinh vi trong việc xả chất thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vải - Đồng Nai, gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân ven sông Thị Vải… Nhưng áp dụng vào quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại Vedan (do Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại) nên chỉ có thể xử lý pháp nhân thương mại này bằng biện pháp xử phạt hành chính. Như vậy, việc xử phạt vi phạm hành chính với pháp nhân thương mại Vedan là chưa thích đáng so với hậu quả mà Vedan đã gây ra cho môi trường và xã hội cũng như chưa đủ sức răn đe đối với các pháp nhân thương mại khác.

Hai là, về cơ chế xử phạt vi phạm hành chính và bồi thường thiệt hại áp dụng đối với pháp nhân thương mại vi phạm trên thực tế chưa thực sự hiệu quả, còn nhiều bất cập,gây khó khăn cho người dân - đối tượng bị thiệt hại. Bởi vì, họ không thể thực hiện được nghĩa vụ tự chứng minh những thiệt hại mà pháp nhân thương mại đã gây ra cho mình trong thủ tục đòi bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự, trong khi cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính lại không có đội ngũ cán bộ chuyên trách để điều tra, chứng minh vi phạm cũng như hậu quả của vi phạm. Như vậy, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với pháp nhân thương mại vi phạm trên thực tế chưa đạt được hiệu quả thiết thực.

Ví dụ: Tháng 4/2016, Công ty trách nhiệm hữu hạn Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh-FHS có hành vi hủy hoại môi trường biển Việt Nam, bằng việc xả chất thải có chứa độc tố là nguyên nhân làm cho hải sản và sinh vật biển chết hàng loạt, nhất là ở tầng đáy, gây ảnh hưởng rất lớn đến ngư dân và các doanh nhiệp hoạt động du lịch biển. Do đó, người dân đã khởi kiện Formosa để đòi bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, để yêu cầu pháp nhân thương mại Formosa bồi thường thì bên khởi kiện phải chứng minh được thiệt hại do cá chết hàng loạt đã ảnh hưởng đến mình như thế nào. Đây là một khó khăn lớn đối với người dân bởi ngoài những thiệt hại có thể định lượng được thông qua những hóa đơn, chứng từ như: những thống kê về các các hư hỏng của tàu, thuyền; các chi phí chuyển đổi nghề nghiệp, các giấy tờ nằm viện, chi phí điều trị, toa thuốc do ăn phải cá chết… thì còn những giao dịch buôn bán nhỏ lẻ không có hóa đơn, chứng từ khác người dân sẽ không chứng minh được. Hơn nữa những thiệt hại trong tương lai như biển có trong sạch trở lại để người dân tiếp tục sinh sống bằng nghề đánh bắt cá hay không lại là một vấn đề không nói trước được. Vì vậy, để đòi bồi thường thiệt hại đối với pháp nhân thương mại Formosa, người dân phải dựa vào các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính. Tuy nhiên, các cơ quan này lại không có đội ngũ cán bộ chuyên trách để điều tra, chứng minh vi phạm của pháp nhân thương mại Formosa mà phải nhờ đến các chuyên gia của nước ngoài phân tích và cung cấp số liệu mới đưa ra được kết luận cuối cùng. Như vậy, về cơ bản, cơ chế xử phạt hành chính với pháp nhân thương mại Formosa chưa thực sự hiệu quả.

Ba là, khi xem xét các quy định của Luật Doanh nghiệp cũng như một số luật khác có liên quan đến pháp nhân thương mại, chúng tôi thấy rằng: Nhiều quyết định quan trọng của pháp nhân thương mại là doanh nghiệp phải do tập thể thông qua (ví dụ: đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là Hội đồng thành viên; đối với công ty cổ phần là Hội đồng quản trị…). Vì vậy, nếu pháp nhân thương mại nói trên thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có tính chất tội phạm thì chủ thể chịu trách nhiệm hình sự không thể là một cá nhân nào đó mà phải là cả một tập thể, một doanh nghiệp mà đại diện là những người đứng đầu pháp nhân thương mại như Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị. Do đó, nếu áp dụng theo Bộ luật Hình sự năm 1999 sẽ không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Ngoài ra, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy, đối với một số tội như: Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190); Tội trốn thuế (Điều 200); Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235) quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015… nếu là cá nhân có hành vi vi phạm thì sẽ bị xử lý hình sự, trong khi đó nếu là pháp nhân cũng thực hiện các hành vi vi phạm nêu trên, thậm chí sẽ ở những quy mô và mức độ nghiêm trọng hơn rất nhiều lần cá nhân thì không xử lý được về hình sự. Điều đó sẽ gây ra tình trạng bỏ lọt tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như ngăn ngừa tội phạm mới ở nước ta.

Bốn là, hiện nay, trên thế giới có 120 nước đã quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân như: Nhật Bản, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Australia, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Vương quốc Bỉ, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Slovakia,… và 06 quốc gia thuộc khối ASEAN, gồm: Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philipin, Indonexia và Campuchia. Do đó, việc nước ta quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là tạo ra sự bình đẳng giữa doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài đầu tư với doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam đầu tư. Bởi cùng một hành vi vi phạm nghiêm trọng tương tự nhau nhưng doanh nghiệp Việt Nam hoạt động ở nước ngoài thì bị xử lý hình sự theo pháp luật của nước sở tại, còn đối với doanh nghiệp Việt Nam lẫn doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở nước ta vi phạm lại chỉ bị xử phạt hành chính. Như vậy là bất bình đẳng.

Năm là, việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại chính là việc nội luật hóa các Công ước quốc tế mà Việt nam là thành viên, trong đó đặc biệt lưu ý đến Công ước Liên Hiệp quốc về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia (Công ước TOC). Theo Công ước này, yêu cầu tất cả quốc gia thành viên áp dụng những biện pháp cần thiết để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc tham gia vào các nhóm tội phạm nghiêm trọng… gồm hành vi tham gia vào nhóm tội phạm có tổ chức, rửa tiền, cản trở công lý mà trách nhiệm pháp lý ở đây có thể là trách nhiệm hình sự, dân sự hay hành chính. Do đó, để thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Công ước TOC nói riêng cũng như các điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia nói chung thì Việt Nam cần phải quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.

Từ những lý do trên đây, khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được ban hành, các nhà làm luật đã bổ sung thêm quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại để kịp thời khắc phục những bất cập nêu trên và điều chỉnh các vi phạm pháp luật nghiêm trọng do pháp nhân thương mại gây ra trong giai đoạn hiện nay là hoàn toàn phù hợp.

Thứ ba, về hậu quả pháp lý của tội phạm

Trong khái niệm tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định về tính phải bị xử lý hình sự nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý khi phân tích về tội phạm thì tính phải bị xử lý hình sự vẫn mặc nhiên được thừa nhận (trong nhiều nghiên cứu khoa học sử dụng “tính phải chịu hình phạt”). Bởi lẽ, xuất phát từ mỗi quy định về phần các tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 1999 bao giờ cũng có quy định về hình phạt tương ứng kèm theo hoặc các biện pháp xử lý hình sự khác. Có nghĩa, chỉ có tội phạm mới “phải bị xử lý hình sự” hay “phải bị xử lý hình sự” chỉ gắn liền với tội phạm. Do đó, rõ ràng “phải bị xử lý hình sự” là một dấu hiệu (về hậu quả pháp lý) của tội phạm và việc Bộ luật Hình sự năm 1999 không khái quát dấu hiệu này trong khái niệm tội phạm là chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn khách quan. Đây là một điểm hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1999 và khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được ban hành thì các nhà làm luật mới khắc phục hạn chế đó bằng cách tạo ra cơ sở pháp lý khẳng định tội phạm phải bị xử lý hình sự là một dấu hiệu của tội phạm nhằm nhấn mạnh tính răn đe, phòng ngừa, giáo dục, ngăn ngừa tội phạm mới cũng như khẳng định tính tất yếu khách quan của quy định này.

Như vậy, so với Bộ luật Hình sự năm 1999, khái niệm tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có nhiều điểm mới bổ sung theo hướng chặt chẽ, khoa học và phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu và phân tích một cách sâu sắc những đặc điểm cụ thể thuộc nội dung của khái niệm tội phạm cũng như xem xét mối liên hệ giữa chúng thì thấy rằng còn một số điều cần phải bàn như sau:

Một là, pháp luật hình sự đã quy định về “Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm”, thì đương nhiên hành vi nguy hiểm cho xã hội đó phải được hiểu là nó đã xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ (Chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, lợi ích của Nhà nước, tổ chức, trật tự pháp luật...được quy định rất cụ thể tại Điều 1 Bộ luật Hình sự năm 2015). Và như vậy, nếu không có hành vi nguy hiểm nào xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì không có tội phạm xảy ra. Do đó, khi đề cập hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là đã bao trùm cả sự xâm phạm của hành vi đó vào các quan hệ xã hội cần bảo vệ của luật hình sự. Vì vậy, việc các nhà làm luật quy định lại các quan hệ xã hội nói trêntrong khái niệm tội phạm tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 là việc làm không cần thiết.

Hai là, Bộ luật Hình sự Việt Nam không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, đó là: “Người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”[6].

Từ quy định này, dưới góc độ khoa học có thể hiểu: Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của con người. Như vậy, có thể rút ra định nghĩa về người có năng lực trách nhiệm hình sự như sau: “Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện và có khả năng điều khiển được hành vi ấy”. Nghĩa là: Người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người có đầy đủ cả hai khả năng: Khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi mà họ thực hiện và khả năng điều khiển hành vi theo ý chí của mình.

Trong khi đó, dưới góc độ khoa học pháp lý, lỗi được hiểu là: “Thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý”[7]. Mà thái độ tâm lí của con người bao gồm hai yếu tố lí trí và ý chí - là những yếu tố cần thiết để hợp thành lỗi. Trong đó, lí trí phản ánh khả nhận thức thực tại khách quan của con người còn ý chí phản ánh khả năng điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức đó. Đây là “những yếu tố tâm lí cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người”[8]. Nội dung của những yếu tố này cũng chính là những điều kiện bắt buộc để tạo thành năng lực trách nhiệm hình sự.

Vậy, giữa hai dấu hiệu: Năng lực trách nhiệm hình sự và lỗi có mối quan hệ mật thiết, mang tính nhân quả với nhau: Phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể thực hiện một hành vi có lỗi và ngược lại khi nói đến hành vi có lỗi thì bao giờ cũng được thực hiện bởi người có năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, khi một người được coi là có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thì đương nhiên họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Chính vì thế, khi tính có lỗi đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đặc điểm của tội phạm rồi thì nhà làm luật không cần phải quy định tính có năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể vào trong khái niệm này nữa. Quy định như vậy sẽ làm cho nội dung khái niệm của tội phạm trở nên rườm rà và chưa đảm bảo tính khoa học.

Từ sự phân tích trên, chúng tôi thấy rằng cần xây dựng lại khái niệm tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do con người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và phải bị xử lý hình sự.

ThS. Nguyễn Thị Vân

Học viện Chính trị Công an nhân dân


[1] GS.TSKH. Đào Trí úc (Chủ biên), “Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, tr. 157.

[2] PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hoà, “Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam”, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 1991, tr. 9.

[3] Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Điều 3 và chương II của Hiến pháp năm 2013.

[5] Điều 75Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6] Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] GS. TS Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam”, Nxb, Công an nhân dân, Hà Nội năm 2006, tr. 128.

[8] GS. TS Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam”, Nxb, Công an nhân dân, Hà Nội năm 2006, tr. 128.



In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm mua bán người trong bối cảnh hội nhập quốc tế Một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay Đưa Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vào cuộc sống theo lời Bác Hồ Một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Luật Hợp tác xã Những vấn đề cần chứng minh trong tố tụng hành chính Công tác phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-Pu-Chia đánh bạc thực trạng và giải pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: