Thứ hai 20/04/2026 07:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, việc làm ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định của pháp luật có liên quan đến bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, việc làm và thực trạng đang diễn ra nhằm kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật trong lĩnh vực này.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định của pháp luật có liên quan đến bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, việc làm và thực trạng đang diễn ra nhằm kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật trong lĩnh vực này.

Abstract: The paper analyzes legal provisions relating to sex equality in the area of education, employment and the real situation with a view to propose amendments, supplementations in this area.

1. Pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, việc làm[1]

Thứ nhất, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nội dung bình đẳng giới đã được thể hiện trong các quy định như: (i) Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng; (ii) Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo; (iii) Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; (iv) Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ; (v) Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm: Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo; lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật (Điều 14 Luật Bình đẳng giới năm 2006).

Thứ hai, trong lĩnh vực lao động, nội dung bình đẳng giới đã được thể hiện trong các quy định sau:

- Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.

- Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm: (i) Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động; (ii) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ; (iii) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại (Điều 14 Luật Bình đẳng giới năm 2006 ).

- Để đảm bảo cho việc thực hiện các quy định nêu trên, đồng thời xử lý các hành vi vi phạm bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới (Nghị định số 55/2009/NĐ-CP) đã định danh các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này như sau:

+ Đối với các hành vi vi phạm bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm: (i) Vận động, ép buộc người khác nghỉ học vì lý do giới tính; (ii) Từ chối tuyển sinh đối với người có đủ điều kiện vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ; (iii) Quy định tuổi đào tạo, tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ; (v) Tổ chức giáo dục hướng nghiệp, biên soạn, phổ biến sách giáo khoa, giáo trình, chương trình giảng dạy có nội dung định kiến giới (Điều 9).

+ Đối với các hành vi vi phạm bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm: (i) Hành vi phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc chênh lệch về mức tiền lương, tiền công của những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính; (ii) Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù theo quy định của pháp luật; (iii) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động nam hoặc lao động nữ vì lý do giới tính, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ (Điều 8).

Ngoài ra, việc xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực nói trên còn được quy định trong các văn bản như: Điều 11 Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục; Điều 18 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ).

2. Thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và việc làm

2.1. Trong lĩnh vực giáo dục

Số liệu điều tra mới nhất về hiện trạng mù chữ theo độ tuổi ở phụ nữ của 63 tỉnh, thành trong cả nước cho biết: Với độ tuổi từ 15 - 25, toàn quốc có hơn 128.000 người mù chữ, trong đó có hơn 61.000 nữ; trong độ tuổi 26 - 35 tuổi có 278.000 người mù chữ thì 150.000 là nữ. Đáng nói, đối tượng nữ là người dân tộc thiểu số bị mù chữ chiếm đa số[2]. Đây là những con số đáng báo động về tình trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục đối với phụ nữ và trẻ em gái, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái khu vực dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, trẻ em gái và phụ nữ ở nông thôn, miền núi vẫn bị ràng buộc bởi các phong tục, tập quán có ảnh hưởng tiêu cực đến việc đạt được bình đẳng giới trong giáo dục. Ngoài ra, nạn tảo hôn vẫn còn phổ biến ở những khu vực dân tộc thiểu số khiến tỷ lệ trẻ em gái bỏ học, thất học nhiều hơn so với trẻ em trai.

Không chỉ bất bình đẳng trong các mối quan hệ xã hội, phụ nữ và trẻ em gái còn bị đối xử thiếu công bằng ngay cả trong sách vở. Theo PGS. TS. Hoàng Bá Thịnh, đại diện Ban chỉ đạo Đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông, thì hiện nay trong sách giáo khoa có rất nhiều hình ảnh gây bất bình đẳng: “Trong 03 cuốn sách mà chúng tôi khảo sát là sách Tự nhiên xã hội lớp 1, Giáo dục công dân lớp 6 và lớp 10 có rất nhiều bài viết, hình ảnh mang nặng định kiến giới: Nói về việc lau nhà, rửa bát, đi chợ thì vẽ hình ảnh mẹ và con gái; việc đá bóng, vi phạm luật giao thông, chơi bời, xem ti vi thì nhất thiết là hình bé trai và bố. Hay sách văn học cũng vậy, các câu ca dao tục ngữ nói về thân phận hẩm hiu, khổ sở của phụ nữ quá nhiều, truyện Kiều thì đưa các đoạn thơ nói về việc Kiều an phận, chịu khổ với tần suất lớn; sách lịch sử thì dày đặc những câu chuyện về vị anh hùng này, anh hùng kia là nam giới trong khi đó nữ giới cũng có rất nhiều nhân vật anh hùng… Như thế là không công bằng và rất cần thiết phải thay đổi”[3].

Qua những số liệu trên, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, tỷ lệ nữ bị mù chữ ở độ tuổi từ 15 - 25 là 47,65%. Tuy nhiên, tỷ lệ này là 53,95% đối với độ tuổi 26 - 35, cao hơn ở lứa tuổi từ 15 - 25. Có thể thấy, đây là hiện tượng tái mù chữ, do vậy, các nhà hoạch định chính sách cần xây dựng kế hoạch xóa mù chữ sao cho phù hợp với từng độ tuổi.

Thứ hai, bất bình đẳng giới trong giáo dục còn phụ thuộc vào yếu tố phong tục, tập quán, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, nước ta chịu ảnh hưởng văn hóa phương Đông nên hầu như suy nghĩ của nhiều người đều mặc định việc nội trợ trong gia đình thuộc về phụ nữ. Do vậy, trường hợp biên soạn sách giáo khoa nói trên vô tình đã vi phạm quy định về bình đẳng giới. Thiết nghĩ, vấn đề này cần phải được chấn chỉnh, xử lý theo quy định pháp luật.

2.2. Trong lĩnh vực việc làm

Phân biệt đối xử theo giới tính vẫn phổ biến trong thực tiễn tuyển dụng tại khối doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam. Đó là những phát hiện chính từ một nghiên cứu mới có tựa đề “Bình đẳng giới trong thực tiễn tuyển dụng và thăng tiến tại Việt Nam” do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) phối hợp với Navigos Search thực hiện. Theo nghiên cứu này, thì 1/5 trong số 12.300 quảng cáo tuyển dụng trên bốn cổng thông tin việc làm lớn nhất Việt Nam (Vietnamworks, JobStreet, CareerBuider, Career Link) trong thời gian từ giữa tháng 11/2014 đến giữa tháng 01/2015 có đưa ra yêu cầu về giới tính. Trong số các việc làm đăng tuyển có yếu tố giới, 70% yêu cầu chỉ tuyển nam giới trong khi chỉ có 30% mong muốn ứng viên nữ nộp hồ sơ. Nam giới thường được nhắm tới cho các công việc mang tính chất chuyên sâu hơn và đòi hỏi kỹ năng cao hơn hoặc các công việc yêu cầu di chuyển nhiều. Trong khi đó, phụ nữ thường được yêu cầu cho các công việc mang tính chất hỗ trợ và văn phòng. Sự tập trung về giới trên các nấc thang sự nghiệp trong cùng một nghề nhất định cũng được thể hiện qua các quảng cáo tuyển dụng cho các vị trí quản lý. Có tới 83% các thông báo tuyển dụng vị trí quản lý có yếu tố giới yêu cầu ứng viên nam. Trong đó, toàn bộ các vị trí giám đốc chỉ dành cho nam giới.

Cũng trong khuôn khổ của nghiên cứu, một cuộc khảo sát với các chủ lao động trong khu vực tư nhân vào tháng 01/2015 cho thấy, ngoài trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc - hai yếu tố quan trọng nhất khi đưa ra các quyết định tuyển dụng, 2/3 chủ lao động hỏi các câu hỏi về khả năng làm việc ngoài giờ. Có tới 43% chủ lao động muốn tìm hiểu về tình trạng hôn nhân của người xin việc và 30% hỏi thông tin về kế hoạch sinh con.

Nghiên cứu cho thấy, việc tăng lương đối với phụ nữ khá bình đẳng (chỉ 8% số nữ giới được hỏi đã từng bị từ chối tăng lương chỉ vì họ là phụ nữ). Theo điều tra lao động việc làm năm 2013, chênh lệch tiền lương theo giới ở Việt Nam là 9,4%, so với mức trung bình của thế giới là 4,36%. 2/3 ứng viên nhân sự cấp trung cũng tin rằng phụ nữ và nam giới có cơ hội như nhau trong việc thăng chức tại công ty của họ. Chỉ 60% chủ lao động được phỏng vấn tính thời gian nghỉ thai sản vào thâm niên công tác của người lao động như quy định của pháp luật. Với việc thâm niên công tác là yếu tố quan trọng thứ hai khi người sử dụng lao động căn cứ để ra quyết định thăng chức, điều này là một bất lợi lớn đối với lao động nữ để tiến xa hơn trong sự nghiệp[4].

Qua số liệu nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, có đến 20% quảng cáo tuyển dụng trên 04 cổng thông tin việc làm lớn nhất Việt Nam có đưa ra yêu cầu về giới tính trong tuyển dụng, đó là một tỷ lệ khá lớn.

Thứ hai, có những yêu cầu trong công tác tuyển dụng không thấy bóng dáng của việc phân biệt giới tính, song xem xét những câu hỏi của nhà tuyển dụng về khả năng làm việc ngoài giờ, về số liệu 43% chủ lao động muốn tìm hiểu về tình trạng hôn nhân của người xin việc và 30% hỏi thông tin về kế hoạch sinh con đã hàm ý rằng, vẫn còn tồn tại khá lớn tình trạng phân biệt giới tính của những người sử dụng lao động.

Thứ ba, đối với nhân sự cấp trung thì họ cho biết không nhận thấy tình trạng phân biệt đối xử về giới trong môi trường làm việc và các cơ hội thăng tiến.

Rõ ràng là, việc phỏng vấn nhân sự trong khi tuyển dụng là quyền của người sử dụng lao động, pháp luật chưa thể điều chỉnh mọi hành vi của họ. Tuy nhiên, đối với việc quảng cáo tuyển dụng có đưa ra yêu cầu về giới tính thì đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

3. Kết luận, kiến nghị

3.1. Kết luận

Qua tìm hiểu chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới và bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, việc làm, cũng như thực trạng bình đẳng giới trong các lĩnh vực nói trên, tác giả có một số kết luận như sau:

Một là, qua những nội dung đã trình bày cho thấy, cả về định hướng chính sách lẫn pháp luật thực định trong lĩnh vực giáo dục và việc làm đều quy định tương đối đầy đủ các nội dung cần điều chỉnh, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của toàn hệ thống chính trị đối với lĩnh vực bình đẳng giới.

Hai là, việc viết sách giáo khoa ở cấp tiểu học hầu như đều do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, mời các nhà khoa học có uy tín trong từng lĩnh vực tham gia, sau đó thành lập Hội đồng thẩm định… Giai đoạn cuối cùng là in ấn và phát hành thường thuộc về Nhà xuất bản Giáo dục. Nghĩa là, để có một cuốn sách giáo khoa đến người sử dụng phải qua nhiều công đoạn, nhiều chủ thể tham gia. Do vậy, việc xác định chủ thể của hành vi vi phạm trong lĩnh vực biên soạn, phổ biến sách giáo khoa, giáo trình, chương trình giảng dạy có nội dung định kiến giới để xử lý theo quy định pháp luật như trong trường hợp đã nêu trên là điều khó có thể thực hiện được.

Ba là, hành vi quảng cáo có nội dung định kiến về giới là hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo đã được quy định tại Điều 8 Luật Quảng cáo năm 2012. Theo đó, tổ chức, cá nhân có hành vi quảng cáo có tính chất định kiến về giới thì sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 51 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo. Chỉ tiếc rằng, hành vi “định kiến giới” được thiết kế chung với quy định về “hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo” cùng với các hành vi “kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật”. Có lẽ vì thế nên khi quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực nói trên, pháp luật lại không quy định thẩm quyền của thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là thanh tra chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Điều này đã tạo ra khoảng trống pháp lý khi xử lý các hành vi quảng cáo có tính chất định kiến về giới, cụ thể người được Nhà nước trao quyền xử lý các vi phạm pháp luật về bình đẳng giới thì không thể xử lý vì không thuộc phạm vi quản lý nhà nước; còn cơ quan Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì không có thẩm quyền xử lý trong trường hợp này vì không được pháp luật quy định.

3.2. Kiến nghị

Trên cơ sở những nội dung phân tích nêu trên, tác giả có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, cần có các quy định cụ thể để nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử về giới, như quảng cáo việc làm có đề cập đến giới tính và tiếp tục tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới, cũng như các quy định có liên quan đến lĩnh vực này như: Hôn nhân và gia đình, giáo dục, việc làm, quảng cáo… để nâng cao ý thức của toàn xã hội. Hơn ai hết, người phụ nữ phải nhận thức rõ về vai trò, vị trí của mình để tự bảo vệ, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, việc làm.

Thứ hai, cần làm rõ chủ thể của hành vi “tổ chức giáo dục hướng nghiệp, biên soạn, phổ biến sách giáo khoa, giáo trình, chương trình giảng dạy có nội dung định kiến giới” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 9 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP để tạo điều kiện cho cơ quan áp dụng pháp luật khi xử lý hành vi vi phạm này. Đồng thời, cơ quan được Chính phủ ủy quyền khẩn trương soạn thảo Nghị định mới để thay thế Nghị định số 55/2009/NĐ-CP cho phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Thứ ba, bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành Lao động - Thương binh và Xã hội trong lĩnh vực quảng cáo, cụ thể là bổ sung vào Điều 81 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP.

TS. Lê Ngọc Thạnh

Đại học Lao động - Xã hội cơ sở II TP. Hồ Chí Minh







[1]. Trong bài viết, thuật ngữ “giáo dục - đào tạo”, “lao động” được sử dụng tương tự như là “giáo dục”, “việc làm”.

[2]. Hoàng Ngân (2016), Báo động bất bình đẳng giới trong giáo dục, truy cập tại địa chỉ: http://www.baogiaothong.vn/bao-dong-bat-binh-dang-gioi-trong-giao-duc-d144345.html, ngày 01/4/2016.

[3]. Phát biểu của PGS. TS. Hoàng Bá Thịnh tại Hội thảo “Sáng kiến về bình đẳng giới và giáo dục trẻ em gái ở Việt Nam” do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 31/3/2016.

[4]. ILO - Navigos Search (2015), Bình đẳng giới trong thực tiễn tuyển dụng và thăng tiến tại Việt Nam, Tóm tắt chính sách tháng 3.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: