Thứ bảy 07/02/2026 21:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng của giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học

Bài viết phân tích sự cần thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng của giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học; nêu lên thực trạng pháp luật về vấn đề này và đưa ra một số giải pháp.

The article analyzes the need to research and improve Vietnamese law on protection of intellectual property rights for lectures by lecturers at higher education institutions and states the legal status of this issue and offers some solutions.

1. Sự cần thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng[1] của giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học

Thời gian qua, để thích ứng với hoàn cảnh dịch bệnh, nhằm tránh tối đa việc tiếp xúc trực tiếp, công nghệ số được ứng dụng trong hầu khắp các khía cạnh của đời sống. Từ những lĩnh vực đơn thuần như kinh doanh, buôn bán hàng hóa cho đến những lĩnh vực dịch vụ đặc thù như giáo dục, y tế, bảo hiểm... Đặc biệt, đối với lĩnh vực giáo dục, việc nhanh chóng triển khai hình thức học trực tuyến ở tất cả các cấp học đã bảo đảm hoạt động giảng dạy và đào tạo được thực hiện thông suốt và tương đối hiệu quả. Mặc dù, hình thức học ứng dụng công nghệ số hiện nay có những ưu điểm như hạn chế tối đa sự tiếp xúc, linh hoạt, tiết kiệm thời gian, chi phí nhưng bên cạnh đó, hoạt động giảng dạy này cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Đó không chỉ là những hạn chế trong vấn đề tương tác, kiểm soát lớp học của người dạy, vấn đề hiệu quả tiếp thu của người học, mà còn có thể nảy sinh những rủi ro đối với hình ảnh, quyền sở hữu trí tuệ của người dạy và nhà trường.

Việc học qua các phần mềm như Trans, Zoom, Google Meet, Microsorf Teams... mặc dù hạn chế được sự tiếp xúc giữa người dạy và người học, phù hợp với hoạt động giáo dục trong thời kỳ dịch bệnh, tuy nhiên, vì không thực hiện giảng dạy, tiếp xúc trực tiếp nên người dạy cũng không thể quan sát và theo dõi tất cả các hành vi của người học. Do đó, trên thực tế, trong quá trình dạy và học trực tuyến, người học có thể dễ dàng thực hiện những hành vi như ghi âm, ghi hình bài giảng của giảng viên mà giảng viên không thể kiểm soát được. Nếu là hình thức học trực tiếp, để thực hiện những hành vi như trên người học sẽ phải xin phép người dạy trước khi tiến hành. Trong khi đó, quá trình dạy trực tuyến người dạy không thể xác định được người học có thực hiện hành vi đó hay không, vì vậy, việc người học ghi âm, ghi hình bài giảng của người dạy có thể thường xuyên xảy ra. Đặc biệt, trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, khi mỗi sinh viên đều trang bị cho mình một chiếc điện thoại thông minh có tính năng ghi âm, quay phim, chụp ảnh thì việc thực hiện những hành vi vi phạm tác quyền đối với bài giảng càng trở nên phổ biến và dễ dàng. Với đối tượng người học ở các cấp học thấp hơn, việc chủ động thực hiện ghi âm, ghi hình bài giảng của người dạy có thể sẽ khó khăn hơn do điều kiện về phương tiện và nhu cầu của người học còn hạn chế. Trong khi đó, đối với người học là sinh viên ở bậc học đại học, thì phương tiện học tập, thiết bị ghi âm, ghi hình được trang bị đầy đủ hơn, đồng thời, nhu cầu ghi lại bài giảng của giảng viên để sử dụng cũng phổ biến hơn, do đó, hoạt động ghi âm, ghi hình quá trình giảng dạy của giảng viên có thể được thực hiện một cách thường xuyên và dễ dàng hơn.

Điều đáng lưu ý là, sinh viên thực hiện hoạt động trên mà không xin phép giảng viên, thậm chí sau đó họ còn sử dụng bài giảng đã ghi âm, ghi hình để “phát tán” trên các diễn đàn học thuật trực tuyến của sinh viên hoặc đưa lên các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Tiktok... không chỉ nhằm mục đích học tập, trao đổi học thuật và nghiên cứu mà còn nhằm mục đích thương mại. Đây đều là những nền tảng công nghệ có phạm vi cộng đồng thành viên tham gia mở, không giới hạn số lượng cũng như thành phần, vì vậy, có thể gây ảnh hưởng đến tâm lý, hình ảnh của giảng viên, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của các trường đại học.

Hiện nay, chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo là khuyến khích các trường đại học triển khai mạnh mẽ hình thức đào tạo trực tuyến kết hợp song song với hình thức đào tạo truyền thống, từ đó, có thể phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế của hai phương thức này. Trong tương lai, hình thức giảng dạy trực tuyến sẽ được sử dụng phổ biến, trở thành một hình thức đào tạo chính thức bên cạnh hình thức giảng dạy trực tiếp. Chính vì vậy, cần có một khuôn khổ pháp lý vững chắc và an toàn cho hoạt động giảng dạy trực tuyến nói chung cũng như vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng của giảng viên nói riêng. Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành mặc dù đã quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng bài giảng, bài phát biểu, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhận và đưa ra một số nguyên tắc bảo hộ mà chưa xây dựng được những quy định cụ thể, phù hợp với đặc trưng, bản chất của loại tác phẩm đặc biệt này. Việc còn thiếu những quy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề này là một trong những nguyên nhân làm gia tăng số lượng hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của sinh viên đối với bài giảng trực tuyến của giảng viên và nhà trường. Chính vì vậy, pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng của giảng viên nói riêng và người dạy nói chung là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu, đánh giá để từ đó xây dựng giải pháp hoàn thiện trong bối cảnh hiện nay.

2. Thực trạng pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng của giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học hiện nay

Hiện nay, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ bao gồm Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019 (Luật Sở hữu trí tuệ) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó, văn bản dưới luật trực tiếp điều chỉnh về quyền tác giả đối với các tác phẩm trong một số lĩnh vực là Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan (Nghị định số 22/2018/NĐ-CP). Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có văn bản chuyên ngành điều chỉnh hoạt động sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng trong trường đại học, do đó, cơ sở pháp lý cho vấn đề này chính là hệ thống văn bản pháp luật đã đề cập ở trên.

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, bài giảng của giảng viên được xác định là một loại tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Cụ thể, Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ đã liệt kê các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như: Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm sân khấu; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm điện ảnh; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm kiến trúc… Theo đó, bài giảng là một trong 14 loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Có thể nói, đây là cơ sở pháp lý đầu tiên để ghi nhận quyền tác giả đối với bài giảng nói chung và của giảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học nói riêng. Để có thể xác định được chính xác nội dung pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với bài giảng, trước hết cần nhận diện được định nghĩa về bài giảng. Trên thực tế, khi đề cập đến thuật ngữ “bài giảng” có thể hiểu gồm 02 loại, đó là: Bài giảng dưới dạng văn bản (như giáo án, tập bài giảng) và bài giảng dưới dạng thuyết giảng. Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP định nghĩa: “Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định”. Như vậy, dưới góc độ pháp lý, “bài giảng” được xác định là một tác phẩm được thể hiện bằng ngôn ngữ nói thuộc đối tượng ghi nhận và bảo hộ của pháp luật sở hữu trí tuệ. Điều đó có nghĩa là, giáo án, tập bài giảng bằng ngôn ngữ viết không thuộc phạm vi khái niệm này và mỗi đơn vị thời gian giảng viên giảng bài cho sinh viên sẽ được ghi nhận là một “bài giảng”. Tuy nhiên, để việc thuyết giảng của giảng viên đối với sinh viên được Luật Sở hữu trí tuệ bảo hộ với tư cách một tác phẩm, cần bảo đảm điều kiện bài thuyết giảng đó được “định hình dưới một hình thức vật chất nhất định”.

Để có thể “định hình” tác phẩm, các chủ thể có thể thực hiện một trong những hành vi sau: Biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt (khoản 3 Điều 3 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP). Như vậy, các biểu hiện của hoạt động “định hình” tác phẩm có thể xác định được đối với bài giảng (được biểu hiện thông qua ngôn ngữ nói) là thông qua hoạt động ghi âm, ghi hình buổi thuyết giảng đó của giảng viên. Từ thời điểm tồn tại bản ghi âm, ghi hình đó thì phần thuyết giảng của giảng viên trở thành tác phẩm được bảo hộ bởi pháp luật sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, chủ thể xác lập quyền tác giả với bài giảng trong trường hợp này được xác định theo như thế nào?

Trên cơ sở nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả theo cơ chế tự động và nội dung quyền tác giả được xác lập bao gồm hai nhóm quyền là quyền nhân thân và quyền tài sản, chủ thể thiết lập quyền tác giả đối với bài giảng có thể có hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, nếu tác giả - chủ thể trực tiếp thuyết giảng tự thực hiện việc định hình bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình, thì tác giả được hưởng quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác, đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật Sở hữu trí tuệ (khoản 2 Điều 8 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP). Điều này nghĩa là, giảng viên vừa là tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả đối với bài giảng của mình. Theo đó, họ có thể xác lập quyền nhân thân (quyền đặt tên, đứng tên, sửa chữa, công bố tác phẩm) và quyền tài sản (sao chép, làm tác phẩm phái sinh, truyền đạt, phân phối, nhận thù lao...) đối với bài giảng hay cụ thể là bản ghi âm, ghi hình đối với bài giảng của mình.

Trường hợp thứ hai, nếu tác giả là người trực tiếp thuyết giảng và nhà trường là chủ thể thực hiện việc định hình bài giảng dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình thì giảng viên sẽ là tác giả của bài giảng và nhà trường sẽ trở thành chủ sở hữu của quyền tác giả đối với bài giảng. Do đó, trong trường hợp này, giảng viên sẽ nắm giữ quyền nhân thân và nhà trường sẽ nắm giữ quyền tài sản đối với bài giảng mà giảng viên thực hiện. Như vậy, việc xác lập toàn bộ hay một phần quyền nhân thân và quyền tài sản đối với một chủ thể sẽ phụ thuộc vào hành vi định hình tác phẩm của chủ thể trực tiếp thực hiện bài giảng đó. Nếu nhà trường hoặc giảng viên thực hiện “định hình” bài giảng của mình, thì họ trở thành chủ thể quyền tác giả đối với bài giảng tồn tại dưới hình thức vật chất là bản ghi âm, ghi hình bài giảng đó và họ sẽ có quyền ngăn cấm các chủ thể khác xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm này theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp này, mọi hành vi khai thác, sử dụng, sao chép, phân phối, truyền đạt... tác phẩm mà không xin phép, không thực hiện nghĩa vụ tài chính bị coi là hành vi vi phạm quyền tác giả[2] đối với tác phẩm, đồng thời bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp, bản ghi âm, ghi hình bài giảng của giảng viên do các chủ thể khác (như sinh viên tham dự lớp học) thực hiện, thì giảng viên và nhà trường lại không thể xác lập quyền sở hữu trí tuệ với bản ghi âm, ghi hình đó.

Bài giảng của giảng viên được thực hiện một cách công khai, trên phạm vi rộng, có sự tham dự, tiếp cận của nhiều chủ thể, nên hành vi ghi âm, ghi hình bài giảng được sinh viên thực hiện một cách dễ dàng mà người giảng dạy không thể can thiệp được. Mặc dù là giảng dạy trực tiếp trên lớp nhưng trong nhiều trường hợp, người dạy không biết bài giảng của mình được định hình từ phía sinh viên. Trong khi đó, với hình thức giảng dạy trực tuyến (giảng viên chỉ có thể tiếp cận với sinh viên thông qua camera của các phần mềm giảng dạy) thì khả năng nhận biết và kiểm soát việc sinh viên ghi âm, ghi hình bài giảng khó có thể thực hiện được.

Vấn đề mấu chốt là, ngay cả trong trường hợp giảng viên có phát hiện ra sinh viên thực hiện hành vi ghi âm, ghi hình bài giảng của mình mà không xin phép, thì họ chỉ có khả năng xử lý đối với hành vi ghi hình mà không có cơ chế để xử lý hành vi ghi âm. Bởi lẽ, việc ghi hình bài giảng mà không xin phép là hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh của giảng viên theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong khi đó, đối với hành vi ghi âm, hiện nay chưa có cơ sở pháp lý để giảng viên có thể ngăn cấm và xử lý đối với sinh viên khi họ thực hiện hành vi này.

Thực tế cho thấy, hiện nay, khả năng kiểm soát đối với những hành vi vi phạm nêu trên hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức tự bảo vệ và các quy định mang tính hạn chế quyền ghi âm, ghi hình của người học trong bộ quy tắc ứng xử hoặc quy chế đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, nếu các cơ sở giáo dục đại học không có sự chuẩn bị, chủ động xây dựng quy chế pháp lý mang tính nội bộ để điều tiết hành vi ghi âm, ghi hình bài giảng thì sẽ không có cơ chế để bảo vệ giảng viên trước hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng tại các cơ sở giáo dục đại học

Để khắc phục tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng của giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp cụ thể như: (i) Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với bài giảng trong hệ thống pháp luật Việt Nam; (ii) Nâng cao ý thức pháp luật của đối tượng tiếp nhận bài giảng là sinh viên; (iii) Nâng cao ý thức tự bảo vệ của các cơ sở giáo dục đại học.

Thứ nhất, bổ sung quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm bài giảng trong Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành theo hướng: Ghi nhận quyền của tác giả thực hiện bài giảng trong việc định hình tác phẩm tương tự như người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư đối với cuộc biểu diễn của mình có quyền nhân thân và quyền tài sản (khoản 1 Điều 29). Trong đó, quyền tài sản được độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bao gồm “định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình” (điểm a khoản 3 Điểu 29 Luật Sở hữu trí tuệ). Như vậy, với người biểu diễn như ca sỹ, vũ công, diễn viên... họ thực hiện tác phẩm của mình trước công chúng và có quyền quyết định việc tự mình hoặc cho phép chủ thể khác thực hiện việc định hình cuộc biểu diễn đó. Trong trường hợp này, mọi hành vi định hình cuộc biểu diễn mà chưa xin phép, thỏa thuận với người biểu diễn sẽ bị coi là hành vi vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ. Trong sự đối sánh tương quan, giảng viên thực hiện bài giảng có những nét tương đồng với người biểu diễn, do đó, có thể bổ sung quy định liên quan đến hoạt động định hình bài giảng của giảng viên tương tự như đối với người biểu diễn. Theo đó, bổ sung quy định về quyền tài sản của tác giả bài giảng theo hướng, tác giả bài giảng có quyền định hình trực tiếp bài giảng nói trên bản ghi âm, ghi hình. Quyền này có thể do tác giả độc quyền thực hiện hoặc chuyển giao cho chủ thể khác trong trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu của tác phẩm bài giảng đó. Trong trường hợp giảng viên thực hiện bài giảng trên cơ sở hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, thì giảng viên sẽ nắm giữ quyền nhân thân và các cơ sở giáo dục đại học là chủ sở hữu bài giảng, họ nắm giữ quyền tài sản. Như vậy, họ sẽ có quyền độc quyền thực hiện hoặc cho phép chủ thể khác thực hiện việc định hình tác phẩm bài giảng. Quy định này sẽ giải quyết được tình trạng bất kỳ chủ thể nào khi tiếp cận bài giảng của giảng viên cũng có quyền tự mình định hình tác phẩm đó trên bản ghi âm, ghi hình nhất định như hiện nay. Trên cơ sở pháp lý đó, giảng viên và nhà trường sẽ có cơ chế để kiểm soát và xử lý hành vi định hình bài giảng mà không xin phép. Hay nói cách khác, trước khi thực hiện ghi âm, ghi hình bài giảng, sinh viên sẽ phải xin phép và chỉ khi được giảng viên đồng thuận, hành vi ghi âm, ghi hình bài giảng của sinh viên mới là hành vi hợp pháp. Nếu không được sự đồng ý của giảng viên, thì việc ghi âm, ghi hình của sinh viên là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng và bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, bổ sung quy định về quyền thực hiện hoạt động định hình bài giảng thuộc về tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm sẽ giúp giảng viên và các cơ sở giáo dục đại học có cơ chế kiểm soát đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình sau đó của sinh viên. Đối với những hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình bài giảng của giảng viên cho các mục đích không phải để học tập và nghiên cứu hoặc tự ý đưa bản ghi âm, ghi hình bài giảng lên các nền tảng mạng xã hội, diễn đàn mở... sẽ bị xử lý bằng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự tương tự như các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khác.

Thứ hai, cần tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung cũng như về quyền tác giả nói riêng bằng các hình thức khác nhau, giúp sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của việc tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với bài giảng của giảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học. Là chủ thể lĩnh hội kiến thức, có cơ hội tiếp cận với bài giảng của giảng viên, họ cần nhận thức được bài giảng cũng là một tác phẩm khoa học, là kết quả của một quá trình lao động, sáng tạo của giảng viên, bất kỳ chủ thể nào tiếp cận đều phải tôn trọng quyền tác giả của giảng viên đối bài giảng. Để nâng cao ý thức pháp luật của sinh viên trong lĩnh vực bảo vệ quyền tác giả trong các cơ sở giáo dục đại học, trước hết cần giúp họ nhận thức được những tác phẩm khoa học nào ở cơ sở giáo dục mà họ cần phải tôn trọng và bảo vệ. Bên cạnh đó, cần phổ biến giúp cho sinh viên hiểu được quyền tác giả nói chung cũng như quyền tác giả trong các cơ sở giáo dục hiện nay được ghi nhận và bảo vệ bởi các quy định pháp luật.

Thứ ba, đối với các cơ sở giáo dục đại học, cần tăng cường các biện pháp tự bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm bài giảng của giảng viên nói riêng và quyền tác giả trong các cơ sỏ giáo dục đại học nói chung. Đặc biệt, ở thời điểm hiện tại, sự thiếu vắng các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ trong việc xác định quyền định hình tác phẩm bài giảng chưa tạo được cơ chế bảo hộ đầy đủ và hiệu quả cho các cơ sở giáo dục đại học và giảng viên. Do đó, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng bộ quy tắc ứng xử hoặc quy chế nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc ghi nhận quyền định hình bài giảng nói là độc quyền thuộc về giảng viên hoặc nhà trường. Bên cạnh đó, trong các bộ quy tắc, quy chế phải xác lập nghĩa vụ cho sinh viên trong việc tôn trọng và cam kết không xâm hại quyền tác giả đối với bài giảng cũng như các quyền sở hữu trí tuệ khác trong cơ sở giáo dục đại học. Ngoài ra, cũng cần phải xây dựng các biện pháp xử lý cụ thể, chi tiết trong quy chế, quy định của nhà trường để vừa bảo đảm phòng ngừa, răn đe hành vi vi phạm, vừa xử lý một cách hiệu quả đối với hành vi vi phạm.

TS. Đỗ Phương Thảo

Trường Đại học Thương Mại

Ảnh: internet

[1]. “Bài giảng” được đề cập trong bài viết này là bài giảng của giảng viên ở các cơ sở giáo dục đại học được thể hiện bằng ngôn ngữ nói.

[2]. Khoản 2 Điều 20 và Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: