Thứ ba 06/10/2026 07:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Những bất cập cần sửa đổi, bổ sung

Tóm tắt: Bài viết phân tích những bất cập trong các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường hiện hành về việc lập, phê duyệt, thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.


Abstract: The paper analyzes insufficiencies in current legal provisions on environment protection in setting-up, approval, assessment report on environment impact and some proposals for law completion in this issue.

Trên thực tế, việc thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 bên cạnh những kết quả đạt được còn nhiều bất cập và hạn chế cần phải hoàn thiện, cụ thể như sau:

1. Về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường

Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường gồm: (i) Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; (ii) Dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử - văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng; (iii) Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Như vậy, có thể thấy, quy định đối tượng trong luật này phải lập báo cáo ĐTM quá rộng và không cần thiết, đôi khi còn trùng lắp, gây tốn kém cho doanh nghiệp và không hiệu quả xét về khía cạnh bảo vệ môi trường. Chẳng hạn như khu công nghiệp đã được phê duyệt báo cáo ĐTM trong khi đó các dự án trong khu công nghiệp lại tiếp tục phải thực hiện ĐTM. Qua thực tiễn, có nhiều ý kiến đề nghị rà soát lại đối tượng phải thực hiện ĐTM theo hướng thu gọn đối tượng ở trong Luật và trong danh mục quy định ở nghị định của Chính phủ, nhiều dự án trên thực tế không cần thiết phải lập báo cáo ĐTM, gây khó khăn cho doanh nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Theo điểm a khoản 1 Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là đối tượng phải thực hiện ĐTM. Quy định như vậy là chưa hợp lý, vì việc phân loại các dự án nêu trên hoàn toàn dựa vào quy mô vốn trong khi không phải tất cả các dự án có quy mô vốn lớn thì có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới môi trường và ngược lại. Bên cạnh đó, trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp thực hiện nhiều dự án trên cùng một địa điểm với nhiều cơ quan có thẩm quyền phê duyệt khác nhau (hoặc một dự án nhưng lại phê duyệt nhiều ĐTM khác nhau cho các hạng mục khác nhau) và công tác ĐTM đối với những dự án này không được xem xét, đánh giá một cách tổng thể, toàn diện các vấn đề môi trường, dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao khi các dự án này đi vào hoạt động. Do đó, cần quy định chủ dự án có trách nhiệm lập báo cáo ĐTM đối với toàn bộ tổ hợp các dự án triển khai trên cùng một địa điểm.

2. Về thực hiện đánh giá tác động môi trường

Theo khoản 2 Điều 19 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì việc lập báo cáo ĐTM phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án. Tuy nhiên, khái niệm “giai đoạn chuẩn bị dự án” chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong xác định thời điểm chủ dự án phải lập báo cáo ĐTM (trước khi phê duyệt chủ trương đầu tư, cấp giấy phép đầu tư hay chuẩn bị xây dựng dự án). Do đó, cần thiết phải làm rõ khái niệm này để xác định đúng thời điểm lập báo cáo ĐTM, tránh tùy tiện. Việc xây dựng 01 báo cáo ĐTM phục vụ cho cả giai đoạn phê duyệt chủ trương đầu tư và giai đoạn thực hiện dự án là không phù hợp, cần phải có quy định yêu cầu thực hiện ĐTM theo 02 bước là ĐTM sơ bộ phục vụ phê duyệt chủ trương đầu tư và ĐTM chi tiết phục vụ phê duyệt đầu tư. Cùng với việc xây dựng ĐTM theo 02 bước, cần điều chỉnh các nội dung tương ứng về đối tượng, nội dung, thẩm quyền thẩm định ĐTM sơ bộ, các dự án ít có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thì chỉ cần ĐTM một bước trước khi cấp giấy phép xây dựng, đồng thời cần có sự lồng ghép ĐTM trong giai đoạn xem xét, thẩm định cấp phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với nhóm dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và các dự án có khả năng gây tác động lớn về môi trường (như nhiệt điện, hóa chất, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất thép…), pháp luật cần quy định các dự án này phải là đối tượng lập báo cáo ĐTM sơ bộ trước khi cấp quyết định chủ trương đầu tư.

3. Về lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường

Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, các trường hợp phải lập lại báo cáo ĐTM là tương đối nhiều và trong nhiều trường hợp không rõ ràng tiêu chí hay ranh giới giữa lập lại báo cáo ĐTM hay chấp thuận điều chỉnh báo cáo ĐTM bằng văn bản của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM, dẫn đến tùy tiện trong quá trình thực thi pháp luật.

Điểm a khoản 1 Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: “Chủ dự án phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường trong trường hợp không triển khai dự án trong thời gian 24 tháng kể từ thời điểm quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường” là chưa rõ về khái niệm “không triển khai dự án”. Trên thực tế, có nhiều dự án không triển khai xây dựng các hạng mục chính của dự án, chỉ xây dựng các hạng mục phụ trợ (như san lấp mặt bằng, xây hàng rào, văn phòng,...) nên khó xác định dự án đã triển khai hay chưa. Bên cạnh đó, có trường hợp dự án trong thời gian quá 24 tháng sau khi được phê duyệt báo cáo ĐTM chỉ tiến hành xây dựng các hạng mục phụ trợ, không tiếp tục thi công các hạng mục chính của dự án, nhưng quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM lại không quy định thời hạn phải lập lại báo cáo ĐTM hoặc thu hồi quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM, nhất là đối với trường hợp bất khả kháng như thay đổi chính sách của Nhà nước (không phải lỗi của doanh nghiệp) thì việc yêu cầu lập lại báo cáo ĐTM là bất công cho doanh nghiệp, chẳng hạn như tạm dừng cấp phép khai thác một số khoáng sản trong thời hạn nhất định.

Theo điểm b khoản 1 Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì chủ dự án phải lập lại báo cáo ĐTM trong trường hợp thay đổi địa điểm thực hiện dự án so với phương án trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Trên thực tế, những dự án lớn có nhiều hạng mục công trình và chủ dự án không thay đổi địa điểm của dự án nhưng thay đổi vị trí giữa các công trình trong nội bộ dự án nên gây ra những tác động tiêu cực lớn, thậm chí là rất lớn đối với môi trường. Vì vậy, pháp luật cần quy định bổ sung việc chủ dự án phải lập lại báo cáo ĐTM trong trường hợp thay đổi vị trí nguồn tiếp nhận chất thải của dự án (chẳng hạn như đã phê duyệt xả ra sông nhưng sau đó lại thay đổi thải ra biển) vì tác động đến môi trường là rất khác nhau.

Theo điểm c khoản 1 Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, thì chủ dự án phải lập lại báo cáo ĐTM trong trường hợp tăng quy mô, công suất, thay đổi công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Quy định về tăng quy mô, công suất hiện mang tính chất định tính và rất khó xác định dự án nào cần phải lập lại báo cáo ĐTM và dự án nào không? Việc thay đổi công nghệ là thay đổi công nghệ sản xuất của dự án hay thay đổi công nghệ xử lý chất thải của dự án, điều này chưa được Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản hướng dẫn quy định cụ thể. Vì vậy, cần xem xét quy định việc điều chỉnh, thay đổi nội dung báo cáo ĐTM liên quan đến phạm vi, quy mô, công suất, công nghệ sản xuất, các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường của dự án (nhưng không thuộc trường hợp phải lập lại báo cáo ĐTM) là một thủ tục hành chính. Mặc khác, pháp luật về bảo vệ môi trường không quy định cụ thể hồ sơ, thời hạn, trình tự và kết quả giải quyết... dẫn đến vướng mắc trong thực thi cho cả cơ quan quản lý nhà nước và chủ dự án. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định khi thẩm định báo cáo ĐTM thì có hội đồng để thẩm định, tuy nhiên, khi dự án có nội dung thay đổi lại không được đưa ra hội đồng để xem xét hoặc lấy ý kiến của chuyên gia. Vì vậy, cần phải bổ sung quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình, thời hạn... xem xét, chấp thuận của thay đổi này. Ngoài ra, pháp luật cũng không quy định rõ ranh giới nào là phải lập lại báo cáo ĐTM và chấp thuận điều chỉnh bằng văn bản nên dẫn đến nguy cơ tùy tiện trong việc quyết định. Theo đó, cần làm rõ ranh giới và chỉ nên giới hạn một số trường hợp cụ thể xem xét, chấp thuận bằng văn bản, các trường hợp còn lại thì phải lập lại báo cáo ĐTM.

Hiện nay, việc điều chỉnh chủ trương, quyết định đầu tư hay điều chỉnh giấy phép xây dựng là khá phổ biến. Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cũng chưa quy định có cần phải đánh giá tác động môi trường đối với các điều chỉnh đầu tư, điều chỉnh xây dựng hay không? Đề nghị cần tính toán các trường hợp này bởi các điều chỉnh đầu tư, xây dựng sẽ dẫn đến các tác động tiêu cực đến môi trường.

4. Về tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường

Khoản 2 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: Chủ dự án phải tổ chức tham vấn cơ quan, tổ chức, cộng đồng chịu tác động trực tiếp bởi dự án. Tuy nhiên thực tế, dự án có nhiều giai đoạn với mức độ tác động khác nhau, tới các nhóm, đối tượng khác nhau và hiện đang giao cho chủ dự án thực hiện tham vấn, xác định đối tượng tham vấn. Quy định như hiện nay gây khó khăn khi xác định đối tượng bị tác động để tổ chức tham vấn, do vậy cần bổ sung quy định về phân kỳ, phân loại tác động (loại tác động, phạm vi, thời điểm tác động...), từ đó xác định rõ các đối tượng chịu tác động để tham vấn.

Khoản 3 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: Các dự án không phải thực hiện tham vấn khi phù hợp với quy hoạch hạ tầng đã được phê duyệt ĐTM và thuộc danh mục bí mật nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn có một số dự án không xác định được địa giới hành chính, xa khu dân cư như các dự án dầu khí trên biển nên thực hiện tham vấn là không khả thi. Do vậy, cần bổ sung “các dự án không xác định được địa giới hành chính và xa khu dân cư” thuộc đối tượng không phải thực hiện tham vấn. Đồng thời, pháp luật về bảo vệ môi trường cũng chưa có tiêu chí để xác định thế nào là “ý kiến khách quan, hợp lý” mà chủ dự án cần tiếp thu và có trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện tham vấn. Cho nên, các chủ dự án có thể tiếp thu hoặc không tiếp thu các ý kiến, gây khó khăn cho việc giám sát của các tổ chức, cộng đồng chịu tác động trong quá trình thực hiện dự án. Bên cạnh đó, việc tham vấn cộng đồng và các bên liên quan trong quá trình lập báo cáo ĐMT còn mang tính hình thức, vì vậy cần quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong giải quyết các kiến nghị của cộng đồng dân cư.

5. Về nội dung chính của báo cáo đánh giá tác động môi trường

Điều 22 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về nội dung chính của ĐTM nhưng vẫn còn chung chung, giải pháp bảo vệ môi trường còn mơ hồ, chưa rõ trách nhiệm cụ thể của chủ dự án trong việc lựa chọn công nghệ, giải pháp để xử lý chất thải phát sinh kể từ khi xây dựng đến khi dự án đi vào hoạt động chính thức. Việc đánh giá môi trường tự nhiên, xã hội còn rất sơ sài và hầu như không có đánh giá tác động của dự án đến các thành phần môi trường này; đánh giá tác động đa dạng sinh học hiện đang bị xem nhẹ hoặc đang bị lảng tránh trong các báo cáo ĐTM. Mặt khác, nội dung báo cáo ĐTM hiện nay đang dùng chung cho tất cả các loại hình cơ sở là không bảo đảm tính đặc thù và tính chất ô nhiễm của các ngành công nghiệp, vì vậy, cần xem xét, quy định các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường phải có các hướng dẫn kỹ thuật riêng.

Các khoản 4, 5 và 7 Điều 22 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 là không phù hợp thực tế vì trong thời gian vừa qua, việc xác định, đánh giá, dự báo tác động đến sức khỏe cộng đồng của các dự án chưa được chú trọng, dẫn đến việc thực hiện các nội dung theo cam kết tại báo cáo ĐTM được phê duyệt chưa cao. Do vậy, để có cơ sở hướng dẫn thực hiện chế định này, các văn bản hướng dẫn Luật ra đời trong thời gian tới cần xem xét tách nội dung “nhận biết, đánh giá, dự báo tác động của các dự án và đề xuất các biện pháp giảm thiểu, quản lý rủi ro đến sức khỏe cộng đồng” thành một khoản riêng trong Điều 22 và làm rõ nhiệm vụ của Ngành Y tế đối với nội dung này. Mặt khác, cần nghiên cứu, bổ sung nội dung và đánh giá tác động môi trường đối với việc đóng cửa nhà máy hay kết thúc dự án (tương tự như dự án khai thác khoáng sản) bởi các dự án sử dụng hóa chất khi kết thúc dự án thì vấn đề môi trường sẽ được đánh giá hoặc có giải pháp thế nào cũng cần phải quy định cụ thể.

6. Về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa có quy định về tiêu chí thẩm định báo cáo ĐTM cho nên mục tiêu và chất lượng của thẩm định còn nhiều vấn đề, vì vậy rất cần xem xét, quy định rõ tiêu chí thẩm định báo cáo ĐTM, chẳng hạn như tiêu chí về công nghệ, tiêu chí về địa điểm... Thẩm định công nghệ và thẩm định báo cáo ĐTM của dự án lại đang được thực hiện độc lập theo các quy định pháp luật khác nhau (Luật Chuyển giao công nghệ và Luật Bảo vệ môi trường), trong khi đó, thẩm định công nghệ là một nội dung quan trọng, chủ yếu của thẩm định báo cáo ĐTM và cần phải có sự thống nhất và bao quát vấn đề thẩm định công nghệ trong quá trình thẩm định báo cáo ĐTM. Ngoài ra, vấn đề thẩm định các nội dung liên quan đến phóng xạ, bức xạ nên quy định trong Luật giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc có thành phần của Bộ Khoa học và Công nghệ trong hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM.

Theo khoản 2 Điều 23 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, thì bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của mình hoặc ủy quyền cho ban quản lý các khu công nghiệp thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM. Việc quy định các bộ khác có chức năng thẩm định báo cáo ĐTM dẫn đến chồng chéo trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Vì vậy, cần thống nhất giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định các báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của bộ, cơ quan ngang bộ, trừ trường hợp các bộ, cơ quan ngang bộ có bộ phận chuyên môn về môi trường (như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương...), còn các cơ quan khác thì giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh thẩm định theo phân cấp của Chính phủ. Mặt khác, cũng cần quy định các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì cơ quan nào sẽ đứng ra thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM để bảo đảm khách quan, độc lập.

Khoản 3 Điều 24 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: Trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định tổ chức khảo sát thực tế, lấy ý kiến phản biện của cơ quan, tổ chức và chuyên gia để thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, Luật không xác định rõ các trường hợp cần thiết là những trường hợp nào? Vì vậy, việc tổ chức khảo sát thực tế hay không hoàn toàn phụ thuộc vào tính chủ quan của hội đồng thẩm định, nên cũng cần quy định tiêu chí và lập danh mục dự án phải kiểm tra thực tế.

Ngoài ra, cũng cần nghiên cứu, quy định xã hội hóa việc thẩm định báo cáo ĐTM cho các tổ chức dịch vụ đủ năng lực thực hiện với những quy định cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm để bảo đảm hiệu quả và nâng cao chất lượng thẩm định, đồng thời giảm gánh nặng cho cơ quan quản lý nhà nước.

7. Về phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Khoản 2 Điều 19 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định việc lập ĐTM trong giai đoạn chuẩn bị dự án. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 25 Luật này lại quy định rằng, quyết định phê duyệt ĐTM là căn cứ để chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép xây dựng. Như vậy, hai quy định này không có sự thống nhất, dễ hiểu lầm trong việc lựa chọn thời điểm lập báo cáo ĐTM (trước khi chấp thuận chủ trương đầu tư hay trong giai đoạn từ chấp thuận chủ trương đầu tư đến cấp phép xây dựng).

Điểm đ khoản 2 Điều 25 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: “Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là căn cứ để cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với dự án không thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này”. Tuy nhiên, trên thực tế có những dự án cần phải thực hiện cả 03 việc tại 03 thời điểm khác nhau (quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư và cấp giấy phép xây dựng) thì quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường là căn cứ để thực hiện việc nào trong 03 việc nêu trên, bởi vì quy định này liên quan đến thời điểm dự án phải có báo cáo ĐTM được phê duyệt. Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là căn cứ phê duyệt chủ trương đầu tư là không khả thi, bởi thời điểm này chưa rõ nội dung của dự án một cách chi tiết, đặc biệt khó khăn với các dự án đầu tư công vì phê duyệt chủ trương chỉ với các nội dung mang tính nguyên tắc nên không biết phải thực hiện ĐTM như thế nào. Vì vậy, chỉ nên quy định báo cáo ĐTM là căn cứ để cấp phép xây dựng là phù hợp với thực tế, tuy nhiên, Luật Xây dựng lại không có quy định về vấn đề này.

Về thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM, cũng cần rà soát và điều chỉnh cho phù hợp, thống nhất thẩm quyền cấp phép khoáng sản, tài nguyên nước, biển đảo ở trung ương và địa phương. Đồng thời, cần xem xét việc tăng cường phân cấp thẩm quyền phê duyệt ĐTM cho các địa phương, qua đó tăng cường trách nhiệm của địa phương trong giám sát, thanh tra, kiểm tra các dự án trên địa bàn quản lý.

8. Về trách nhiệm của chủ đầu tư dự án sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt và trước khi đưa dự án vào vận hành

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường theo quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM (khoản 1 Điều 27). Điều này chưa hợp lý và chưa phù hợp với thực tế, vì báo cáo ĐTM là công cụ dự báo, chỉ phục vụ cho cấp phép đầu tư, xây dựng. Do vậy, chỉ cần quy định trách nhiệm của chủ đầu tư phải thực hiện theo giấy xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường là đủ. Các công trình xử lý chất thải sẽ bị xuống cấp và việc cải tạo, bổ sung các công trình này thường xuyên diễn ra, do đó, các công trình bảo vệ môi trường trong giấy xác nhận theo đó cũng sẽ không còn phù hợp thực tế. Vì vậy, cần quy định việc cấp lại giấy xác nhận để đảm bảo các công trình bảo vệ môi trường nêu trong giấy này là có thật và đúng với thực tế hoạt động của cơ sở.

9. Về trách nhiệm của cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa quy định về giám sát sau phê duyệt ĐTM (hậu thẩm), nên các cơ quan quản lý nhà nước không có căn cứ để tổ chức kiểm tra, giám sát. Pháp luật cần quy định rõ thẩm quyền, nội dung của hoạt động hậu thẩm để kịp thời phát hiện hành vi không tuân thủ của chủ dự án và điều chỉnh các báo cáo ĐTM nếu cần thiết, vì đây là giai đoạn dễ gây ra sự cố môi trường. Công tác kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của dự án là tập hợp các nội dung công việc kỹ thuật phức tạp và cần có đủ thời gian để thực hiện, nên việc quy định cấp giấy xác nhận trong thời hạn 15 ngày (trường hợp không cần lấy mẫu phân tích) và không quá 30 ngày (trường hợp cần lấy mẫu phân tích) tại khoản 2 Điều 28 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 là chưa phù hợp. Luật cần quy định theo hướng tất cả các dự án đều phải lấy mẫu phân tích để đánh giá hiệu quả của các công trình xử lý chất thải và thời hạn cấp giấy xác nhận là 30 ngày.

Từ những phân tích ở trên cho thấy, trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, cần tiếp tục nghiên cứu, quy định cụ thể hơn về ĐTM giúp cho các cơ quan quản lý cũng như các doanh nghiệp, người dân dễ dàng trong triển khai thực hiện, góp phần bảo vệ môi trường trong lành, hướng tới xây dựng một đất nước phát triển bền vững.

ThS. Lê Văn Hợp

Viện Nghiên cứu pháp luật và kinh tế Asean

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: