Thứ hai 09/03/2026 06:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh

Từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2017, thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết 1.887 trường hợp nuôi con nuôi trong nước, trung bình mỗi năm giải quyết khoảng 250 trường hợp

1. Tình hình thực hiện Nghị định số 19/2011/NĐ-CP

1.1. Đăng ký nuôi con nuôi trong nước

- Kết quả đăng ký nuôi con nuôi trong nước

Từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2017, thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết 1.887 trường hợp nuôi con nuôi trong nước, trung bình mỗi năm giải quyết khoảng 250 trường hợp. Trẻ em được nhận làm con nuôi đa số là trẻ sống tại gia đình (chiếm tỉ lệ 80,3%), trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi chiếm tỉ lệ thấp (4,2%), còn lại là trẻ sống ở nơi khác (trẻ bị bỏ rơi chưa tiếp nhận vào cơ sở nuôi dưỡng...) chiếm tỉ lệ 15,5%. Hầu hết trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước là trẻ em có sức khỏe bình thường (tỉ lệ 98,6%), rất ít trẻ có nhu cầu đặc biệt được nhận làm con nuôi trong nước (tỉ lệ 1,4%).

Về đăng ký nuôi con nuôi thực tế: Tổng số các trường hợp nuôi con nuôi thực tế đã được rà soát là 207 trường hợp, đã được đăng ký là 186 trường hợp, 21 trường hợp chưa đăng ký (do không có nguyện vọng đăng ký, cha mẹ nuôi muốn giữ bí mật nhân thân của con nuôi, không đáp ứng đủ điều kiện đăng ký nuôi con nuôi thực tế). Trên thực tế, còn rất nhiều trường hợp nuôi con nuôi thực tế chưa được khai báo, đăng ký, do cha mẹ nuôi không muốn công khai quan hệ cha, mẹ nuôi, con nuôi, cũng như bí mật đời tư của con nuôi.

Về các trường hợp người tu hành của các tổ chức tôn giáo đăng ký nhận nuôi con nuôi: Trên địa bàn Thành phố có 07 trường hợp người tu hành của các tổ chức tôn giáo đăng ký nuôi con nuôi trong các năm 2011, 2012. Sau khi nhận được chỉ đạo của Cục Con nuôi hướng dẫn về việc không giải quyết cho người tu hành của các cơ sở tôn giáo nhận con nuôi vì không đảm bảo mục đích của việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 2 Luật Nuôi con nuôi, đến nay, trên địa bàn Thành phố không giải quyết việc người tu hành đăng ký nuôi con nuôi.

- Việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Ngay khi Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực, Sở Tư pháp đã chủ động hướng dẫn Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn thực hiện đúng quy định tìm gia đình thay thế cho trẻ theo quy định tại Điều 15 Luật Nuôi con nuôi, Điều 6 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Nghị định số 19/2011/NĐ-CP). Nhìn chung, việc thực hiện nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước tại thành phố Hồ Chí Minh được bảo đảm thực hiện tốt, đầy đủ, đúng quy định. Tuy nhiên, rất ít trẻ có hoàn cảnh đặt biệt (trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi) tìm được gia đình thay thế trong nước theo quy định nêu trên (chỉ chiếm 4,2% đối với trẻ sống trong cơ sở nuôi dưỡng, 15,5% đối với trẻ chưa được tiếp nhận vào cơ sở nuôi dưỡng), mà đa số các trường hợp nhận con nuôi trong nước thuộc diện nhận con riêng/cháu ruột sống tại gia đình hoặc nhận trẻ em sống ngoài cộng đồng.

- Công tác theo dõi tình hình phát triển của con nuôi

Theo Điều 23 Luật Nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi có nghĩa vụ thông báo tình hình phát triển của trẻ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ thường trú về tình trạng sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự hòa nhập của con nuôi (06 tháng/lần trong thời hạn 03 năm). Quy định này chưa được thực hiện đầy đủ, nhiều trường hợp cha mẹ nuôi không thực hiện việc thông báo.

- Thay đổi hộ tịch cho người được nhận làm con nuôi

Sau khi được công nhận việc nuôi con nuôi, phần lớn cha mẹ nuôi đều làm thủ tục xin thay đổi hộ tịch của con nuôi theo quy định của Luật Hộ tịch.

- Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi trong nước

Theo báo cáo của các quận, huyện, việc sử dụng lệ phí đăng ký nuôi con nuôi trong nước được thực hiện theo quy định. Tuy nhiên, do số lượng đăng ký nuôi con nuôi tại các xã, phường, thị trấn ít và thường thuộc diện miễn lệ phí (trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi) nên lệ phí đăng ký nuôi con nuôi trong nước không đủ để chi phí cho công tác lấy ý kiến của người có liên quan về việc cho trẻ em làm con nuôi.

1.2. Giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài

- Kết quả đăng ký nuôi con nuôi nước ngoài

Từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2017, thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết 935 trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Đa số các trẻ em được nhận làm con nuôi sống tại các cơ sở nuôi dưỡng (tỉ lệ 92%), trẻ em sống tại gia đình chiếm tỉ lệ thấp (8%). Số lượng trẻ em có nhu cầu đặc biệt (trẻ khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo) được nhận làm con nuôi nước ngoài chiếm tỉ lệ cao hơn (65%) so với trẻ em có sức khỏe bình thường (35%).

- Tìm gia đình thay thế trong nước trước khi giải quyết cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài

Thực hiện Điều 4, Điều 15, Điều 16 Luật Nuôi con nuôi, Sở Tư pháp thực hiện thông báo tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và tiếp nhận, giải quyết nhu cầu nhận con nuôi của công dân thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh. Đến nay, Sở Tư pháp đã thông báo tìm gia đình thay thế trong nước cho 79 trường hợp. Tuy nhiên, chưa có trường hợp nào tìm được gia đình thay thế trong nước sau khi được thông báo; Sở Tư pháp cũng chưa tiếp nhận trường hợp nào đăng ký nhu cầu nhận con nuôi theo quy định tại Điều 16 Luật Nuôi con nuôi.

- Các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em tham gia giải quyết con nuôi nước ngoài

Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh có 07 cơ sở trợ giúp xã hội công lập, 46 cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập, nuôi dưỡng gần 3.000 trẻ có hoàn cảnh đặc biệt. Trong đó, 08 cơ sở trợ giúp xã hội (05 cơ sở công lập và 03 cơ sở ngoài công lập) được Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ định tham gia giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài. Việc thành lập và hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập đã góp phần đáng kể trong việc giảm gánh nặng ngân sách nhà nước về đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực chăm lo cho các đối tượng bảo trợ.

- Lập danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế

Theo số liệu của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2017, 05 cơ sở trợ giúp xã hội trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã lập danh sách và hồ sơ trẻ em cần tìm gia đình thay thế cho 894 trường hợp, trong đó 872 trẻ được cho làm con nuôi nước ngoài và 22 trẻ được cho làm con nuôi trong nước. Thực tế cho thấy, còn rất nhiều trường hợp trẻ sống trong các cơ sở nuôi dưỡng chưa được lập danh sách cần tìm gia đình thay thế; việc xác định tình trạng sức khỏe của trẻ em để phân loại trẻ thuộc Danh sách 1 (sức khỏe bình thường) hay Danh sách 2 (trẻ em khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo) có nhiều vướng mắc, có biểu hiện bị lợi dụng (xếp trẻ em vào Danh sách 2 không đúng đối tượng để có thời gian giải quyết nhanh hơn).

- Việc xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài

Tại thành phố Hồ Chí Minh, Công an Thành phố, Công an các quận, huyện, xã, phường, thị trấn đã thực hiện công tác thẩm tra, xác minh nguồn gốc trẻ, giúp cho việc giải quyết việc trẻ em làm con nuôi nước ngoài chặt chẽ, đúng quy định. Ngoài ra, Sở Tư pháp cũng nhận được sự hỗ trợ rất tích cực từ Công an các địa phương khác hỗ trợ thẩm tra, xác minh tìm thân nhân của trẻ bị bỏ rơi. Tuy nhiên, do địa bàn rộng lớn, dân cư đông, tình hình cư trú của người nhập cư phức tạp nên việc thẩm tra, xác minh nguồn gốc trẻ thường thời gian kéo dài.

- Lệ phí, chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài

Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đơn vị có số lượng giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài cao nhất trong cả nước, số lệ phí và chi phí giải quyết nuôi con nuôi được phân bổ sử dụng lớn, tuy nhiên, việc lập dự toán và sử dụng rất khó khăn do nội dung chi, mức chi không cụ thể, quy định việc điều chuyển về ngân sách địa phương…

2. Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP

2.1. Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi

Khoản 1 Điều 9 Luật Nuôi con nuôi quy định, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước. Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định: Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc có sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Như vậy, quy định tại Nghị định số 19/2011/NĐ-CP thu hẹp hơn so với Luật Nuôi con nuôi, không cho phép lựa chọn thẩm quyền theo nơi thường trú của người được nhận hoặc của người nhận con nuôi.

Bên cạnh đó, quy định của Luật Nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP đều quy định thẩm quyền được xác định theo nơi thường trú.

Các quy định trên chưa phù hợp thực tiễn, chưa tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; chưa đồng bộ với các quy định của Luật Hộ tịch về xác định thẩm quyền của cơ quan đăng ký hộ tịch theo nơi cư trú (bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú và nơi đang sinh sống). Vì có nhiều trường hợp trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, người có nhu cầu nhận trẻ em làm con nuôi không thực tế cư trú tại nơi có đăng ký thường trú hoặc không có nơi thường trú do không đủ điều kiện đăng ký thường trú...

2.2. Xác định trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP đã quy định cụ thể các loại khuyết tật, các loại bệnh, sau đó được Cục Con nuôi hướng dẫn cụ thể tại Tài liệu hướng dẫn phân loại và lập danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế theo quy định pháp luật về nuôi con nuôi. Điều 6 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP giao trách nhiệm cho trung tâm nuôi dưỡng trẻ em lập danh sách trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo (Danh sách 2) xin ý kiến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trước khi gửi cho Sở Tư pháp. Trong thực tế, việc thực hiện quy định này gặp rất nhiều vướng mắc như: (i) Có nhiều dạng khuyết tật, bệnh tật không được nêu tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP cũng như Bảng hướng dẫn phân loại và lập danh sách trẻ em thuộc Danh sách 2 của Cục Con nuôi; (ii) Đối với các loại bệnh có trong danh mục thì việc đánh giá, kết luận của các tổ chức y tế cũng không cụ thể; hoặc được mô tả khác nhau bằng ngôn ngữ chuyên ngành, không có kết luận một cách cụ thể. Từ đó dẫn đến việc không thống nhất giữa các đơn vị trong việc phân loại trẻ theo diện Danh sách 1 hoặc Danh sách 2.

2.3. Thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước

- Chưa có quy định về việc xác minh nguồn gốc của trẻ em được cho làm con nuôi trong nước và chưa có quy trình giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi trong nước nên người nhận con nuôi tự liên hệ với người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em và thỏa thuận về việc cho nhận con nuôi.

- Nhìn chung việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được quan tâm. Các cơ sở nuôi dưỡng tại thành phố Hồ Chí Minh chưa thực hiện việc lập danh sách trẻ cần tìm gia đình thay thế, chỉ có những cơ sở được chỉ định tham gia vào việc giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài mới lập danh sách, mục đích là để đảm bảo thủ tục giới thiệu trẻ làm con nuôi nước ngoài. Hiệu quả của việc tìm gia đình thay thế cho trẻ bằng hình thức Sở Tư pháp niêm yết, thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương là không cao.

- Về thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP không còn phù hợp với quy định tại Điều 28 Luật Hộ tịch.

2.4. Chỉ định cơ sở trợ giúp xã hội tham gia giải quyết con nuôi nước ngoài

Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ có 08 cơ sở trợ giúp xã hội được Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ định tham gia giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài. Trên thực tế, hiện nay còn nhiều cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em; có đội ngũ nhân sự, cơ sở vật chất đảm bảo tiêu chuẩn nhưng chưa được chỉ định tham gia giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài, do trẻ em được nuôi dưỡng tại các cơ sở ngoài công lập có hồ sơ pháp lý, nguồn gốc không đảm bảo, gặp rất nhiều khó khăn trong việc thẩm tra, xác minh nguồn gốc trẻ khi giải quyết tìm gia đình thay thế cho trẻ.

2.5. Yêu cầu về xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài

Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định: Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi được cho làm con nuôi ở nước ngoài, thì phải có văn bản xác minh và kết luận rõ ràng của Công an cấp tỉnh về nguồn gốc trẻ em bị bỏ rơi, không xác định được cha mẹ đẻ. Thực tế, nhiều trường hợp Công an Thành phố đã thực hiện công tác xác minh nhưng không xác minh được thông tin về cha mẹ đẻ của trẻ do không nhận được kết quả xác minh từ các địa phương khác hoặc thông tin về cha mẹ đẻ không chính xác. Nhiều trường hợp, Sở Tư pháp xác minh và tiếp xúc được với thân nhân, cha mẹ đẻ của trẻ thông qua việc xác minh trực tiếp ở các địa phương khác.

2.6. Yêu cầu về giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài

Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định: Căn cứ tình hình thực tiễn của địa phương, Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy chế phối hợp liên ngành để tham mưu, tư vấn trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài bảo đảm chặt chẽ, khách quan, phù hợp với nhu cầu và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trên thực tế, quy định này chưa được thực hiện vì không có tiêu chí đánh giá về tính phù hợp với nhu cầu và lợi ích tốt nhất của đứa trẻ.

2.7. Quản lý tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam

Khoản 2 Điều 37 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định: Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các Bộ, ngành, địa phương có liên quan thực hiện quản lý Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam. Nhưng Thông tư số 21/2011/TT-BTP ngày 21/11/2011 của Bộ Tư pháp về việc quản lý Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam lại không quy định vai trò của địa phương hoặc phải phối hợp với địa phương trong công tác quản lý đối với hoạt động của các Văn phòng con nuôi nước ngoài. Do đó, trường hợp Văn phòng con nuôi có các hoạt động không phù hợp nguyên tắc của Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp quốc tế trong lĩnh vực con nuôi quốc tế, các nguyên tắc về giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài của pháp luật Việt Nam chưa được phát hiện, chấn chỉnh. Cụ thể như việc các Văn phòng con nuôi trực tiếp tìm trẻ em tại các cơ sở nuôi dưỡng để tiến hành việc hỗ trợ tìm gia đình thay thế ở nước ngoài; thực hiện các khoản hỗ trợ, tặng cho không đảm bảo nguyên tắc minh bạch về tài chính, không có chứng từ…

3. Một số kiến nghị

Đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định bất cập của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP như sau:

- Về thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi: Sửa đổi Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP cho phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Nuôi con nuôi: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cư trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

- Về xác định trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh: Sửa đổi khoản 1 Điều 3 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP theo hướng quy định tiêu chí xác định trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo (như mức độ bệnh, cần phẫu thuật, điều trị lâu dài...), giao cho Bộ Y tế chỉ định các cơ sở chuyên khoa có năng lực thực hiện việc khám, sàng lọc và kết luận về việc phân loại trẻ vào Danh sách 2.

- Về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước: (i) Bổ sung quy định về quy trình giải quyết nuôi con nuôi trong nước. Đối với trẻ chưa được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng thì phải thực hiện công tác xác minh nguồn gốc trẻ trước khi giải quyết làm con nuôi trong nước. Đối với trẻ sống trong cơ sở nuôi dưỡng thì người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm lập danh sách trẻ có nhu cầu tìm gia đình thay thế; giao cho Phòng Tư pháp quận, huyện, thị xã thực hiện công tác xác minh, xác nhận trẻ đủ điều kiện làm con nuôi; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện việc giới thiệu trẻ, ghép trẻ làm con nuôi trong nước (không để người có nhu cầu nhận con nuôi trong nước trực tiếp tìm trẻ tại cơ sở nuôi dưỡng và không giao cơ sở nuôi dưỡng trực tiếp giới thiệu trẻ, giải quyết việc nuôi con nuôi). (ii) Cải tiến việc tìm gia đình thay thế trong nước một cách hiệu quả và thực chất hơn; cần có các tổ chức làm công tác xã hội tìm kiếm, tư vấn việc nhận trẻ làm con nuôi, trao cho trẻ mái ấm gia đình trong nước. (iii) Sửa đổi khoản 3 Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP về thay đổi hộ tịch sau khi được nhận làm con nuôi cho phù hợp với Điều 28 Luật Hộ tịch.

- Về cơ sở nuôi dưỡng tham gia giải quyết con nuôi nước ngoài: Sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP theo hướng không quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định tham gia giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài, mà căn cứ vào nhu cầu, năng lực của cơ sở nuôi dưỡng, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định việc cơ sở tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài. Để tránh việc đưa trẻ vào cơ sở nuôi dưỡng nhằm trục lợi, cần quy định chặt chẽ thủ tục đưa trẻ vào cơ sở nuôi dưỡng, đảm bảo các thông tin về nhân thân, nguồn gốc trẻ được lưu trữ cùng với hồ sơ trẻ; Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc ủy quyền cho Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội kiểm tra hồ sơ trẻ và quyết định đưa vào cơ sở nuôi dưỡng phù hợp (tránh tình trạng thu, gom trẻ vào cơ sở nuôi dưỡng, đưa trẻ vào cơ sở nuôi dưỡng không đảm bảo điều kiện, năng lực...).

- Yêu cầu về xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài: Sửa đổi khoản 1 Điều 16 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP theo hướng: Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi được cho làm con nuôi ở nước ngoài, thì phải có văn bản xác minh và kết luận rõ ràng của cơ quan Công an về nguồn gốc trẻ em bị bỏ rơi, không xác định được cha mẹ đẻ.

- Yêu cầu về giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài: Bổ sung quy định về tiêu chí đánh giá về tính phù hợp với nhu cầu và lợi ích tốt nhất của trẻ trong việc giới thiệu trẻ làm con nuôi nước ngoài.

- Về quản lý tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam: Bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh trong việc phối hợp quản lý văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam.

Nguyễn Triều Lưu

Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: