Thứ hai 27/07/2026 05:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nuôi con nuôi theo pháp luật Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam

Trong thời kỳ Xô Viết, pháp luật của Liên bang Nga là hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa. Sau khi Liên bang Xô Viết tan vỡ, hệ thống pháp luật của Liên bang Nga được xây dựng lại và được xem là thuộc hệ thống pháp luật dân sự. Trong đó đáng chú ý là điều kiện nuôi con theo pháp luật của Liên Bang Nga.

1. Điều kiện nuôi con nuôi theo pháp luật Liên bang Nga

1.1. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi

Pháp luật Liên bang Nga không phân định rõ điều kiện của người nhận nuôi con nuôi và điều kiện của người được nhận làm con nuôi. Những điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi nằm rải rác ở các điều luật khác nhau. Tựu chung lại, người nhận nuôi con nuôi phải đáp ứng các điều kiện sau đây[1]:

(i) Người nhận nuôi con nuôi phải là người đã thành niên trừ những trường hợp sau đây: Người đã được Tòa án công nhận không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị Tòa án tước hoặc hạn chế quyền làm cha mẹ; người bị tước quyền giám hộ do không thực hiện đúng các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; người đã từng nhận con nuôi nhưng do có tội bị Toà án huỷ việc nuôi con nuôi; người do tình trạng sức khoẻ không thể thực hiện được quyền làm cha, mẹ; người mà tại thời điểm xin con nuôi không có thu nhập đủ để nuôi dưỡng con nuôi ở mức tối thiểu do pháp luật của Liên bang Nga nơi người xin con nuôi cư trú quy định; người không có nơi sinh sống ổn định; người mà tại thời điểm xin con nuôi phạm tôi cố ý gây thiệt hại cho sinh mạng hoặc sức khoẻ của người khác; người sống trong nhà không có điều kiện vệ sinh và an toàn kỹ thuật.

(ii) Những người không đang trong tình trạng hôn nhân không thể cùng nhận một trẻ em làm con nuôi. Điều đó cũng có nghĩa là một trẻ em chỉ có thể nhận một người làm cha nuôi hoặc mẹ nuôi trừ trường hợp làm con nuôi chung của hai vợ chồng.

(iii) Về ưu tiên trong việc nhận nuôi con nuôi: Khi có nhiều người cùng muốn nhận một trẻ em làm con nuôi thì ưu tiên người có họ hàng trước khi họ đáp ứng được các điều kiện trên và trên hết là vì lợi ích của đứa trẻ.

(iv) Về khoảng cách độ tuổi[2]: Bộ luật Gia đình Liên bang Nga chỉ quy định khoảng cách độ tuổi giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi trong trường hợp người độc thân (không trong tình trạng hôn nhân) là không được ít hơn 16 tuổi. Đối với trường hợp cha dượng, mẹ kế thì không bị áp dụng điều kiện này. Tức là không cần có khoảng cách về độ tuổi.

1.2. Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi

Pháp luật Liên bang Nga không có điều luật riêng về điều kiện đối với người được nhận nuôi con nuôi. Dựa trên nội dung các điều luật cụ thể, có thể rút ra một số điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi như sau:

(i) Người chưa thành niên[3]: “Chỉ cho phép nhận trẻ em chưa đến tuổi thành niên làm con nuôi vì lợi ích tốt nhất của trẻ em theo các quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật này, nhằm tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tâm lý, tinh thần và nhân cách”.

(ii) Trẻ em là anh chị em ruột không thể làm con nuôi của những người khác nhau trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em. Quy định này có ưu điểm là đảm bảo sự gắn kết về mặt huyết thống giữa những người ruột thịt, nếu là anh chị em ruột cùng được một người nhận làm con nuôi thì rõ ràng họ không bị chia cắt. Thêm vào đó, nếu một người mắc những loại bệnh cần đến yếu tố di truyền để chữa trị thì sẽ có cơ hội chữa bệnh tốt hơn. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều gia đình khi nhận con nuôi họ chỉ muốn nhận nuôi một con nuôi. Nếu đây là một quy định cứng thì anh chị em còn lại của người được nhận làm con nuôi sẽ mất cơ hội tìm kiếm gia đình thay thế. Do đó, quy định “trừ trường hợp việc nuôi con nuôi được giải quyết phù hợp với lợi ích của trẻ em” (khoản 3 Điều 124 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga) đã làm cho quy định trên có lối mở phù hợp.

Ngoài ra, pháp luật Liên bang Nga còn quy định người được nhận nuôi là công dân Nga chỉ được làm con nuôi người nước ngoài hoặc người không quốc tịch khi không thể được nhận con nuôi ở trong nước hoặc không thể được người họ hàng của người đó (có bất cứ quốc tịch nước nào và cư trú ở đâu) nhận nuôi. Bên cạnh đó, chỉ khi trẻ em sau sáu tháng kể từ ngày thông tin về trẻ thuộc diện không được cha mẹ chăm sóc được đưa vào dữ liệu ngân hàng liên bang về trẻ em thuộc diện không được cha mẹ chăm sóc theo quy định của pháp luật thì mới được làm con nuôi của công dân Liên bang Nga thường trú ngoài lãnh thổ Liên bang Nga, công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch không có họ hàng với đứa trẻ[4].

1.3. Sự tự nguyện của các chủ thể trong việc nuôi con nuôi

(i) Sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi[5]

Việc nhận nuôi con nuôi đương nhiên cần sự đồng ý của cha mẹ đẻ. Trong trường hợp mẹ đẻ là người chưa thành niên, chưa đủ 16 tuổi thì phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ của mẹ đẻ (tức là của ông bà) hoặc của người giám hộ; nếu cha mẹ đẻ không còn thì cần có sự đồng ý của cơ quan giám hộ và trợ tá. Việc đồng ý của cha mẹ đẻ phải được lập thành văn bản được công chứng hoặc do người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em hoặc do cơ quan giám hộ và trợ tá nơi giải quyết việc nuôi con nuôi hay nơi cư trú của cha mẹ đẻ xác nhận, hoặc sự đồng ý của cha mẹ đẻ được thể hiện trực tiếp tại phiên toà giải quyết việc nuôi con nuôi. Cha mẹ đẻ có thể thay đổi quyết định của mình trước khi Toà án ra quyết định về việc nuôi con nuôi. Cha mẹ đẻ chỉ có thể đồng ý cho con mình làm con nuôi sau khi trẻ được sinh ra.

Bên cạnh đó, pháp luật Liên bang Nga còn quy định những trường hợp trẻ em đi làm con nuôi không cần sự đồng ý của cha mẹ đẻ nếu không xác định được cha mẹ đẻ hoặc cha đẻ, mẹ đẻ bị Toà án tuyên bố mất tích; bị mất năng lực hành vi dân sự; bị Tòa án tước quyền của cha mẹ; không sống cùng con 06 tháng trở lên và từ chối giáo dục, nuôi dưỡng đứa trẻ mà không có lý do và được Tòa án cho là xác đáng[6]. Ở đây có một điểm khác biệt so với pháp luật Việt Nam là “không sống cùng con 06 tháng trở lên và từ chối giáo dục, nuôi dưỡng đứa trẻ mà không có lý do và được Tòa án cho là xác đáng”. Quy định này của pháp luật Liên bang Nga là hơi hà khắc với cha mẹ đẻ nhưng nếu xét ở một góc độ khác thì việc nuôi con nuôi sẽ là cứu cánh cho đứa trẻ đang không được sống chung với cha mẹ và đang không được cha mẹ chăm sóc, giáo dục.

(ii) Sự đồng ý của người giám hộ, người nuôi dưỡng thay thế, người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em[7]

Trong những trường hợp nhất định, việc nhận nuôi con nuôi phải có sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ; hoặc có sự đồng ý bằng văn bản của người nuôi dưỡng thay thế nếu trẻ em đang được nuôi dưỡng tại gia đình; hoặc có sự đồng ý của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, giáo dục, cơ sở chữa bệnh, cơ sở bảo vệ xã hội nếu trẻ em đang được nuôi dưỡng tại đó. Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích của đứa trẻ, Toà án có quyền ra quyết định việc nuôi con nuôi mà không cần sự đồng ý của các chủ thể trên. Quy định này là khác biệt so với pháp luật Việt Nam, tránh tình trạng các chủ thể trên vì những lý do không chính đáng hoặc lý do cá nhân cản trợ việc nuôi con nuôi, không đồng ý cho trẻ em đi làm con nuôi.

(iii) Sự đồng ý của người được nhận làm con nuôi[8]

Pháp luật Liên bang Nga quy định trẻ em từ 10 tuổi trở lên sẽ được thể hiện sự đồng ý có muốn đi làm con nuôi hay không trừ khi trước khi nộp đơn xin nhận trẻ em làm con nuôi thì đứa trẻ đó đã sống ở gia đình người xin nhận con nuôi và coi người đó như cha mẹ mình. Điều này thể hiện rằng, việc nuôi con nuôi thực tế đang xảy ra và việc cho phép nuôi con nuôi chỉ là hợp pháp hóa việc nuôi đó. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, dù trong hoàn cảnh nào cũng cần có sự đồng ý của người được nhận làm con nuôi khi đã 10 tuổi trừ khi đứa trẻ bị tâm thần, bị một loại bệnh nào đó không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

(iv) Sự đồng ý của vợ hoặc chồng của người nhận nuôi con nuôi

Pháp luật Liên bang Nga có quy định về ý chí của một bên vợ hoặc chồng không muốn nhận con nuôi nhưng thể hiện ý chí đồng ý cho chồng hoặc vợ mình nhận nuôi con nuôi. Nếu việc nhận nuôi con nuôi hoàn tất thì giữa đứa trẻ lả con nuôi của một bên vợ, chồng với bên chồng, vợ còn lại là quan hệ giữa con riêng và cha dượng hoặc mẹ kế chứ không phải là quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi.

2. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Liên bang Nga[9]

2.1. Quan hệ giữa người được nhận nuôi với người nhận nuôi con nuôi và những mối quan hệ gia đình liên quan đến việc nuôi con nuôi

(i) Luật Liên bang Nga quy định cụ thể về các mối quan hệ sau khi hoàn tất thủ tục nuôi con nuôi, đó là:

- Giữa người nhận nuôi, họ hàng của người nhận nuôi và người được nhận nuôi sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản như quan hệ giữa những người ruột thịt.

- Giữa con cái, cháu chắt… của người con nuôi và cha mẹ nuôi, họ hàng của cha mẹ nuôi phát sinh quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản như quan hệ giữa những người ruột thịt.

(ii) Một số hệ quả liên quan đến giấy tờ hộ tịch sau khi làm con nuôi như sau[10]:

- Khi làm con nuôi, trẻ em được giữ họ và tên của mình. Tuy nhiên, theo đề nghị của cha mẹ nuôi, họ của người con nuôi được xác định theo họ của cha, mẹ nuôi. Sự thay đổi họ tên của người con nuôi sẽ phải hỏi ý kiến của người con đã từ 10 tuổi trở lên trừ trường hợp con nuôi đã sống tại gia đình cha mẹ nuôi và lúc đó đã coi như họ như cha mẹ của mình từ trước khi nộp đơn xin nhận nuôi con nuôi. Việc thay đổi này phải được ghi trong quyết định của Tòa án về nuôi con nuôi. Điều này là cơ sở để thay đổi các thông tin cá nhân trong giấy tờ hộ tịch.

Thay đổi ngày sinh và nơi sinh của người con nuôi có thể được thực hiện theo yêu cầu của cha mẹ nuôi để đảm bảo bí mật của việc nuôi con nuôi với điều kiện không thay đổi quá ba tháng so với ngày sinh của đứa trẻ và chỉ được phép thay đổi ngày sinh khi đứa trẻ đó đang trong độ tuổi dưới một năm trừ khi có lý do chính đáng do Tòa án xác định thì có thể thay đổi ngày sinh đối với trẻ em từ một tuổi trở lên. Việc thay đổi ngày sinh, nơi sinh được ghi trong quyết định của Toà án về nuôi con nuôi[11]. Quy định này thể hiện xu hướng lập pháp đảm bảo quyền và lợi ích của người nhận nuôi con nuôi mong muốn nuôi con nuôi trong vòng bí mật. Điều này có vẻ như mâu thuẫn với quyền cơ bản của trẻ em là quyền được biết nguồn gốc huyết thống, biết cha mẹ mình là ai và được cha mẹ mình chăm sóc. Bộ luật Gia đình Liên bang Nga còn quy định trách nhiệm giữ bí mật về việc nuôi con nuôi đối với các chủ thể có liên quan trong việc nuôi con nuôi. Nếu tiết lộ về nuôi con nuôi trái ý muốn của cha mẹ nuôi sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo quy định của pháp luật[12].

- Việc ghi tên cha mẹ nuôi vào sổ nuôi con nuôi được thực hiện theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, nếu người con nuôi từ 10 tuổi trở lên phải hỏi ý kiến trừ khi người con nuôi đã sống chung và coi người nhận nuôi con nuôi như cha mẹ mình[13].

(iii) Trẻ em khi làm con nuôi thì có quyền được hưởng lương hưu và trợ cấp khi cha mẹ nuôi chết. Quy định này thể hiện rõ tính nhân văn, đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người con nuôi.

2.2. Quan hệ giữa người đã làm con nuôi người khác với gia đình gốc

Pháp luật Liên bang Nga đã quy định: “Trẻ em được cho làm con nuôi chấm dứt quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản đối với cha mẹ đẻ”. Tuy nhiên, trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng cho con đi làm con nuôi người khác thì có thể vẫn duy trì quyền và nghĩa vụ giữa người con đó với bên chồng hoặc vợ còn lại. Hoặc nếu một trong hai bên cha mẹ đẻ của đứa trẻ đi làm con nuôi chết thì theo đề nghị của cha mẹ người đã chết có thể vẫn duy trì quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản với họ hàng gia đình gốc khi điều đó là cần thiết cho lợi ích của đứa trẻ. Việc duy trì mối quan hệ giữa cha đẻ và con đẻ đã đi làm con nuôi, giữa con đẻ đã đi làm con nuôi được ghi trong quyết định Tòa án về nuôi con nuôi[14]. Đây có thể coi như là một cơ chế bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của người con nuôi.

3. Chấm dứt việc nuôi con nuôi

3.1. Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Pháp luật Liên bang Nga không dùng thuật ngữ “chấm dứt việc nuôi con nuôi” mà dùng thuật ngữ “huỷ bỏ việc nuôi con nuôi” và căn cứ huỷ bỏ việc nuôi con nuôi bao gồm: Người nuôi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ làm cha mẹ, lạm dụng quyền cha mẹ, đối xử tàn ác với con nuôi, là người mắc bệnh nghiện rượu hoặc ma tuý. Hoặc toà án có quyền huỷ việc nuôi con nuôi do những lý do khác vì lợi ích của trẻ và có cân nhắc ý kiến của trẻ em[15]. Bên cạnh đó, pháp luật Liên bang Nga quy định, nếu tại thời điểm nhận đơn yêu cầu huỷ việc nuôi con nuôi mà người con nuôi đã thành niên thì không huỷ việc nuôi con nuôi, trừ khi cha mẹ nuôi và con nuôi đều tự nguyện huỷ việc nuôi con nuôi đó[16]. Như vậy, pháp luật Liên bang Nga coi việc huỷ bỏ việc nuôi con nuôi chính là việc chấm dứt việc nuôi con nuôi khi trong quá trình nuôi con nuôi cha mẹ nuôi có những hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người con nuôi. Mặt khác, pháp luật Liên bang Nga chỉ tập trung vào việc soi xét yếu tố lỗi của cha mẹ nuôi mà chưa đề cập đến yếu tố lỗi từ phía con nuôi khi đưa ra căn cứ huỷ việc nuôi con nuôi.

Pháp luật Liên bang Nga quy định quyền yêu cầu huỷ việc nuôi con nuôi bao gồm cha mẹ đẻ của trẻ, cha mẹ nuôi, trẻ em được cho làm con nuôi từ 14 tuổi trở lên, cơ quan giám hộ và trợ tá, công tố viên[17].

3.2. Hệ quả pháp lý khi chấm dứt việc nuôi con nuôi

Pháp luật Liên bang Nga quy định khá rõ ràng về các mối quan hệ gia đình sau khi quan hệ nuôi con nuôi bị huỷ, cụ thể như sau[18]: Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi, họ hàng của cha mẹ nuôi với người con nuôi chấm dứt; quyền và nghĩa vụ giữa con nuôi với cha mẹ đẻ, họ hàng ruột thịt của cha mẹ đẻ được khôi phục nếu lợi ích của trẻ đòi hỏi. Như vậy, việc khôi phục quan hệ với gia đình gốc trong pháp luật Liên bang Nga không đương nhiên mà phải vì lợi ích của trẻ em là con nuôi. Đây là điểm khác biệt so với pháp luật Việt Nam. Để “bọc lót” cho quy định này, pháp luật Liên bang Nga quy định sau khi huỷ việc nuôi con nuôi, trẻ em được giao lại cho cha mẹ đẻ. Nếu không có cha mẹ đẻ hoặc việc giao trẻ em cho cha mẹ đẻ đi ngược lại với lợi ích của đứa trẻ thì đứa trẻ được giao cho cơ quan giám hộ và trợ tá chăm sóc. Đây là một quy định thể hiện rất rõ quan điểm lập pháp rằng, tất cả vì lợi ích của trẻ em.

Ngoài ra, Toà án khi giải quyết huỷ việc nuôi con nuôi con nuôi sẽ giải quyết luôn vấn đề có cho trẻ em tiếp tục giữ họ tên đang dùng từ khi được nhận làm con nuôi không, nếu đứa trẻ 10 tuổi trở lên sẽ hỏi ý kiến của trẻ em đó. Một vấn đề khá đặc biệt của pháp luật Liên bang Nga là người đã từng là cha mẹ nuôi sẽ phải trả tiền chăm sóc trẻ em theo mức mà pháp luật quy định vì lợi ích của trẻ em đó. Rõ ràng việc nuôi con nuôi đã chấm dứt nhưng giữa họ vẫn có thể tồn tại một mối quan hệ về tài sản vì lợi ích của trẻ em đã từng làm con nuôi.

4. Một số giải pháp cho pháp luật nuôi con nuôi của Việt Nam

Thứ nhất, pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam có thể tham khảo pháp luật Liên bang Nga để bổ sung các trường hợp không được nhận nuôi con nuôi như: Người nhận nuôi con nuôi đã từng là người giám hộ cho trẻ em đó và đã bị chấm dứt việc giám hộ do vi phạm quyền và nghĩa vụ của người giám hộ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người giám hộ; người nhận nuôi con nuôi đã từng là cha mẹ nuôi của trẻ em đó và đã bị huỷ việc nuôi do vi phạm mục đích của việc nuôi hoặc bị chấm dứt việc nuôi con nuôi do vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người con nuôi.

Thứ hai, pháp luật Việt Nam có thể tham khảo pháp luật Liên bang Nga để ưu tiên cho người đã nhận con nuôi được nhận tiếp con nuôi là anh chị em ruột của người con nuôi trước. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chỉ coi đây là trường hợp nuôi con nuôi đích danh trong trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Theo quan điểm của chúng tôi, cần có sự ưu tiên hơn về thứ tự chủ thể được nhận con nuôi, về điều kiện nhận nuôi con nuôi nhằm đảm bảo cho trẻ em là anh chị em ruột của nhau được làm con nuôi trong cùng một gia đình. Điều này sẽ làm khăng khít, không tách rời về quan hệ huyết thống.

Thứ ba, pháp luật Việt Nam có thể tham khảo pháp luật Liên bang Nga, tước quyền thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ trong việc nuôi con nuôi khi cha mẹ “không sống cùng con sáu tháng trở lên và từ chối giáo dục, nuôi dưỡng đứa trẻ mà không có lý do và được Tòa án cho là xác đáng” nhưng cần chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá truyền thống của Việt Nam là khi cha mẹ bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con, không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con ngay cả khi đã có yêu cầu Toà án mà không có lý do chính đáng thì khi đứa trẻ có người nhận nuôi, cha mẹ đẻ không được thể hiện ý chí nữa.

Thứ tư, pháp luật Việt Nam có thể tham khảo pháp luật Liên bang Nga đối với trường hợp đặc biệt là không cần sự đồng ý của người giám hộ, người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng vì lợi ích của đứa trẻ. Nhằm tránh tình trạng vì lý do không chính đáng, lý do cá nhân mà người giám hộ hoặc cơ sở nuôi dưỡng nhất định không đồng ý cho trẻ em đi làm con nuôi.

Thứ năm, pháp luật Việt Nam có thể tham khảo pháp luật Liên bang Nga về giữ bí mật việc nuôi con nuôi khi người nhận nuôi con nuôi không muốn tiết lộ việc nuôi con nuôi đó, trừ trường hợp vì lý do chính đáng như phải chữa bệnh qua sự trợ giúp của người cùng huyết thống. Việc giữ bí mật việc nuôi con nuôi cũng giúp cho cả hai bên toàn tâm toàn ý trong quan hệ giữa cha mẹ và con.

Thứ sáu, pháp luật Việt Nam có thể sửa theo hướng ghi nhận cụ thể các mối quan hệ trong việc nuôi con nuôi như quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi, con nuôi với họ hàng thân thích của cha mẹ nuôi, con cháu của người con nuôi với cha mẹ nuôi và họ hàng của họ và giữa họ phát sinh các quyền và nghĩa vụ như những người ruột thịt. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam có thể quy định rõ ràng hai hình thức nuôi con nuôi đơn giản và nuôi con nuôi trọn vẹn để họ cân nhắc về hệ quả pháp lý của việc nhận con nuôi trước khi quyết định. Đặc biệt đối với trường hợp một bên vợ, chồng nhận con riêng của chồng hoặc vợ mình làm con nuôi thì hệ quả pháp lý đối với bố mẹ đẻ sẽ khác nhau. Cần quy định theo hướng tương tự như pháp luật Liên bang Nga là chỉ chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con với một bên cha, mẹ đẻ, còn đối với bên cha, mẹ đang là vợ, chồng của người nhận nuôi con nuôi vẫn tồn tại quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản giữa cha mẹ và con. Tuy nhiên, khi chấm dứt hôn nhân giữa cha đẻ với mẹ nuôi hoặc mẹ đẻ với cha nuôi, pháp luật cần quy định rõ việc đứa trẻ sẽ được ai nuôi dưỡng? Dựa trên lợi ích của đứa trẻ hay dựa trên sự kiện đã cho con đi làm con nuôi? Theo quan điểm của chúng tôi, cần dựa trên lợi ích của đứa trẻ và coi đứa trẻ đó như là một dạng “con chung đặc biệt”.

Thứ bảy, pháp luật Việt Nam cần phân biệt giữa chấm dứt việc nuôi con nuôi và huỷ việc nuôi con nuôi để xác định hậu quả pháp lý của hai trường hợp này là khác nhau nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi.

Thứ tám, pháp luật Việt Nam cần thảm khảo pháp luật Liên bang Nga khi quy định hậu quả chấm dứt việc nuôi con nuôi. Cụ thể, sau khi việc nuôi con nuôi chấm dứt không đương nhiên đứa trẻ được trao trả về cho cha mẹ đẻ vì lợi ích của trẻ em đó. Tuy nhiên, nếu việc giao trẻ em cho cha mẹ đẻ làm cho đứa trẻ bất lợi thì có thể xem xét việc giao trẻ em cho những người thân thích của trẻ em theo thứ tự ưu tiên nhất định. Chỉ khi không có người thân thích thì mới giao trẻ em đó cho các cơ sở nuôi dưỡng.

PGS.TS. Nguyễn Thị Lan
Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Điều 127 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[2] Điều 128 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[3] Điều 124 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga

[4] Khoản 4 Điều 124 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[5] Điều 129 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[6] Điều 130 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[7] Điều 131 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[8] Điều 132 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[9] ĐIều 137 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga

[10] Điều 134 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga

[11] Điều 135 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga

[12] Điều 139 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[13] Điều 136 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[14] Khoản 3,4,5 Điều 137 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[15] Điều 141 Bộ Luật Gia đình Liêng bang Nga.

[16] Điêf 144 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.

[17] ĐIều 142 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga

[18] ĐIều 143 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: