Thứ ba 26/05/2026 23:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật hợp đồng trong lĩnh vực dân sự, đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản

Bài viết phân tích, đánh giá nội dung các quy định của pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực dân sự, đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản nhằm chỉ ra những điểm mâu thuẫn, chưa thống nhất, thiếu đồng bộ. Trên cơ sở đó, kiến giải một số giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập của lĩnh vực pháp luật này.


1. Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực dân sự, đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản

Nghiên cứu các quy định của pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực dân sự, đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản (BĐS) cho thấy, còn tồn tại một số nội dung chưa thống nhất, đồng bộ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, sự mâu thuẫn giữa Luật Đất đai năm 2013 với Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà ở

Bất động sản nói chung và nhà ở nói riêng được hình thành trên đất và gắn liền với đất thành một khối thống nhất không thể tách rời (gọi chung là tài sản trên đất). Việc chuyển nhượng tài sản trên đất bao giờ cũng đi kèm với chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành các quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mua bán nhà ở; của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có sự không tương thích, thống nhất gây ra cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan thực thi pháp luật và giữa các bên trong quan hệ chuyển nhượng tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, tiềm ẩn nguy cơ mâu thuẫn, bất đồng - mầm mống phát sinh tranh chấp. Hệ thống các văn bản về đất đai, nhà ở, kinh doanh BĐS hiện nay chưa có sự tách bạch giữa các thời điểm: Thời điểm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia hợp đồng về quyền sử dụng đất; thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản và thời điểm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Luật Đất đai năm 2013 không có quy định xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về quyền sử dụng đất (thời điểm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng về quyền sử dụng đất) mà chỉ có quy định về thời điểm xác lập quyền, biến động quyền sử dụng đất - thời điểm đăng ký xác lập quyền, biến động quyền sử dụng đất vào sổ địa chính của cơ quan đăng ký đất đai[1] dẫn đến việc hiểu đăng ký vừa là thời điểm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng, vừa là thời điểm xác lập quyền, biến động quyền sử dụng đất - thời điểm đối kháng với người thứ ba.

Khác với Luật Đất đai năm 2013, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về quyền sử dụng đất được quy định tại Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 với ba thời điểm khác nhau: Thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng đối với hợp đồng bắt buộc phải công chứng; thời điểm do các bên thỏa thuận; thời điểm các bên ký kết nếu các bên không có thỏa thuận[2]. Dẫu vậy, các văn bản này còn tồn tại một số điểm chưa cụ thể: (i) Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng”. Như vậy, Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định đối với các giao dịch về nhà ở mà Luật này quy định phải thực hiện công chứng, chứng thực (như mua bán, tặng cho nhà ở thương mại) thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực. Quy định này đã không đề cập đến quyền thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng sau thời điểm công chứng, chứng thực; (ii) Khoản 2 Điều 37 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 dẫn chiếu áp dụng Luật Đất đai đối với các hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất và yêu cầu các hợp đồng này phải tuân thủ quy định của pháp luật đất đai về đăng ký đất đai.

Sự thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ về thủ tục và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về quyền sử dụng đất và thời điểm xác lập quyền sử dụng đất theo hợp đồng giữa các văn bản pháp luật nói trên gây khó khăn cho việc thực thi trên thực tế.

Thứ hai, chưa tương thích về quy định hình thức hợp đồng giữa Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014

Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản[3]. Tuy nhiên, giữa các đạo luật này lại có sự khác nhau trong quy định dẫn đến sự lúng túng khi áp dụng pháp luật đối với trường hợp có nhiều đối tượng khác nhau trong một hợp đồng, cụ thể:

- Theo Luật Đất đai năm 2013, hợp đồng về quyền sử dụng đất có hai loại: (i) Phải là văn bản và phải công chứng, chứng thực gồm hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho… quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; (ii) Phải là văn bản và được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên gồm hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất; chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh BĐS (khoản 3 Điều 167). Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013 còn quy định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai[4].

- Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cũng ghi nhận hai loại hợp đồng về quyền sử dụng đất bao gồm hợp đồng bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực và hợp đồng công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên. Theo đó, Luật Nhà ở năm 2014 quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất bắt buộc phải công chứng gồm: Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại; hợp đồng công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên gồm hợp đồng mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; hợp đồng mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư (Điều 122). Trong khi đó, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định hợp đồng kinh doanh BĐS bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực gồm hợp đồng mua bán nhà, công trình xây dựng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà các bên là hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng, cho thuê mua BĐS quy mô nhỏ, không thường xuyên; còn các hợp đồng kinh doanh BĐS khác không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực.

Thứ ba, về đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng tài sản hình thành trong tương lai

Khái niệm tài sản hình thành trong tương lai được quy định tại khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: a. Tài sản chưa hình thành; b. Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”. Trong khi đó, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 lại quan niệm: “Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là nhà, công trình xây dựng đang trong quá trình xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng” (khoản 4 Điều 3). Luật Nhà ở năm 2014 cũng có quan niệm tương tự như Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 về nhà ở hình thành trong tương lai. Như vậy, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quan niệm về tài sản hình thành trong tương lai mới chỉ dựa trên yếu tố vật chất, vật lý của tài sản mà bỏ qua yếu tố về mặt pháp lý của tài sản đó là nhà ở, BĐS đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể vào thời điểm xác lập giao dịch. Vì vậy, các loại tài sản sau đây không được xác định là tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014:

+ Nhà ở xây dựng xong, đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu sẽ không được coi là tài sản hình thành trong tương lai vì đã hình thành. Do vậy, cần cân nhắc các quy định của Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 về tài sản hình thành trong tương lai đảm bảo thống nhất, đồng bộ với điểm b khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015 để phát huy tối đa giá trị của tài sản.

+ Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định: “Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất”. Như vậy, với các hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai sẽ mô tả đối tượng của hợp đồng là nhà ở hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất (nếu đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng hoặc chủ đầu tư vẫn đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa tách sổ cho từng căn hộ, biệt thự liền kề). Quy định này tiềm ẩn rủi ro cho người mua nhà ở hình thành trong tương lai. Bởi lẽ, nếu việc mua bán suôn sẻ, chủ đầu tư giữ chữ tín với khách hàng thì sau khi thanh toán đủ tiền mua nhà, người mua sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà liền kề, biệt thự. Nếu chủ đầu tư lợi dụng pháp luật thì có thể sau khi bán nhà ở hình thành trong tương lai cho khách hàng, họ lại thế chấp quyền sử dụng đất của toàn bộ dự án cho ngân hàng để vay tiền. Lúc này, quyền và lợi ích hợp pháp của người mua nhà ở bị ảnh hưởng nghiêm trọng do quyền sử dụng đất vẫn thuộc quyền của chủ đầu tư.

Thứ tư, về khái niệm hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất và bất động sản

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, quan niệm hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật Đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất. Như vậy, nội hàm của hợp đồng về quyền sử dụng đất được mở rộng không chỉ bao gồm hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê/cho thuê, thuê lại/cho thuê lại quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà còn cả các hợp đồng cho phép chủ thể quyền sử dụng đất một mặt có thể chuyển quyền sử dụng đất của mình cho chủ thể khác; mặt khác, vẫn cho phép chủ thể quyền sử dụng đất nắm giữ quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất gồm hợp đồng có đối tượng là quyền đối với quyền sử dụng đất, quyền hưởng dụng quyền sử dụng đất và quyền bề mặt.

Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2013 quy định hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất bao gồm hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng cho thuê/cho thuê lại quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 ghi nhận sự tồn tại của bảy loại hợp đồng cụ thể về quyền sử dụng đất trên đây. Các nội dung về quyền đối với BĐS liền kề, quyền hưởng dụng hay quyền bề mặt không được quy định một cách rõ ràng và đầy đủ trong các văn bản pháp luật về đất đai. Trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành, trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những quy phạm chứa đựng một số khía cạnh, nội dung của các vật quyền hạn chế như quyền đối với BĐS liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt. Dẫu vậy, những quy phạm này dường như chỉ hướng tới các quyền năng cho phép chủ thể quyền sử dụng đất có thể tiếp cận, nắm giữ, khai thác năng lực sinh lợi và công dụng của đất như sử dụng, hưởng lợi hoặc sở hữu tài sản được tạo lập do quyền khai thác, sử dụng đất. Nói cách khác, thừa nhận các quyền này dưới góc độ một khả năng thu lợi chứ chưa nhìn nhận các quyền này như đối tượng của hợp đồng.

Để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về hợp đồng về quyền sử dụng đất (trong đó có hợp đồng về chuyển nhượng tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) cần hoàn thiện pháp luật về các loại hợp đồng về quyền sử dụng đất; cụ thể hóa các quyền khác đối với tài sản (quyền đối với BĐS liền kề; quyền hưởng dụng, quyền bề mặt) trong các văn bản pháp luật có liên quan dưới góc độ là đối tượng của hợp đồng về quyền sử dụng đất.

Thứ năm, pháp luật hiện hành về hợp đồng còn tồn tại mâu thuẫn ngay trong các quy định cùng điều chỉnh về một vấn đề

Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014 quy định việc mua bán, thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai không cần phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khoản 19 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014 lại quy định: “Nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng”. Như vậy, nếu nhà ở đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng nhưng chưa hoàn thành thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu thì không đủ điều kiện để các bên liên quan tiến hành giao kết hợp đồng bảo đảm.

2. Một số giải pháp nâng cao tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật hợp đồng trong lĩnh vực dân sự, đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc chủ đầu tư được giao kết hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai.

Vấn đề này được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 19 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở năm 2014 (Nghị định số 99/2015/NĐ-CP). Theo đó, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của chủ đầu tư, Sở Xây dựng phải kiểm tra hồ sơ; nếu hồ sơ có đủ giấy tờ theo quy định tại điểm này thì Sở Xây dựng phải có văn bản thông báo nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua gửi chủ đầu tư. Nếu hồ sơ chưa có đủ giấy tờ theo quy định thì phải có văn bản nêu rõ lý do. Trường hợp chủ đầu tư đã gửi hồ sơ nhưng quá thời hạn quy định tại điểm này mà Sở Xây dựng không có văn bản thông báo và nhà ở đó đã đủ điều kiện được bán, cho thuê mua thì chủ đầu tư được quyền ký hợp đồng bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai nhưng phải chịu trách nhiệm về việc bán, cho thuê mua. Sở Xây dựng phải chịu trách nhiệm về việc thông báo hoặc không có văn bản thông báo nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua sau khi nhận được hồ sơ đề nghị của chủ đầu tư.

Tương tự, khoản 2 Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở hình thành trong tương lai đủ điều kiện được bán, cho thuê mua trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không đủ điều kiện được bán, cho thuê mua thì phải nêu rõ lý do. Như vậy, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đều quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước là Sở Xây dựng về việc thẩm định xem chủ đầu tư có được bán nhà ở hình thành trong tương lai hay không. Quy định như vậy nhằm đề cao vai trò của Nhà nước trong việc hạn chế rủi ro cho khách hàng mua loại BĐS này (đây là chủ thể được coi là yếu thế hơn trong các giao dịch về nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai so với chủ đầu tư, kinh doanh loại hình BĐS này). Dẫu vậy, điều này vô hình trung tạo ra tâm lý “tin tưởng” cho khách hàng khi mua nhà ở hình thành trong tương lai và dẫn đến sự chủ quan, thiếu kiểm tra các thông tin cần thiết khác. Vì họ nghĩ rằng, vấn đề thẩm định dự án nhà ở hình thành trong tương lai đã được cơ quan nhà nước thực hiện kỹ nên có thể yên tâm thực hiện giao dịch mua, thuê mua loại nhà ở này. Tuy nhiên, theo điểm b khoản 2 Điều 19 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP, thì trường hợp chủ đầu tư đã gửi hồ sơ nhưng quá thời hạn quy định tại điểm này mà Sở Xây dựng không có văn bản thông báo và nhà ở đó đã đủ điều kiện được bán, cho thuê mua thì chủ đầu tư được quyền ký hợp đồng mua bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai nhưng phải chịu trách nhiệm về việc bán, cho thuê mua. Trên thực tế, khi có tranh chấp xảy ra thì việc chủ đầu tư chịu trách nhiệm còn được xác định bởi nhiều yếu tố khác nhau nên rủi ro vẫn thuộc về khách hàng phải gánh chịu.

Thứ hai, rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 nhằm đảm bảo tính thống nhất, tương thích và đồng bộ.

Như phần trên đã phân tích, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất được hình thành trên đất và gắn liền với đất thành một khối thống nhất không thể tách rời. Việc chuyển nhượng tài sản bao giờ cũng đi kèm với chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, các đạo luật có liên quan về vấn đề này lại quy định không thống nhất thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mua bán nhà ở; của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”. Trong khi đó, khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng” và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cũng đồng quan điểm với Luật Nhà ở năm 2014. Sự không tương thích, thống nhất này gây ra cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan thực thi pháp luật và là rào cản cho việc triển khai thi hành pháp luật về chuyển nhượng tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Để khắc phục vướng mắc nêu trên, tác giả cho rằng, cần rà soát, sửa đổi các quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014. Theo đó, các quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất của Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 phải tương thích với quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Triết lý của đề xuất này là đất đai là điều kiện vật chất tiền đề để ra đời các tài sản trên đất và các tài sản này gắn liền với đất không thể tách rời. Vì vậy, quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng tài sản trên đất phải thống nhất tương thích với quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 về việc bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đó có các loại nhà ở (không phân biệt đó là nhà ở thương mại, nhà ở xã hội hay nhà ở tái định cư…), công trình xây dựng, vật kiến trúc khác nhằm đảm bảo tính thống nhất, tương thích và đồng bộ. Có như vậy, mới tạo thuận lợi cho việc triển khai thi hành đồng bộ các đạo luật này trên thực tế.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung quy định về nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 bảo đảm sự thống nhất, tương thích với khái niệm về tài sản hình thành trong tương lai của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, quan niệm về tài sản hình thành trong tương lai không chỉ dựa trên yếu tố vật chất, vật lý của tài sản mà còn bao hàm cả yếu tố về mặt pháp lý của tài sản: Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm nhà ở, công trình xây dựng và các BĐS khác đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng và nhà ở, công trình xây dựng và các BĐS khác đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể vào thời điểm xác lập giao dịch.

Thứ năm, bổ sung quy định về khái niệm hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất của Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 theo hướng nội hàm của hợp đồng về quyền sử dụng đất được mở rộng không chỉ bao gồm hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê/cho thuê, thuê lại/cho thuê lại quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà còn cả các hợp đồng cho phép chủ thể quyền sử dụng đất một mặt có thể chuyển quyền sử dụng đất của mình cho chủ thể khác; mặt khác, vẫn cho phép chủ thể quyền sử dụng đất nắm giữ quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất gồm hợp đồng có đối tượng là quyền đối với quyền sử dụng đất, quyền hưởng dụng quyền sử dụng đất và quyền bề mặt nhằm tương thích với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến

Đại học Luật Hà Nội

Tạ Văn Nhất

Công an tỉnh Lạng Sơn





[1]. Điều 95, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.

[2]. Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, khoản 2 Điều 37 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

[3]. Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 121 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 17, Điều 36, Điều 59, Điều 63 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

[4]. Điều 95, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: