Thứ sáu 01/05/2026 16:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại

Bài viết nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phân tích những điểm chưa hợp lý tại Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 (quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm), qua đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

1. Đặt vấn đề

Về nguyên tắc, khi hợp đồng được ký kết thì các bên sẽ thiện chí và nỗ lực để thực hiện hợp đồng. Nhưng trong thực tế, có nhiều trường hợp hợp đồng kinh doanh, thương mại không được thực hiện đúng với thỏa thuận, thậm chí còn có thể gây thiệt hại cho các chủ thể hợp đồng. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng cũng có lỗi và trong những trường hợp đó họ được miễn trách nhiệm pháp lý. Quy định này góp phần tích cực trong bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng kinh doanh, thương mại với những sự việc xảy ra không phụ thuộc vào ý chí của các bên. Mặc dù vậy, quá trình áp dụng những quy định loại trừ trách nhiệm cho chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng cho thấy một số bất cập. Do đó, việc nghiên cứu, trao đổi và đề xuất giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại là thực sự cần thiết trong thực tế.

2. Khái quát về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại

Từ khái niệm hợp đồng nói chung được quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, có thể hiểu: Hợp đồng kinh doanh, thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên về kinh doanh, thương mại. Tức là, trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại, cá nhân, tổ chức có giao kết các hợp đồng (mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, chuyển giao công nghệ...) với nhau nhằm hướng tới những lợi ích nhất định. Tất nhiên, khi giao kết hợp đồng, hầu hết các bên đều mong muốn sẽ thực hiện đúng hợp đồng và được hưởng lợi nhuận, đạt được mục đích ban đầu của các bên trước khi ký kết. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng không phải lúc nào cũng thuận lợi, có nhiều trường hợp hợp đồng không được thực hiện như những gì đã thỏa thuận. Nguyên nhân của tình trạng đó rất đa dạng (bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan), trong đó có những nguyên nhân hoàn toàn không do lỗi của chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng. Do đó, pháp luật đã loại trừ trách nhiệm cho những chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng mà họ không có lỗi. Tức là, có những chủ thể mặc dù không thực hiện đúng hợp đồng nhưng không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Thông thường, để xác định một chủ thể có được miễn trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng hay không thì cần xem xét các yếu tố như: (i) Hợp đồng giữa hai bên là hợp pháp; (ii) Bên không thực hiện đúng hợp đồng chứng minh được mình không có lỗi.

Thực chất, việc xem xét hợp đồng hợp pháp không quá khó khăn, do đó, để chứng minh một chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng vẫn được miễn trách nhiệm pháp lý thì cần tập trung chứng minh lỗi của chủ thể đó. Theo quan điểm thông thường, lỗi là khái niệm dùng để chỉ những sai sót của sự vật, hiện tượng hoặc trong cách hành xử[1]. Trong khoa học pháp lý, lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của một người đối với hành vi trái pháp luật của họ và đối với hậu quả của hành vi đó. Một người bị coi là có lỗi khi thực hiện một hành vi trái pháp luật nếu đó là kết quả của sự tự lựa chọn, quyết định và thực hiện của chính chủ thể trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn, quyết định và thực hiện một xử sự khác phù hợp với các quy định của pháp luật[2]. Tức là, nếu chủ thể hợp đồng vẫn có khả năng lựa chọn xử sự khác ngoài xử sự không thực hiện đúng hợp đồng mà không lựa chọn thì bị coi là có lỗi và ngược lại, nếu không có khả năng lựa chọn xử sự nào khác thì được coi là không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình.

3. Đánh giá quy định pháp luật về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại

3.1. Về tên gọi

Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 xác định, phạm vi miễn trách nhiệm là các “hành vi vi phạm” hợp đồng kinh doanh, thương mại. Đồng thời, tại khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Vi phạm hợp đồng là một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của luật này”. Theo khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Có lẽ quan điểm và cách tiếp cận về vi phạm hợp đồng của Luật Thương mại năm 2005 có sự khác biệt với quan điểm và cách tiếp cận những vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật nói chung. Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, một hiện tượng xã hội bị coi là vi phạm pháp luật khi có đủ bốn dấu hiệu: (i) Là hành vi xác định của con người; (ii) Tính trái pháp luật của hành vi, xâm hại đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ; (iii) Tính có lỗi; (iv) Chủ thể thực hiện hành vi phải có năng lực trách nhiệm pháp lý[3]. Như vậy, khi một chủ thể có hành vi không thực hiện đúng hợp đồng kinh doanh, thương mại mà bị coi là vi phạm pháp luật tức là hành vi của chủ thể đó có đủ bốn dấu hiệu nói trên (trong đó có dấu hiệu lỗi). Trong khi đó, có nhiều trường hợp được liệt kê ở Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 là những trường hợp chủ thể đó không có lỗi. Cụ thể, đó là những trường hợp sau: Xảy ra sự kiện bất khả kháng; hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng (tức là, chỉ có trường hợp đầu tiên “xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận” là bên không thực hiện đúng hợp đồng có thể có lỗi hoặc không có lỗi còn ba trường hợp sau chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng luôn không có lỗi). Do đó, tác giả cho rằng, việc đặt tên cho Điều 294 trong Luật Thương mại năm 2005 chưa thực sự phù hợp với bản chất các quy định tại điều luật này.

3.2. Về các trường hợp được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

- Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận: Khi giao kết hợp đồng các bên có quyền tự do thỏa thuận những điều khoản trong đó có các trường hợp được miễn trách nhiệm. Các trường hợp miễn trách nhiệm do các bên thỏa thuận có thể được pháp luật quy định hoặc không. Mặc dù là trường hợp nào thì sự thỏa thuận về miễn trách nhiệm không được trái pháp luật. Do đó, Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 chưa xác định cụ thể yêu cầu thỏa thuận miễn trách nhiệm không được trái pháp luật của các bên là một điểm thiếu sót.

- Xảy ra sự kiện bất khả kháng: Trường hợp này không cần thiết phải có thỏa thuận của các bên, khi xảy ra sự kiện bất khả kháng dẫn đến hành vi không thực hiện đúng hợp đồng thì chủ thể đó vẫn được miễn trách nhiệm. Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ thế nào là sự kiện bất khả kháng thì phải dẫn chiếu đến quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Tác giả cho rằng, cách lý giải về sự kiện bất khả kháng chưa thực sự đầy đủ cho nên khi áp dụng trên thực tế sẽ khó khăn. Điều này cũng đồng quan điểm với ý kiến cho rằng, việc chứng minh có tồn tại sự kiện bất khả kháng thuộc về nghĩa vụ của bên vi phạm hợp đồng, nhưng việc bên đó được hay không được miễn trừ lại phụ thuộc vào bên bị vi phạm hoặc cơ quan chức năng có chấp nhận nó là sự kiện bất khả kháng hay không[4].

- Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia: Tương tự như nhận xét về tên gọi của Điều 294 Luật Thương mại năm 2005, tác giả cho rằng, việc quy định “hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia” là chưa phù hợp bởi nếu chủ thể vi phạm hợp đồng thì có nghĩa là chủ thể đã có lỗi. Nếu nguyên nhân của việc không thực hiện đúng hợp đồng là hoàn toàn do lỗi của bên còn lại thì không thể coi hành vi không thực hiện đúng hợp đồng là vi phạm hợp đồng (vi phạm pháp luật). Nội hàm của điều khoản này là để chỉ việc không thực hiện đúng hợp đồng của một bên có nguyên nhân hoàn toàn từ lỗi của bên còn lại. Ví dụ: Bên A đã hẹn giao hàng cho bên B vào 10 giờ một ngày cụ thể tại trụ sở chính của bên B nhưng do bên B không phân công nhiệm vụ người trực để nhận hàng nên bên A không thể giao hàng đúng thời hạn. Trên thực tế, chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng cần phải chứng minh lỗi của bên kia trong trường hợp này phải là nguyên nhân trực tiếp và là tiền đề của việc không thực hiện nghĩa vụ.

- Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng: Quyết định của cơ quan nhà nước phải làm phát sinh các điều kiện mới tác động trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng của các bên. Chính vì vậy, một bên chủ thể không thể thực hiện đúng như những gì đã thỏa thuận. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đồng nhất quan điểm cho rằng, về bản chất, trường hợp này cũng là trường hợp miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng. Nhưng khác với trường hợp miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng, trường hợp này không phải xem xét tới tính khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được của quyết định của cơ quan nhà nước[5].

Thông thường, các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều vì mục đích liên quan đến an ninh quốc gia, lợi ích công cộng nên trong một số trường hợp, các cá nhân, tổ chức phải hy sinh tư lợi để cùng Nhà nước thực hiện các nghĩa vụ vì lợi ích chung. Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng mua 10 tấn gạo của Công ty B và hai bên hẹn 08 giờ ngày 22/5/2023, Công ty B sẽ chuyển gạo đến trụ sở của Công ty A. Tuy nhiên, đến ngày 22/5/2023, vì thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về trưng mua gạo nhằm cứu trợ cho nhân dân vùng bị lũ lụt nên Công ty B không có gạo để giao cho Công ty A. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, Luật Thương mại năm 2005 chưa tính đến trường hợp sau khi Công ty B thực hiện nghĩa vụ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì vẫn còn đủ số gạo để giao cho Công ty A nhưng Công ty B không giao gạo cho Công ty A thì có bị coi là vi phạm hợp đồng không. Để vừa bảo vệ lợi ích công cộng, vừa bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng kinh doanh, thương mại thì cần thiết phải quy định chi tiết về nội dung này.

3.3. Nghĩa vụ thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm

Chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm phải có nghĩa vụ thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. Như vậy, Luật Thương mại năm 2005 không xác định chính xác thời điểm mà bên không thực hiện đúng hợp đồng phải thông báo về trường hợp được miễn trách nhiệm. Với việc sử dụng cụm từ “thông báo ngay” thì có thể hiểu đó là thời điểm xảy ra sự kiện miễn trách nhiệm. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp vì lý do trở ngại khách quan mà chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng không thể thông báo ngay. Ví dụ: Công ty A chuyển hàng hóa cho Công ty B như đã thỏa thuận trong hợp đồng nhưng do gặp mưa to bất ngờ nên xe hàng không thể di chuyển và giao hàng đúng thời hạn. Trong trường hợp này vì thời tiết xấu nên sóng điện thoại không tốt, tài xế vận chuyển hàng không thể gọi điện thông báo tình trạng đó.

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định bên không thực hiện đúng hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, nếu hành vi không thực hiện đúng hợp đồng hoàn toàn do lỗi của bên kia thì khi chứng minh nếu bên kia không hợp tác sẽ gây khó khăn cho quá trình chứng minh. Trong khi đó, khi ở trường hợp này, quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng kinh doanh, thương mại có tính đối lập. Nếu bên không thực hiện đúng hợp đồng chứng minh được hành vi không thực hiện đúng hợp đồng của mình là hoàn toàn do lỗi của bên kia thì bên còn lại trong hợp đồng không được yêu cầu bồi thường thiệt hại.

4. Hoàn thiện quy định pháp luật về loại trừ trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng

Thứ nhất, sửa đổi tên gọi của Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 cho phù hợp với nội hàm các quy định.

Theo đó, Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 sẽ có tên gọi là “Miễn trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng”. Bởi vì, như đã phân tích trong bài, nếu là vi phạm hợp đồng thì tức là chủ thể đã có lỗi và phải chịu trách nhiệm pháp lý. Để không phải chịu trách nhiệm pháp lý thì chủ thể phải thuộc trường hợp không có lỗi. Do đó, các hành vi mà chủ thể thực hiện chỉ là hành vi không thực hiện đúng hợp đồng (tức là không thực hiện đúng những gì đã thỏa thuận về đối tượng, giá cả, thời gian thực hiện, phương thức thực hiện...) mà không phải là hành vi vi phạm hợp đồng. Việc sửa đổi tên gọi của Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 như vậy bảo đảm tên gọi và bản chất các quy định có sự thống nhất với nhau.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về các trường hợp được miễn trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng.

Bổ sung yêu cầu về tính hợp pháp của thỏa thuận miễn trách nhiệm. Theo đó, việc thỏa thuận trường hợp nào không thực hiện đúng hợp đồng mà được miễn trách nhiệm là sự tự do của các bên nhưng phải bảo đảm thỏa thuận đó không được trái các nguyên tắc cơ bản của pháp luật.

Giải thích rõ hơn về sự kiện bất khả kháng nhằm tạo thuận lợi, thống nhất cho quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể. Theo đó, sự kiện bất khả kháng có thể là các hiện tượng thiên nhiên như hỏa hoạn, bão, động đất, lũ lụt, sóng thần… hoặc các hiện tượng kinh tế - xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của Nhà nước… Nhưng để khẳng định là sự kiện bất khả kháng thì cần phải bảo đảm các yêu cầu sau: (i) Có tính chất bất thường mà các bên không thể lường trước; (ii) Là nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện đúng hợp đồng; (iii) Xảy ra khi các bên đã giao kết hợp đồng; (iv) Bên không thực hiện đúng hợp đồng đã nỗ lực khắc phục nhưng không được.

Sử dụng từ ngữ phù hợp hơn cho trường hợp miễn trách nhiệm khi hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia. Theo đó, nên sử dụng cụm từ “hành vi không thực hiện đúng hợp đồng của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia” thay vì cách sử dụng cụm từ “hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia” như điểm c khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 quy định.

Đối với trường hợp được miễn trách nhiệm do bên không thực hiện đúng hợp đồng vì phải thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng thì cần thiết phải có hướng dẫn cụ thể về quyết định nào của cơ quan nhà nước sẽ trở thành căn cứ cho việc miễn trách nhiệm. Việc hướng dẫn cụ thể không chỉ giúp các chủ thể trong quan hệ hợp đồng hiểu rõ và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ mà còn nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi ban hành các quyết định.

Ngoài ra, pháp luật cần quy định rõ trường hợp chủ thể hợp đồng sau khi thực hiện nghĩa vụ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà vẫn còn khả năng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng nhưng không thực hiện thì đó là trường hợp vi phạm hợp đồng.

Thứ ba, hoàn thiện các quy định về thực hiện nghĩa vụ thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm.

Pháp luật về thương mại cần quy định rõ thời gian mà bên không thực hiện đúng hợp đồng phải thực hiện nghĩa vụ thông báo cho bên còn lại. Theo đó, thời gian hợp lý nhất là khi xảy ra trường hợp được miễn trách nhiệm thì bên không thực hiện đúng hợp đồng phải thông báo luôn cho bên còn lại. Nếu vì lý do khách quan mà không thể thông báo vào thời điểm đó thì phải thông báo ở thời điểm chấm dứt cản trở khách quan. Quy định như vậy vừa giúp nâng cao trách nhiệm của các chủ thể, vừa tạo điều kiện để các chủ thể thực hiện nghĩa vụ thông báo thuận lợi hơn.

Pháp luật đưa ra yêu cầu bắt buộc bên còn lại trong hợp đồng phải hợp tác, cung cấp thông tin, dữ liệu để bên không thực hiện đúng hợp đồng chứng minh họ thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm. Nếu bên không thực hiện đúng hợp đồng chứng minh được bên còn lại cố ý không cung cấp thông tin, dữ liệu thì không phải chịu trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng.

Quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại giúp các chủ thể hiểu rõ giới hạn trách nhiệm và là tiền đề để họ thực hiện nghiêm chỉnh trách nhiệm đó nhằm bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên trong quan hệ hợp đồng kinh doanh, thương mại. Do vậy, Luật Thương mại năm 2005 cần đổi tên của Điều 294 cho phù hợp với bản chất của các quy định. Ngoài ra, pháp luật cần bổ sung yêu cầu về tính hợp pháp của thỏa thuận miễn trách nhiệm, quy định rõ hơn về sự kiện bất khả kháng, quy định cụ thể về trách nhiệm thông báo và chứng minh của chủ thể không thực hiện đúng hợp đồng và trách nhiệm hợp tác của bên còn lại trong quan hệ hợp đồng kinh doanh, thương mại.

Nguyễn Thị Thủy

Học viện Chính trị khu vực II

[1]. Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 581 - 582.

[2]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, tr. 423 - 424.

[3]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), tlđd, tr. 421.

[4]. Đặng Hồng Dương (2021), “Các trường hợp miễn trách nhiệm với hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại”, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/cac-truong-hop-mien-trach-nhiem-voi-hanh-vi-vi-pham-hop-dong-trong-thuong-mai1631637231.html.

[5]. ThS. Nguyễn Văn Hùng, “Miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng do phải thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 17 (465), tháng 9/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 399), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: