Thứ tư 10/12/2025 00:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phân cấp thẩm quyền xét xử trong Quốc triều khám tụng điều lệ với việc bảo vệ quyền con người

Năm Đinh Dậu (1777) đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 38, một bộ luật tố tụng riêng biệt đã được ban hành ghi dấu bước phát triển đặc sắc của pháp luật phong kiến Việt Nam - Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ. Sự độc đáo của bộ luật không chỉ dừng lại là bộ luật riêng về tố tụng duy nhất trong lịch sử pháp luật ở Đại Việt và có lẽ ở cả phương Đông phong kiến, mà còn ở những nội dung thể hiện rõ nét tinh thần vì con người, tôn trọng và bảo vệ lợi ích chính đáng của con người.


Trong bối cảnh tình hình đất nước chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên, các vụ việc tranh chấp phần ruộng đất công xảy ra ngày càng nhiều khi người dân phiêu tán lại trở về cố hương, các hợp đồng về mua bán, cầm cố, cho thuê ruộng đất tư cũng phát sinh nhiều vụ kiện cáo, Quốc triều khám tụng điều lệ ra đời đã tạo ra cơ sở pháp lý thuận tiện cho công việc xét xử, ngăn chặn việc áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, thiếu công bằng, từ đó, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân, “khiến dân có chỗ nương nhờ”. Việc phân cấp thẩm quyền xét xử trong Quốc triều khám tụng điều lệ với việc bảo vệ quyền con người được thể hiện ở mấy điểm sau đây:

Thứ nhất, Quốc triều khám tụng điều lệ phân cấp xét xử căn cứ vào tính chất vụ việc, hạn chế việc kiện tụng vượt cấp, giữ gìn trật tự làng xã, bảo đảm truyền thống dân tộc

Vấn đề khởi kiện cùng thẩm quyền khám tụng, Quốc triều khám tụng điều lệ quy định theo từng lĩnh vực. Nguyên tắc chung là gửi đơn kiện và xét xử theo đúng việc, đúng thẩm quyền, không được kiện, nhận khiếu kiện, xét xử vượt cấp, nhằm đảm bảo trật tự tố tụng, hạn chế sự lạm quyền: “Tất cả các việc kiện tụng tranh chấp của dân đều chiếu lệ khiếu nại ở quan huyện sở tại, quan phủ, quan ngự sử tam ty, các nha môn chịu trách nhiệm khám tụng rồi đến quan chánh đường. Các việc kiện tụng chưa kinh qua lần khám nào mà khiếu nại vượt cấp, khiếu nại lần cuối thì các nha môn đều không được nhận khám”[1]. Quy định này ngày nay cũng được kế thừa trong pháp luật tố tụng hiện đại. Bởi, nếu cho phép kiện vượt cấp thì không chỉ làm ảnh hưởng đến sự độc lập của cơ quan làm nhiệm vụ phân xử, làm đảo lộn rối loạn cả trình tự tố tụng vốn có đã được phân định rõ ràng mà còn tăng nguy cơ lạm quyền.

Các quy định về thẩm quyền xét xử trên đã giúp cho việc khiếu kiện và xét kiện vào nề nếp, theo đúng thẩm quyền của pháp luật, không để kiện cáo tràn lan và ngăn chặn những người xấu lợi dụng xúi bẩy kiện cáo, gây khó khăn cho hoạt động xét xử của các cơ quan pháp luật, làm tốn kém thì giờ, tiền của của dân và nhà nước, thậm chí gây mất đoàn kết trong dân chúng và trong cả đội ngũ quan lại. Đặc biệt trong bối cảnh sau nhiều năm chiến tranh loạn lạc và tiếp đó là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân, những mắc mớ, tranh chấp trong dân có chiều hướng ngày càng tăng, số các hành vi phạm tội cũng có xu hướng phát triển, các vụ kiện tụng tăng lên quá nhanh, hiện tượng dồn ứ hồ sơ rất phổ biến.

Nguyên tắc chung được thể hiện trong Quốc triều khám tụng điều lệ là gửi đơn kiện và xét xử theo đúng việc, đúng thẩm quyền, không được kiện, nhận khiếu kiện, xét xử vượt cấp, nhằm đảm bảo trật tự tố tụng, hạn chế sự lạm quyền. Tuy vậy, Quốc triều khám tụng điều lệ cũng cho phép một số trường hợp ngoại lệ, nhằm đảm bảo quyền con người, hạn chế những oan ức, thiệt thòi cho dân: “Mọi trường hợp bị người quyền quý ức hiếp thiệt hại nặng, cùng các trường hợp oan, không biết khám lệ ở nha môn nào, không có đường nào có thể kêu cầu. Cùng các trường hợp đã qua công luận, phúc đính nhưng chưa giải tỏ được lý, cho khua chuông gióng mõ để kêu lên”. Đây là hình thức thích hợp để nhân dân thấu tỏ được nỗi oan khiên của mình.

Về vấn đề hòa giải[2], Quốc triều khám tụng điều lệ có quy định khá linh hoạt, với mục tiêu bảo vệ hợp lý nhất quyền, lợi ích hợp pháp của con người. Với những tội ít nghiêm trọng, như cố ý gây thương tích ở mức độ nhẹ, Bộ luật khuyến khích giải quyết bằng con đường hòa giải: “Phàm các vụ kiện tụng về ẩu đả phải cho người bị thương kịp thời đến xin xã trưởng, thôn trưởng của bản xã khám nghiệm lập biên bản ngay tại chỗ đánh nhau và ngay sau lúc đánh nhau…Nếu vết thương nhẹ thì răn dạy rồi xử lý không quá 10 ngày”[3]. Giải quyết thông qua con đường hòa giải góp phần quan trọng trong việc giữ gìn tình đoàn kết tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc. Tiến hành hòa giải thành công tại cấp cơ sở có thể kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải chuyển đến Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho Nhà nước. Không chỉ có vậy, hòa giải cơ sở còn là một truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mang đậm tính nhân văn, hoạt động vì mọi người trên cơ sở đạo đức xã hội và nền tảng pháp luật, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Tuy nhiên, đối với trường hợp nghiêm trọng, tính chất phức tạp như kiện tụng về nhân mạng thì về nguyên tắc không được tự hòa giải riêng với nhau[4]. Quy định này nhằm hạn chế các vi phạm pháp luật khác liên quan. Đây cũng là một nguyên tắc mang tính giáo dục cao, thể hiện tinh thần vì công lý của pháp luật. “Cũng có việc trót giết người rồi ngầm đưa cho bên khổ chủ nhận được tiền của, khổ chủ nhận được tiền tài, ruộng nương của người ấy, thiện tiện tư hòa không phát cáo. Cũng có việc sau khi phát cáo, mà hai bên thuận tình, khám quan bèn cho tư hòa, luận qua quýt cho xong, để đến nỗi kẻ điêu toa nhờ đó mà hống hét, kẻ giàu có cầu của mà giết người đều được lọt lưới pháp luật…”. Tinh thần vì con người, tôn trọng và bảo vệ con người đã được thể hiện rất rõ trong thông lệ về nhân mạng. Mặc dù khuyến khích giải quyết bằng con đường hòa giải nhưng việc kiện tụng về nhân mạng là không được tư hòa, khám quan cũng không được cho hòa.

Thứ hai, Quốc triều khám tụng điều lệ ghi nhận, bảo vệ quyền kháng cáo cho các chủ thể có quyền kháng cáo

Kháng cáo là hoạt động tố tụng của các chủ thể có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật nhằm chống lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án. Dưới góc độ là quyền con người, quyền kháng cáo thể hiện khả năng của những nguời tham gia tố tụng được bày tỏ trong đơn kháng cáo sự không đồng ý của mình đối với phán quyết của Toà án đã xét xử sơ thẩm và đề nghị Toà án cấp trên trực tiếp của Toà án đã ra phán quyết đó xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Quy định và đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền của những người tham gia tố tụng được kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm tại Toà án cấp cao hơn là hình thức, phương thức tối ưu để phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Điều này có ý nghĩa chính trị, pháp lý và xã hội hết sức to lớn. Xét xử phúc thẩm xét về bản chất là hình thức kiểm tra của Tòa án cấp trên trực tiếp đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới trực tiếp nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời những sai lầm thiếu sót có thể có trong bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Chính vì thế mà tất cả các Nhà nước văn minh đều thừa nhận chế độ hai cấp xét xử: Xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm đối với vụ án mà chưa có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Tất nhiên, xét xử phúc thẩm chỉ đặt ra khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, kháng cáo là một trong những cơ sở để mở phiên tòa phúc thẩm.

Tựu trung lại, quyền kháng cáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng thể hiện ở những điểm sau đây: Một là, quyền kháng cáo tạo ra một trong những điều kiện làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án cấp trên trực tiếp đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp. Thông qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp trên trực tiếp không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp 1uật mà còn phát hiện, khắc phục kịp thời các thiếu sót, sai lầm về xét xử của Tòa án cấp dưới. Hai là, quyền kháng cáo là một trong những phương tiện hữu hiệu để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo trong tố tụng hình sự. Ba là, thông qua việc xét xử các vụ án do công dân thực hiện quyền kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm góp phần đảm bảo nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật, nâng cao chất lượng xét xử, tăng cường hiệu quả giáo dục pháp luật và củng cố niềm tin vào công lý, công bằng xã hội cho nhân dân, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Tuy vẫn còn ở hình thức sơ khai nhưng vấn đề về kháng cáo đã được đề cập trong Quốc triều khám tụng điều lệ và đã thể hiện được một số nội dung cơ bản so với các quy định về kháng cáo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay. Theo quy định tại Thông lệ về khám tụng, các chủ thể có quyền kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo của mình tương ứng với hệ thống các cơ quan tài phán được tổ chức ở ba cấp: Cơ quan tài phán ở các phủ, huyện; các Thừa ty và Hiến ty; các cơ quan tài phán ở kinh đô:

- Các việc về ruộng đất công tư, hôn nhân, tài sản, đánh nhau, chửi nhau, tiền nợ, tiền tô… tất cả những việc không phải là tạp tụng đều phải cáo trình ở quan huyện, phúc thẩm tại quan phủ, không giải quyết được thì phúc thẩm tại Thừa ty. Nếu còn chưa phục tình mới phúc thẩm ở Ngự sử đài. Nếu tình lý có điều gì bức bách, chưa được làm sáng tỏ, mới cho khải trình, kêu trình ở Chính đường.

- Các vụ án mạng do thù sát, dâm sát, ẩu sát đều cáo trình tại quan phủ để cùng với quan huyện khám xét, phúc thẩm tại Thừa ty, không giải quyết được thì đến Ngự sử đài, rồi mới đến Chính đường.

- Các vụ kiện tụng đã qua Lục bộ, Ngự sử đài và Chính đường công minh khám xét xử án, nếu chưa phục tình thì cho vào ngày Thị chính làm tờ khải khiếu nại và cho cam kết nếu sai xin chịu trọng hình.

Quốc triều khám tụng điều lệ đã quy định một cách có hệ thống quyền kháng cáo cho các chủ thể có quyền kháng cáo. Đây là một điểm tiến bộ của quy định kháng cáo trong hệ thống pháp luật thời kỳ hậu Lê nói chung và Quốc triều khám tụng điều lệ nói riêng. Sự hình thành và phát triển của quyền kháng cáo trong hoạt động tố tụng gắn liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của tố tụng như công bằng; nhân đạo; suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, xét xử công khai, trực tiếp và bằng lời nói... Quy định này thể hiện sự quan tâm đến đời sống của nhân dân nói chung, cũng như người khởi kiện, người kháng cáo nói riêng, đảm bảo cho họ có quyền kháng cáo, quyền phúc cáo để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Người dân nếu không đồng ý (chưa phục) có quyền làm đơn lên cấp có thẩm quyền để xét xử lại (phúc thẩm).

Tuy nhiên, để tránh việc kiện tụng kéo dài, phức tạp, kháng cáo vượt cấp, phúc kiện, phúc cáo bừa bãi, Quốc triều khám tụng điều lệ cũng đã đặt ra những quy định hướng dẫn thủ tục, căn cứ, thời hạn… tiến hành kháng cáo. Các vụ kiện tụng chưa qua các cấp khám xét mà kêu trình loanh quanh, kêu trình vượt cấp, thì các nha môn hậu thớ không được thụ án khám xét. Trong trường hợp, các bên đương sự khiếu nại lên cấp trên xét xử lại, nếu việc kiện đó cấp dưới đã xử đúng thì người kiện sẽ bị phạt tiền tạ lỗi. Việc quy định số tiền tạ lỗi này nhằm ngăn ngừa và giảm bớt sự kiện cáo dai dẳng, các bản án, quyết định đã giải quyết vụ kiện được ổn định, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, cũng như hạn chế được sự lãng phí, mất thời gian cho việc xét xử một vụ kiện.

Thứ ba, sự kiểm soát công việc xét xử của các cấp nhằm đảm bảo việc xét xử được công bằng đúng luật, qua đó góp phần bảo vệ được quyền và lợi ích của người dân

Sự kiểm soát công việc xét xử của các cấp được quy định ở Điều 33 (Điều cuối cùng của Thông lệ về khám tụng) và ở lệ soát tụng. Đó thường là quan trên soát quan dưới: Tri phủ soát Tri huyện, Thừa ty soát quan phủ, riêng Thừa ty đặt dưới sự kiểm soát của Hiến ty, Ngự sử đài soát Hiến ty… Sự giám sát đối với mỗi vụ kiện thông qua việc xử phúc thẩm. Quan án nếu xử đúng thì được hưởng tiền tạ, nếu xử sai thì phạt tiền và có thể còn bị hạ hoặc cách chức. Như vậy, việc xử phúc thẩm mang tính chất kiểm soát công việc xét xử của các cấp. Ngoài ra, đối với việc xét xử các vụ kiện, nhà vua còn quy định lệ soát tụng cuối năm. Theo lệ này hàng năm các cấp xét xử phải làm sổ kê khai đủ các việc kiện, bao nhiêu án đã xử xong, bao nhiêu án chưa xử, bao nhiêu án xử đúng, bao nhiêu án bị phúc thẩm lại; số vụ án đã được tiền tạ lỗi cũng như số vụ án bị phạt tiền do xử sai… Quan trên sẽ căn cứ vào số tiền tạ lỗi và số tiền phạt đó để đánh giá công việc xét xử của quan dưới. Nếu số tiền tạ lỗi bằng số tiền phạt, quan trên sẽ phê chữ “thượng”. Nếu số tiền tạ lỗi bằng số tiền phạt thì được phê chữ “trung”. Còn nếu số tiền tạ lỗi ít hơn số tiền phạt thì bị phê chữ “hạ”. Căn cứ vào đó, Phủ chúa có thể ra quyết định thưởng.

Các quan lại cấp trên tiến hành thẩm tra, soát lại các việc kiện đã được cấp dưới xét xử rồi nộp lên cấp có thẩm quyền. Điều này nhằm đảm bảo cho vụ việc được xem xét kỹ lưỡng và tạo được cơ chế tố tụng luôn có sự kiểm tra, giám sát làm cho việc xét xử được công bằng đúng luật, qua đó góp phần bảo vệ được quyền và lợi ích của người dân. Quy định về soát tụng cũng được xem như một đảm bảo chung cho thời hạn của cả quy trình tố tụng “tra soát các vụ án có xét xử đúng kỳ hạn hay không… hễ nha môn nào 01 năm thụ lý bao nhiêu vụ án, giải quyết bao nhiêu vụ án, trong đó gửi về xử lại bác trả, hay thu lưu hoặc xét xử mỗi loại bao nhiêu vụ án, theo từng loại khai rõ sự tình, khai rõ kỳ hạn tra khám xét xử và kết quả xử án đều chép vào sổ tra soát đến kỳ đệ nạp lên”[5]. Với thời hạn hợp lý được quy định sẽ nhằm tăng cường trách nhiệm của các quan án khi giải quyết vụ việc tố tụng và từ đó sẽ đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích của người dân.

Có thể thấy, với rất nhiều những quy định chặt chẽ, rõ ràng, nhân văn, Quốc triều khám tụng điều lệ là sự kế tục xuất sắc tư tưởng nhân văn, vị con người của rất nhiều văn bản pháp luật, điển chế của triều đại. Giá trị lớn nhất mà Quốc triều khám tụng điều lệ để lại chính là tinh thần của Bộ luật. Các nhà “lập pháp” thời Hậu Lê đã thiết kế một bộ luật tố tụng theo tinh thần đưa ra một hệ thống các quy tắc tố tụng để cán bộ tư pháp chỉ được phép thực hiện trong phạm vi đó, không được vượt quá và phải luôn thể hiện trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của con người, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong quan hệ tố tụng, chứ không phải là tạo ra một hệ quy tắc để bảo vệ hoạt động tố tụng của Nhà nước[6].

ThS. Ngô Thị Thu Hoài

Tài liệu tham khảo:

[1]. Lệ khám tụng, Quốc triều khám tụng điều lệ.

[2]. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt, Nxb. Công an nhân dân 2007, tr.270.

[3]. Lệ kiện tụng đánh nhau, Quốc triều khám tụng điều lệ.

[4]. Lệ kiện tụng về nhân mạng, Quốc triều khám tụng điều lệ.

[5]. Lệ soát tụng, Quốc triều khám tụng điều lệ.

[6]. TS. Phạm Thị Duyên Thảo, Tư tưởng liêm chính tư pháp trong bộ Quốc triều khám tụng điều lệ triều Lê, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14(318)T7/2016, tr. 27.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: