Thứ sáu 13/03/2026 04:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những tác động của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến việc bảo đảm quyền con người tại Việt Nam

Bài viết tập trung phân tích những tác động tích cực, tiêu cực và đề xuất các giải pháp để khai thác triệt để các lợi ích, hạn chế tối đa những yếu tố bất lợi của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người.


1. Khái quát chung về hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Cho tới nay, đã có rất nhiều tổ chức và quốc gia đưa ra các khái niệm về hiệp định thương mại tự do (FTA). Điều này thể hiện những quan điểm khác nhau về FTA cũng như sự phát triển đa dạng của thương mại quốc tế. Các hiệp định thương mại tự do về bản chất là thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ nhằm hiện thực hóa các nguyên tắc tự do trong thương mại quốc tế.

FTA truyền thống được hiểu là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích cắt giảm các hàng rào thương mại bằng việc cắt giảm thuế quan, tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ, xúc tiến và tự do hóa đầu tư, chuyển giao công nghệ[1]… Ở FTA truyền thống, các thành viên không có biểu thuế quan chung trong quan hệ thương mại với các nước bên ngoài FTA. Các FTA điển hình theo khái niệm này là: FTA ASEAN (AFTA); FTA Trung Âu (CEFTA)…

FTA thế hệ mới là thuật ngữ mang tính tương đối, thường được sử dụng để nói về các FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại hàng hóa. Ngoài việc xử lý các nội dung trong các FTA truyền thống, các FTA thế hệ mới còn ghi nhận các nội dung mới hơn như đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển cũng như dành thời gian chuyển đổi hợp lý để nước đi sau có thể điều chỉnh chính sách theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của mình… Đặc biệt, FTA thế hệ mới bao gồm cả các nội dung được coi là “phi thương mại” như lao động, môi trường, cam kết phát triển bền vững và quản trị tốt…

FTA thế hệ mới góp phần thúc đẩy thương mại tự do, thông qua những FTA này những rào cản thương mại về mặt kinh tế học bị coi là trở ngại cho phát triển dần được xóa bỏ, các quốc gia có thể được hưởng lợi từ các hoạt động kinh doanh xuyên biên giới. Khi kinh tế phát triển, các quyền con người, đặc biệt là quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa sẽ có điều kiện bảo đảm tốt hơn. Tuy nhiên, không phải lúc nào thương mại tự do cũng có tác động tích cực đến việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người kể cả ở các quốc gia phát triển và đang phát triển. Nói cách khác, các FTA trong khi có thể thúc đẩy quyền con người ở một số nước nhất định, của các nhóm xã hội nhất định, thì đồng thời có thể phá hoại những nỗ lực bảo đảm nhân quyền ở những nước khác, của các nhóm xã hội khác. Các quyền con người thường được cho là bị ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi thương mại tự do là các quyền của người lao động bao gồm quyền về việc làm, quyền về môi trường, quyền được hưởng các thành tựu của khoa học, kỹ thuật...

2. Những tác động tích cực của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Thứ nhất, các FTA thế hệ mới góp phần nâng cao cơ hội hưởng thụ các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của người dân các nước thành viên trong đó có Việt Nam. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, các FTA, đặc biệt là các hiệp định đa phương thế hệ mới đã và sẽ tạo lập những quy tắc thương mại quốc tế theo hướng công bằng, cởi mở hơn, qua đó giúp các quốc gia thành viên phát triển nền kinh tế, tạo thêm việc làm cho người dân nước mình. Thông qua việc thúc đẩy tăng trưởng về kinh tế, FTA thế hệ mới giúp gia tăng nguồn lực vật chất của các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển, để hiện thực hóa các quyền phát triển, quyền có mức sống thích đáng, quyền giáo dục, quyền được chăm sóc y tế, quyền bảo trợ xã hội… những quyền mà phụ thuộc rất nhiều vào nguồn lực của các quốc gia[2].

Đối với Việt Nam, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã và đang đưa tới những cơ hội để Việt Nam phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống về nông, lâm, thủy sản, dệt may và da giày… Theo đánh giá của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), là một thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Việt Nam đã tham gia vào rất nhiều các hiệp định, thỏa thuận, sáng kiến… kinh tế của Việt Nam có cơ hội tăng trưởng thêm 14,5%; người tiêu dùng được sử dụng các loại hàng hóa tốt hơn, rẻ hơn; dòng vốn ngoại đầu tư vào Việt Nam hứa hẹn sẽ nhiều hơn[3].

Thứ hai, FTA có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy các điều kiện làm việc của người lao động. Tuân thủ các quy định bắt buộc của FTA, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiến hành những cải cách về mặt lập pháp trong lĩnh vực luật lao động, trong đó, có việc thông qua tất cả các công ước cốt lõi của ILO. Thông qua đó, sẽ có những cải thiện nhất định về các vấn đề lao động di cư, tiền công của người lao động, bình đẳng giới, các quyền lao động… Các FTA thế hệ mới khẳng định lại các tiêu chuẩn lao động của ILO[4], các tiêu chuẩn môi trường và phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (UN)[5]. Các FTA thế hệ mới thúc đẩy điều kiện làm việc của người lao động, mặc dù, các FTA thế hệ mới không tạo ra bất kỳ tiêu chuẩn lao động quốc tế mới nào, nhưng đòi hỏi Việt Nam thông qua và duy trì trong luật pháp, quy định và thực hành những quyền được nêu trong Tuyên bố 1998 của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, bao gồm tự do liên kết, quyền tổ chức và thương lượng tập thể, xóa bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em và phân biệt đối xử tại nơi làm việc.

Thứ ba, các FTA thế hệ mới góp phần hỗ trợ việc tiếp cận thị trường lao động, đặc biệt là đối với nhóm người dễ bị tổn thương trong độ tuổi lao động. Các FTA không chỉ yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm sự bình đẳng về việc làm cho mọi người lao động, loại bỏ các hình thức phân biệt đối xử về giới tính, tình trạng khuyết tật, dân tộc, chủng tộc mà còn đòi hỏi các quốc gia thành viên phải xóa bỏ lao động trẻ em và lao động cưỡng bức. Những quy định này tạo ra một khuôn khổ pháp lý hiệu quả bảo vệ các nhóm người dễ bị tổn thương nêu trên khỏi sự phân biệt đối xử hoặc bóc lột, cưỡng bức lao động[6]. Các điều khoản về lao động ảnh hưởng tích cực tới tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (giúp tăng tỷ lệ dân số cả nam và nữ trong độ tuổi lao động tham gia vào lực lượng lao động).

Thứ tư, các quy định về môi trường trong các FTA, đặc biệt các FTA thế hệ mới được coi là “hàng rào xanh” yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo khi hoạt động thương mại. Đối với Việt Nam, các quy định về môi trường trong các FTA có ý nghĩa hết sức to lớn. Đầu tiên, một số vấn đề về môi trường có thể được giải quyết thông qua các luật lệ thương mại trên một số lĩnh vực như bảo vệ động vật hoang dã và các sản phẩm từ động vật hoang dã; buôn bán gỗ hợp pháp; thúc đẩy các sản phẩm môi trường cho các mục đích sử dụng khác nhau mà Việt Nam là một thị trường quan trọng. Tiếp theo, vấn đề đảm bảo môi trường có thể cùng được hỗ trợ bởi việc tự do hóa thương mại, hàng hóa và dịch vụ môi trường hay sẽ được ưu tiên xuất khẩu. Các cam kết ở mức cao và mang tính ràng buộc trong các FTA sẽ là cơ sở cho Việt Nam trong việc tiếp tục nghiên cứu, đề xuất và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến môi trường, góp phần vào nỗ lực chung trong các hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, đồng thời, tạo ra sức ép tích cực góp phần vào việc thực thi nghiêm túc và hiệu quả các chính sách và pháp luật trong nước cũng như các cam kết quốc tế về môi trường của mọi thành phần và đối tượng trong xã hội.

Thứ năm, các FTA không chỉ góp phần bảo vệ các quyền riêng lẻ của con người mà còn thúc đẩy cải cách thể chế chính trị của các quốc gia thành viên theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch. Thực hiện nghĩa vụ thành viên trong các FTA cũng chính là cơ hội để các quốc gia thành viên cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp lý phù hợp hơn với các tiêu chuẩn quốc tế, trong đó, có vấn đề quyền con người; cải cách nền quản trị quốc gia theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch hơn… với những sự hỗ trợ, hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm quốc tế. Cụ thể, quan điểm của Liên minh châu Âu (EU) trong FTA với Việt Nam (EVFTA) là: Trước khi Hiệp định có hiệu lực chính thức, hai bên cần chuẩn bị và tiến hành các cải cách pháp lý; EU cam kết sẽ hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ kinh phí để giúp người dân Việt Nam tiếp cận tốt hơn về pháp luật và chính sách… Hoặc trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có riêng một chương về minh bạch hóa và chống tham nhũng, trong đó, yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo luật pháp, quy định và các quy chế hành chính phải được công khai, các quy trình tố tụng, đặc biệt là tố tụng hành chính phải độc lập, không được thiên vị. Các quốc gia cũng được yêu cầu thúc đẩy liêm chính trong bộ máy nhà nước, duy trì hoặc áp dụng các tiêu chuẩn, quy tắc ứng xử của công chức và các biện pháp để chống xung đột lợi ích.

3. Những tác động tiêu cực của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Thứ nhất, doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ, dịch vụ, chất lượng tốt từ các nước đối tác trên chính thị trường nội địa và tình trạng thất nghiệp sẽ gia tăng, ảnh hưởng tới cuộc sống của người lao động.

Việc tự do hóa thuế nhập khẩu sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nguồn hàng nhập khẩu từ các nước, đặc biệt là từ các nước thành viên CPTPP, EU vào Việt Nam do giá thành rẻ hơn, chất lượng và mẫu mã đa dạng, phong phú hơn sẽ tác động tiêu cực đến lĩnh vực sản xuất trong nước, làm giảm cơ hội việc làm của người lao động. Chưa kể tới việc khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ, khi các hàng rào kỹ thuật không hiệu quả, Việt Nam rất dễ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm chất lượng kém, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, với việc mở cửa thị trường, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước có thể dẫn tới việc cắt giảm nhân sự (đặc biệt là nhân công tay nghề thấp), thậm chí đóng cửa doanh nghiệp, gây trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp, nhất là ở các quốc gia kém phát triển và đang phát triển như Việt Nam. Những hệ quả khác có thể kéo theo như gia tăng khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội, gia tăng các tệ nạn, gây bất ổn định xã hội...

Thứ hai, các cam kết về sở hữu trí tuệ có thể tác động tiêu cực tới quyền về sức khỏe ở Việt Nam. Mặc dù các FTA thế hệ mới khẳng định đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, không gây trở ngại cho việc thực hiện các biện pháp để bảo vệ nền y tế công cộng của các quốc gia nhưng trong thực tế, các quy định cụ thể về sở hữu trí tuệ vẫn có thể đặt ra một số thách thức đối với việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là quyền được tiếp cận các thuốc điều trị cơ bản. Một trong những vấn đề quan ngại đối với quy định về sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới là các quy định này cho phép kéo dài thời gian bảo hộ bản quyền và bằng sáng chế đối với các loại thuốc và quy trình y học. Ví dụ, CPTPP đòi hỏi các quốc gia thành viên kéo dài thời gian độc quyền sáng chế trước khi sản phẩm đó được bán ra thị trường theo giá thuốc gốc. CPTPP cũng yêu cầu các quốc gia thành viên kể cả khi thời gian độc quyền sáng chế đã hết thì các công ty dược phẩm vẫn có thể hạn chế không cho phép sản xuất thuốc gốc. CPTPP đưa ra các yêu cầu gây hạn chế tiếp cận thị trường của các các công ty sản xuất thuốc gốc vào các quốc gia thành viên CPTPP. Những thay đổi này dẫn đến hậu quả là chi phí cho chăm sóc y tế sẽ tăng lên. Như vậy, các quy định về sở hữu trí tuệ sẽ đặc biệt tác động đến hệ thống y tế, bệnh nhân ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Không ai khác, bệnh nhân sẽ là đối tượng phải gánh chịu chi phí phát sinh hoặc thậm chí không có cơ hội để mua các loại thuốc điều trị thiết yếu để duy trì, hay kéo dài sự sống. Thêm vào đó, quy định về sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới cũng ảnh hưởng đến tính sẵn có của nhiều loại thuốc khác.

Thứ ba, các FTA thế hệ mới có thể dẫn đến một số tác động tiêu cực trong lĩnh vực lao động. Về việc áp dụng, tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn lao động, tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế về lao động là nội dung luôn được đề cập đến trong các FTA thế hệ mới. Đối với quốc gia đang phát triển, thị trường lao động sử dụng lợi thế giá rẻ chiếm đa số như Việt Nam thì việc thực hiện các cam kết về lao động trong các FTA có thể sẽ làm mất đi lợi thế cạnh tranh về lao động. Về vấn đề công đoàn, các FTA thế hệ mới yêu cầu các quốc gia thành viên cho phép thành lập các tổ chức đại diện cho người lao động ở cấp cơ sở độc lập với hệ thống từ trung ương tới cơ sở. Đây là một cơ chế hoàn toàn mới so với công đoàn hiện nay và được coi là một thách thức lớn với Việt Nam, vì Luật Công đoàn hiện hành của Việt Nam chưa cho phép người lao động được thành lập và đăng ký một công đoàn độc lập với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam...

Thứ tư, là những thách thức trong lĩnh vực môi trường. Quyền được sống trong môi trường trong lành là một trong những quyền cơ bản của con người. Môi trường là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe của con người. Quyền về môi trường và bảo vệ môi trường là hai vấn đề liên quan mật thiết, bảo vệ môi trường chính là đảm bảo cho những quyền về môi trường của con người. Bên cạnh những mặt tích cực, Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít những thách thức, do điều kiện năng lực thực thi các vấn đề môi trường ở Việt Nam còn hạn chế, khó khăn, đặc biệt là về tài chính để giải quyết các tranh chấp môi trường nên để đảm bảo các cam kết môi trường cần sự nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị, các nhà quản lý, các doanh nghiệp và người dân.

4. Một số kiến nghị

Từ những phân tích trên có thể thấy, các FTA thế hệ mới đều có những tác động tích cực và tiêu cực tới nhân quyền. Nói theo cách khác, các quyền con người đều có thể được củng cố, thúc đẩy hoặc bị phá hoại, ảnh hưởng tiêu cực bởi các FTA nói chung và các FTA thế hệ mới nói riêng. Do đó, các quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam cần xác định những biện pháp để phát huy tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của các FTA tới nhân quyền.

Trước hết, Nhà nước cần công khai các hiệp định cùng những tài liệu liên quan đến quá trình đàm phán, đặc biệt là các tài liệu liên quan đến ảnh hưởng của các FTA tới nhân quyền để người lao động được biết. Đồng thời, khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ sở học thuật, các tổ chức xã hội nghiên cứu, thảo luận, thực hiện đánh giá, cũng như tham gia thực hiện các biện pháp thúc đẩy tác động tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực của các FTA với nhân quyền.

Trong lĩnh vực lao động, Việt Nam cần nỗ lực tiếp tục chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để tiếp tục phê chuẩn các công ước của ILO. Tiếp đó, cần nội luật hóa đầy đủ các quy định của ILO vào hệ thống pháp luật quốc gia và có đầy đủ các biện pháp bảo đảm thực thi trên thực tế; tiếp tục rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật lao động và pháp luật có liên quan để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản mới nếu cần thiết, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thực hiện hiệu quả các FTA.

Tăng cường tổ chức các chương trình, hoạt động để phổ biến kiến thức pháp luật cho người lao động về những quyền, lợi ích mà họ sẽ được nhận cũng như những nghĩa vụ họ sẽ phải thực hiện trên cơ sở các FTA mà Việt Nam là thành viên. Ngoài ra, cần giám sát việc thực hiện công việc của những bộ phận tiếp thu ý kiến phản hồi của người lao động về việc bảo đảm quyền lợi của họ trong quá trình làm việc. Với cơ chế hoạt động như vậy sẽ đảm bảo được người lao động biết họ có những quyền gì và nếu như bị vi phạm quyền lợi họ sẽ được bảo vệ như thế nào.

Về vấn đề việc làm, có rất nhiều nguy cơ đẩy người lao động Việt Nam vào tình trạng thất nghiệp dưới tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới dẫn tới những khó khăn trong việc thụ hưởng, thực thi, phát triển quyền con người của họ. Việt Nam cần tiến hành đồng thời các biện pháp tích cực mang tính chiến lược hỗ trợ cho sự phát triển an toàn, bền vững nguồn nhân lực, bảo vệ quyền cho người lao động, điều này sẽ góp phần quan trọng tạo ra sự gia tăng tác động tích cực của việc thực thi các hiệp định thương mại tự do nhằm bảo vệ, chống lại nạn thất nghiệp cho lao động Việt Nam.

Trong lĩnh vực môi trường, để khắc phục những tác động tiêu cực của các FTA thế hệ mới tới quyền về môi trường của con người, Việt Nam cần phải chuẩn bị nhân lực, vật chất và phân công trách nhiệm để thực hiện các nội dung cũng như các yêu cầu về môi trường trong các hiệp định này. Trước hết, Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường theo hướng tiệm cận với pháp luật quốc tế. Nhà nước cần ban hành những biện pháp nhằm mục đích ngăn ngừa tác hại của môi trường, bảo đảm đền bù tối thiểu, sử dụng bền vững tài nguyên tự nhiên; thu thập và phổ biến thông tin liên quan tới môi trường; đánh giá trước, kiểm soát, cấp giấy phép, ban hành quy định hay ngăn cấm các hoạt động và những nguồn gây hại tới môi trường; kêu gọi sự tham gia của công chúng vào việc ban hành các quyết định có liên quan; khôi phục và đền bù thiệt hại theo thủ tục tư pháp và hành chính đối với những thiệt hại do môi trường gây ra và những đe dọa; giám sát, quản lý và chia sẻ một cách công bằng nguồn tài nguyên thiên nhiên; có biện pháp kiểm soát chất thải gây hại; có biện pháp bảo đảm hợp tác xuyên quốc gia trong thực hiện nghĩa vụ về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và tôn trọng nhân quyền.

Tóm lại, việc tham gia các FTA thế hệ mới đã và đang mở ra cho Việt Nam vận hội mới để hội nhập và phát triển. Trước bối cảnh đó, Việt Nam cần thận trọng, áp dụng đồng thời tất cả các biện pháp, chính sách từ tiến hành nghiên cứu, đánh giá các tác động của FTA trên từng lĩnh vực trong đó có quyền con người cho tới rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế trong nước; tuyên truyền, phổ biến pháp luật để phù hợp với các nội dung quy định của FTA nhằm phát huy được các tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của văn kiện thương mại này đối với sự phát triển của Việt Nam.

ThS. Mạc Thị Hoài Thương & ThS. Trần Thị Thu Thủy

Đại học Luật Hà Nội



[1]. ThS. NCS. Nguyễn Minh Tâm, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, “Về ảnh hưởng của các Hiệp định thương mại tự do với quyền con người”, Sách chuyên khảo: Ảnh hưởng của thương mại tự do đến nhân quyền, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016.

[2]. PGS.TS. Vũ Công Giao, “Tác động hai chiều của các Hiệp định thương mại tự do với việc bảo đảm quyền con người”, Sách chuyên khảo: Ảnh hưởng của thương mại tự do đến nhân quyền, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016.

[3]. Nguồn: http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/91-4882-2015-nam-cua-dau-an-cac-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do.html.

[4]. Tiêu chuẩn lao động quốc tế được xây dựng bởi ILO, bằng việc ban hành khoảng 190 công ước và 200 khuyến nghị, trong đó tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản được quy định bởi tuyên bố về những nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc năm 1998 (Declaration on Fundamental Principles and Rights at Work).

[5]. Nếu như vào thời điểm thành lập WTO năm 1995, chỉ có 04 FTA có nội dung về lao động, thì đến tháng 01/2015, đã có 72 FTA có nội dung về lao động.

[6]. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) khẳng định: Cam kết đối với Hiến chương Liên Hợp Quốc ký tại SanFrancisco ngày 26/6/1945 và quan tâm đến những nguyên tắc được quy định trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền được thông qua bởi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 10/12/1948.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: