Thứ năm 15/01/2026 06:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vấn đề pháp lý đặt ra qua thực tiễn vụ Formosa gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung Việt Nam

Formosa có tên chính thức là Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) gọi tắt là Formosa[1], chi nhánh của Tập đoàn nhựa Formosa, Đài Loan. Khi vào Việt Nam, chủ đầu tư dự án Formosa nhận được nhiều ưu đãi như được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% (doanh nghiệp trong nước là 22%), miễn thuế thu nhập trong bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo; được miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị; miễn thuế tài nguyên với hoạt động hút cát san nền[2]…

1. Vụ việc Formosa gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung
Để đảm bảo ổn định đầu tư, tại khoản 7 Điều 4 Hợp đồng thuê đất ngày 06/2/2009 quy định “đảm bảo không thu hồi đất vì mục đích cộng đồng và phát triển kinh tế hay các mục đích khác; đối với thu hồi đất vì lý do quốc phòng, an ninh, hai bên tiến thảo luận đi đến thống nhất bồi thường dứt điểm trước khi thực hiện”. Tuy nhiên, khoảng tháng 4/2016 do việc sử dụng các chất hóa học độc hại để tẩy rửa đường ống sau đó xả thẳng ra biển đã làm cho môi trường biển 04 tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế bị suy thoái nghiêm trọng[3]. Bên cạnh đó, hành vi làm ô nhiễm môi trường biển miền Trung của Fomorsa cũng gây ra những thiệt hại rất lớn với hoạt động nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản và các hoạt động liên quan đến môi trường biển, như: Vận tải, du lịch, nhà hàng, khách sạn, sản xuất, kinh doanh các sản phẩm từ từ thủy, hải sản… ước tính sơ bộ mức bồi thường cho người dân và môi trường là 11.500 tỷ đồng (tương đương 500 triệu USD). Mặc dù, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp lý liên quan của Việt Nam đã quy định khá cụ thể về nghĩa vụ của doanh nghiệp trong phòng ngừa ô nhiễm môi trường, phát hiện, ngăn chặn, xử lý ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện các quy định này qua vụ Formosa gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung cho thấy nhiều vấn đề pháp lý đặt ra cần được nghiên cứu hoàn thiện.

2. Bất cập trong quy định, thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường qua thực tiễn vụ Formosa

Thứ nhất, về chính sách, pháp luật và thực hiện thu hút đầu tư

Qua vụ Formosa cho thấy chưa có sự thống nhất giữa chính sách pháp luật với thực tiễn thực hiện. Cụ thể, ở giác độ chính sách pháp luật, quan điểm về phát triển bền vững thể hiện xuyên suốt trong Văn kiện Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI, XII; Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2004 về tăng cường bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về bảo vệ tài nguyên và môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Hiến pháp năm 2013; Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Chiến lược tăng trường xanh giai đoạn 2011 - 2020… theo đó, khẳng định không đánh đổi phát triển kinh tế lấy môi trường; đề cao việc bảo vệ môi trường, ưu tiên phát triển các ngành kinh tế thân thiện môi trường. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện ở Việt Nam cho thấy từ pháp luật đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách khá lớn, rất nhiều ngành nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vẫn được cấp phép đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam, như: Hóa chất, đóng tàu, phân đạm, nhiệt điện, sản xuất gang thép… Thậm chí như Formosa đầu tư vào lĩnh vực không thân thiện môi trường, nhưng lại được quá nhiều các ưu đãi về thời hạn thuê đất, tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như thuế bảo vệ môi trường... Do vậy, tác giả cho rằng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, hợp tác và hội nhập quốc tế hướng tới phát triển bền vững đất nước như hiện nay, Nhà nước cần phải có sự thống nhất giữa quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật với thực tiễn thực hiện. Xây dựng danh mục lĩnh vực thu hút đầu tư, trong đó, xác định rõ những ngành nghề nào thân thiện môi trường Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện, hỗ trợ đầu tư, những ngành nghề nào không thân thiện môi trường Nhà nước hạn chế đầu tư hoặc đầu tư có điều kiện kèm theo về ứng dụng khoa học công nghệ.

Thứ hai, về quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, quy hoạch các lĩnh vực thu hút đầu tư, sản xuất, kinh doanh

Về quy hoạch nói chung, mặc dù Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Quy hoạch năm 2017 điều chỉnh chung các loại quy hoạch, nhưng thực tế cho thấy còn tồn tại quá nhiều các loại quy hoạch chồng chéo, mâu thuẫn nhau. Quy hoạch khu công nghiệp, cụm công nghiệp tại các địa phương vẫn còn nhiều bất cập, mạnh ai lấy làm, mỗi địa phương một kiểu, thành lập theo phong trào, chưa có sự thống nhất, chưa dựa trên đặc thù, thế mạnh của từng địa phương nên hiệu quả phát triển không cao. Thực tế cho thấy, mỗi địa phương có điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, lịch sử phát triển khác nhau nên không phải địa phương nào cũng có điều kiện thuận lợi cho phát triển các khu công nghiệp. Nhiều khu công nghiệp được thành lập, nhưng tỷ lệ lấp đầy không cao. Điều đó cho thấy, không phải địa phương nào thành lập khu công nghiệp cũng hoạt động hiệu quả gây lãng phí tài nguyên, ô nhiễm môi trường. Mặt khác, qua thực tiễn vụ Formosa cho thấy đa phần các dự án đầu tư quy mô lớn có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường được cấp phép tại các khu vực ven biển, ví dụ: Các nhà máy lọc hóa dầu, các khu công nghiệp, khu chế xuất… Việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp tại các khu vực này mặc dù có nhiều thuận lợi về giao thương đi lại, nhưng đây thường là khu vực có không gian môi trường mở nên khi có hành vi làm ô nhiễm, suy thoái có thể dẫn tới những thảm họa về môi trường mà vụ Formosa là một ví dụ điển hình.

Thứ ba, các quy định về lập, thẩm định, tham vấn, phê duyệt, thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường khi dự án được cấp phép đầu tư

Đây là nội dung rất quan trọng của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, đặc biệt là pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Qua vụ Formosa gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung, nhìn lại vấn đề chúng ta không thể không xem lại khâu lập, thẩm định, tham vấn cộng đồng, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường trước khi cấp giấy phép đầu tư triển khai thực hiện dự án này trên thực tế. Có thể thấy, việc thẩm định phê duyệt báo cáo mặc dù có thể đúng về trình tự, thủ tục lập, thẩm định, tham vấn, phê duyệt, điều chỉnh báo cáo, nhưng vụ việc ô nhiễm xảy ra chúng ta có thể có hai nhận định về vấn đề này: (i) Khâu tiền kiểm thực hiện chưa tốt. Quá trình lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường chưa dự báo, phân tích đầy đủ tác động tiêu cực đến môi trường của dự án đầu tư này, nhưng vẫn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường khi triển khai thực hiện dự án. Đặc biệt là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép điều chỉnh hạng mục công trình đường ống xả thải khổng lồ của Formosa từ xả thải ra sông cho phép đặt ngầm và thải trực tiếp ra biển cách bở biển 1,5km[4]. Dù có cơ sở pháp lý cho quyết định cho phép đặt đường ống này hay không thì đây vẫn là một quyết định không chính xác dẫn đến cơ quan quản lý nhà nước về môi trường tự gây khó khăn cho mình trong việc kiểm soát việc xả thải của Formosa và có thể là nguyên nhân dẫn tới hành vi gây ô nhiễm môi trường của biển của Công ty này. (ii) Khâu hậu kiểm cũng chưa được thực hiện tốt. Khi dự án được triển khai trên thực tế, theo quy định của pháp luật môi trướng các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền phải giám sát chặt chẽ các hoạt động của dự án này theo đúng các cam kết của chủ đầu tư trong báo cáo đánh giá tác động môi trường để tránh những tác động tiêu cực đến môi trường. Tuy nhiên, hoạt động này lại chưa được được thực hiện hiệu quả.

Thứ tư, quy định về nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong bảo vệ môi trường

Pháp luật hiện hành quy định khá cụ thể về vấn đề này, như: Quy định các hành vi cấm doanh nghiệp không được thực hiện[5]; các quy định về nghĩa vụ quản lý chất thải của doanh nghiệp; về nghĩa vụ quan trắc môi trường, thông tin về tình hình môi trường[6]… Ví dụ, về nghĩa vụ quan trắc môi trường, pháp luật hiện hành quy định các dự án sản xuất kinh doanh có lượng nước thải từ 1000m3/ngày đêm phải có hệ thống quan trắc tự động nước xả thải sau khi xử lý và kết nối trực tiếp với cơ quan quản lý môi trường địa phương. Với công suất hoạt động khổng lồ theo tính toán thì đường ống chôn ngầm dưới biển của Formosa mỗi ngày có thể thải ra môi trường biển 300.000m3 nước thải nên theo quy định Công ty này phải lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động và đấu nối cung cấp thông tin trực tiếp với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của địa phương. Tuy vậy, điều “lạ lùng” là khi Formosa xả thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường biển thì cơ quan quản lý môi trường tại địa phương lại không phát hiện ra dấu hiệu bất thường nào từ thông tin được cung cấp trực tiếp từ Formosa. Có thể thấy, cơ quan quản lý nhà nước đã không thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của mình trong quản lý môi trường, còn Formosa thực sự đã “phất lờ” các quy định pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ xử lý chất thải (nước thải) đạt quy chuẩn trước khi thải ra môi trường và gây ra thảm họa ô nhiễm suy thoái tài nguyên môi trường biển miền Trung. Điều này đặt ra vấn đề Việt Nam cần phải xem xét lại các quy định và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý chất thải.

Thứ năm, các quy định về chế tài áp dụng với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường của cá nhân, tổ chức

Pháp luật hiện hành quy định các cá nhân, tổ chức khi có hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây thiệt hại thì có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý khác nhau, như: Trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật. Thực tế những năm qua cho thấy, hành vi vi phạm pháp luật môi trường ngày càng gia tăng dẫn tới môi trường ở Việt Nam ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng và có xu hướng gia tăng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản và lợi ích hợp pháp của con người. Tuy nhiên, các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các chủ thể có hành vi làm ô nhiễm môi trường vẫn chưa đảm bảo tính răn đe. Theo quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường thì mức xử phạt cao nhất với một hành vi vi phạm pháp luật môi trường của cá nhân là không quá 01 tỷ đồng, còn doanh nghiệp không quá 02 tỷ đồng với một hành vi vi phạm. Có thể thấy mức xử phạt với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật môi trường còn thấp, chưa đảm bảo tính răn đe. Trong khi đó về trách nhiệm hình sự với tội gây ô nhiễm môi trường, tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải, tội hủy hoại nguồi lợi thủy sản… đã được quy định từ Bộ luật Hình sự năm 1999 đến nay, nhưng chưa có cá nhân, tổ chức nào bị xử lý hình sự về hành vi này. Sở dĩ chưa chủ thể có hành vi làm ô nhiễm môi trường nào phải chịu trách nhiệm hình sự là do các quy định trước đây chủ yếu còn mang tính định tính và xây dựng theo dạng cấu thành vật chất nên việc xác định mức độ thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường rất khó nên không thể áp dụng trách nhiệm hình sự. Để khắc phục điều này, Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định áp dụng trách nhiệm hình sự không chỉ liên quan đến cá nhân mà cả đối với pháp nhân. Đồng thời, chuyển quy định các tội gây ô nhiễm môi trường từ cấu thành vật chất sang cấu thành hình thức, theo đó chỉ cần có hành vi vi phạm theo hướng định lượng mà không cần kết quả xảy ra. Với quy định này, hy vọng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sẽ góp phần xử lý, răn đe hiệu quả tội phạm môi trường trong thời gian tới.

Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường qua vụ Formosa, theo quy định của môi trường hiện hành có hai loại thiệt hại môi trường: (i) Thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Ví dụ, môi trường nước biển bị ô nhiễm, các loại sinh vật biển bị chết… (đây là thiệt hại trực tiếp hay còn gọi là thiệt hại nguyên phát); (ii) Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản và các lợi ích hợp pháp khác (đây là thiệt hại gián tiếp hay còn gọi là thiệt hại thứ phát). Thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường đã được quy định cụ thể Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường đã xác định trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại này thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo đó, nếu thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường xảy ra trên địa bàn một xã thì Ủy ban nhân dân xã đó có quyền yêu cầu chủ thể gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại; nếu thiệt hại xảy ra trên địa bàn hai xã trở lên thì Ủy ban nhân dân huyện có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại; thiệt hại xảy ra trên địa bàn hai huyện trở lên thì Ủy ban nhân dân tỉnh có quyền yêu cầu bồi thường và thiệt hại xảy ra trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên thì Bộ Tài nguyên và Môi trường có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do vậy, trong trường hợp Formosa gây ô nhiễm môi trường biển 04 tỉnh miền Trung thì theo quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường có quyền yêu cầu Formosa bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vấn đề khó khăn là làm sao để lượng hóa chính xác nhất thiệt hại xảy ra với tài nguyên, môi trường biển miền Trung, như: Chi phí xử lý ô nhiễm nước biển; chi phí phục hồi các loài cá, các rạn san hô, sinh vật biển bị chết do chất thải độc hại của Formosa… đây là vấn đề không đơn giản.

Hơn nữa, đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra. Vấn đề này đã được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp lý liên quan, theo đó cá nhân, bị tổ chức bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường thì chính các chủ thể bị thiệt hại này có quyền yêu cầu chủ thể gây thiệt hại phải bồi thường cho mình với các phương thức khác nhau, như thương lượng, hòa giải, nhờ can thiệp từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc Tòa án. Hơn nữa, pháp luật hiện hành quy định để cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường thì cần phải có 03 căn cứ là: Có hành vi vi phạm pháp luật; có thiệt hại xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Tuy nhiên, thực tiễn vụ ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Formosa gây ra gây thiệt hại vô cùng lớn về tài nguyên môi trường, người và của, ước tính thiệt hại là 11.500 tỷ đồng (tương đương 500 triệu USD), cho thấy nhiều vấn đề pháp lý đặt ra: (i) Có rất nhiều thiệt hại từ hành vi làm ô nhiễm môi trường của các công ty này, như thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản (thiệt hại về khai thác chế biến thủy sản, về du lịch, giao thông vận tải…) và các lợi ích hợp pháp khác của các tổ chức, cá nhân. Các chủ thể bị thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường thường bị yếu thế trong các yêu cầu về bồi thường do họ không cung cấp được các chứng cứ cần thiết chứng minh mình bị thiệt hại bao nhiêu và liệu thiệt hại này có phải do chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra. (ii) Trong vụ Formosa cho thấy các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại không trực tiếp được yêu cầu Formosa phải bồi thường thiệt hại mà “dường như” Bộ Tài nguyên và Môi trường lại thương lượng “cả gói” với Formosa bao gồm cả chi phí bồi thường thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích với tài nguyên môi trường biển và thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp của người dân. Điều này đặt ra vấn đề về mặt pháp lý là Bộ Tài nguyên và Môi trường có đương nhiên được quyền thay mặt người dân đàm phán yêu cầu Formosa bồi thường cho người dân? Theo quy định của pháp luật hiện hành là không được nếu không có sự ủy quyền hợp pháp từ những cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường. (iii) Về phương thức giải quyết tranh chấp môi trường, mặc dù pháp luật quy định khá rõ ràng, nhưng đến nay có thể thấy chưa có vụ yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường nào được giải quyết tại Tòa án (vụ Vedan gây ô nhiễm môi trường nước sông Thị Vải, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã thụ lý vụ án, nhưng chưa xét xử trên thực tiễn mà được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải và sức ép của dư luận xã hội). Có thể thấy vai trò của cơ quan tư pháp trong giải quyết tranh chấp môi trường rất quan trọng, nhưng thực tiễn lại chưa “xứng tầm”.

Thứ bảy, các quy định pháp luật về trách nhiệm của Nhà nước trong kiểm soát ô nhiễm môi trường từ hoạt động của các doanh nghiệp

Pháp luật hiện hành quy định khá cụ thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chủ thể có trách nhiệm trong quản lý môi trường. Tuy nhiên, qua thực tiễn vụ Formosa cho thấy các cơ quan này vẫn chưa thực hiện hiệu quả trách nhiệm của mình. Vấn đề đặt ra là cần nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về môi trường; đầu tư công nghệ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường; xử lý nghiêm các chủ thể có thẩm quyền không thực hiện/thực hiện không đúng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật về cán bộ, công chức.

Thứ tám, vai trò của cộng đồng, truyền thông báo chí trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn ô nhiễm môi trường

Tham gia vào bảo vệ môi trường có ba nhóm chủ thể chính là các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải; các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền; cộng đồng dân cư. Trong bối cảnh kinh tế thị trường các chủ nguồn thải vì lợi ích tư sẵn sàng có hành vi vi phạm pháp luật môi trường, trong đó có quy định về quản lý chất thải; các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền không/chưa thực hiện hiệu quả trách nhiệm của mình, thậm chí thờ ơ để hành vi vi pháp luật môi trường xảy ra thì cộng đồng thực sự có vai trò quan trọng[7]. Chủ thể phát hiện ra hành vi làm ô nhiễm môi trường trong vụ gây ô nhiễm môi trường biển của Formosa chính là người dân, sau đó cộng đồng, truyền thông báo chí đưa tin, nhờ đó, sự việc đã được các cơ quan chức năng vào cuộc, làm sáng tỏ.

Thứ chín, về vai trò của khoa học công nghệ trong bảo vệ môi trường

Qua vụ Formosa gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung cho thấy vụ việc đã xảy ra ở quy mô và phạm vi rất lớn, nhưng việc phát hiện hành vi vi phạm của Formosa lại rất khó khăn. Thậm chí khi thiệt hại cho môi trường biển xảy ra trên phạm vi rộng lớn, nhưng thời gian điều tra, khảo sát phát hiện vi phạm lại quá dài dẫn tới nguy cơ không tìm ra chủ thể vi phạm. Sở dĩ có vấn đề này do nhiều nguyên nhân, trong đó, có sự hạn chế về khoa học công nghệ trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý ô nhiễm môi trường. Chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ tư 4.0 với các đặc trưng về công nghệ internet kết nối vạn vật (IoT), công nghệ máy bay không người lái có trang bị cảm biến và trí tuệ nhân tạo (AI); công nghệ in 3D… Việc ứng dụng các công nghệ này sẽ tạo ra những đột phá trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý ô nhiễm môi trường[8]. Bên cạnh đó, để kiểm soát được ô nhiễm môi trường hiệu quả việc hợp tác song phương, khu vực và quốc tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Thông qua việc hợp tác này giúp Việt Nam có được kinh nghiệm quản lý, nguồn vốn, công nghệ để quản lý hiệu quả ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường.

3. Kết luận

Ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra đã gây ra thảm họa môi trường lớn nhất trong lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, mở cửa đến nay. Vụ việc này đã để lại những thiệt hại trước mắt và lâu dài không thể tính toán hết được đối với tài nguyên môi trường biển các tỉnh miền Trung, cũng như đối với lĩnh vực các giao thông vận tải, du lịch, khai thác, chế biến thủy, hải sản… đặc biệt là thiệt hại và ảnh hưởng lớn đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và các lợi ích hợp pháp của người dân. Để tránh các thảm họa này tái diễn, theo tác giả nên tiến hành đồng bộ các biện pháp:

- Nhà nước cần phải nhất quán trong ban hành cũng như tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển bền vững, thu hút đầu tư;

- Xây dựng quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các dự án đầu tư quy mô lớn phù hợp với quy hoạch bảo vệ môi trường; ban hành danh mục các lĩnh vực ưu đãi đầu tư thân thiện môi trường, hạn chế thu hút đầu tư các lĩnh vực có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường;

- Thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về báo cáo đánh giá tác động môi trường, coi trọng cả khâu tiền kiểm và hậu kiểm khi triển khai thực hiện dự án trên thực tiễn, xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật môi trường;

- Tăng cường đào tạo nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức quản lý nhà nước về môi trường;

- Vận dụng hiệu quả nguyên tắc pháp chế trong xử lý cán bộ, công chức cũng như tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật môi trường[9];

- Tăng cường vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường, đặc biệt là phòng ngừa, giám sát, phát hiện ô nhiễm môi trường. Ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ trong bảo vệ môi trường, đặc biệt, cần nâng cao vai trò của Tòa án trong giải quyết tranh chấp môi trường, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường.

TS. Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật

[1] Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Formosa Vũng Áng.

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Formosa_V%C5%A9ng_%C3%81ng.

[2]Formosa nhận bồi thường và ưu đãi kịch trần”. Báo Đất Việt (http://baodatviet.vn/), truy cập ngày 26/4/2016.

[3] B.T.Ngọc, Toàn cảnh vụ cá chết hàng loạt ở miền Trung. Nguồn: https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/toan-canh-vu-ca-chet-hang-loat-o-mien-trung-20160629170620648.htm, truy cập ngày 30/06/2016.

[4] Nghĩa Nhân, Vì sao Formosa đặt đường ống ngầm xả thải ra biển? Nguồn: https://bizlive.vn/thoi-su/vi-sao-formosa-dat-duong-ong-ngam-xa-thai-ra-bien-1707779.html, truy cập ngày 06/5/2016.

[5] Xem: Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[6] Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu…

[7] Bùi Đức Hiển, Pháp luật về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 (352), tr. 59-66.

[8] Bùi Đức Hiển, Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến các hoạt động gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam và vấn đề pháp lý đặt ra, Tạp chí Cộng sản điện tử, truy cập ngày 08/8/2018.

[9] Sửa đổi quy định xử phạt vi phạm hành chính theo nguyên tắc mức xử phạt phải cao hơn chi phí tuân thủ pháp luật môi trường. Quy định về các yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường theo hướng đơn giản hơn.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: