Thứ năm 21/05/2026 23:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện - Thực trạng và giải pháp

Bài viết phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện, chỉ ra một số hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.

1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022 (Luật Sở hữu trí tuệ) đã mở rộng phạm vi cho phép việc sử dụng tác phẩm của thư viện. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành, đặc biệt, trong bối cảnh phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với việc hội nhập quốc tế sâu, rộng của Việt Nam khi tham gia vào nhiều điều ước quốc tế quan trọng về sở hữu trí tuệ đã cho thấy một số vướng mắc, bất cập.

1.1. Về điều kiện chung áp dụng ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện

Vì các quy định ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả (QTG) trong hoạt động thư viện ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu QTG nên việc sử dụng tác phẩm trong thời hạn bảo hộ mà không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện chung theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Theo đó, liên quan đến hoạt động chuyên môn của mình, các thư viện tại Việt Nam đang gặp một số vướng mắc như sau:

Thứ nhất, đối tượng được sử dụng phải là tác phẩm đã công bố. Theo giải thích tại khoản 8 Điều 3 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26/4/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về QTG, quyền liên quan (Nghị định số 17/2023/NĐ-CP), tác phẩm được coi là đã công bố phải thỏa mãn các yếu tố:

- Phải có việc phát hành bản sao tác phẩm đến công chúng. Trong đó, phát hành là “việc thông qua một hoặc nhiều hình thức mua, bán, phân phát, tặng, cho, cho thuê, cho mượn, xuất khẩu, nhập khẩu, hội chợ, triển lãm để đưa xuất bản phẩm đến người sử dụng”[1]. Như vậy, tác phẩm được coi là công bố khi các bản sao được đưa đến công chúng thông qua đa dạng các hình thức như mua, bán, phân phát, tặng, cho, hội chợ, triển lãm... để người sử dụng có nhu cầu có thể tiếp cận được với tác phẩm. Tuy nhiên, một số thư viện tại Việt Nam đang chưa xác định rõ việc “phát hành” trong khái niệm công bố tác phẩm có đồng nhất với thuật ngữ “phát hành” trong Luật Xuất bản không? Việc số hóa các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án của người học và cung cấp cho bạn đọc có buộc phải tiến hành thủ tục xin cấp giấy phép xuất bản và thư viện thực hiện việc công bố có buộc phải xin cấp phép để có tư cách nhà xuất bản theo Luật Xuất bản, có phải chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền không? Bên cạnh đó, việc chủ sở hữu QTG đăng một tác phẩm lên các trang mạng xã hội và để chế độ công khai đã được coi là công bố tác phẩm để thư viện sử dụng hay chưa? Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định giải thích cụ thể thế nào là công chúng, dẫn đến những ý kiến chưa thống nhất về việc liệu phát hành bản sao tác phẩm đến các thành viên trong một câu lạc bộ, nhóm bạn bè, người quen hay các sinh viên, giảng viên của một trường đại học có được coi là công bố tác phẩm đến công chúng hay chưa?

- Số lượng bản sao đưa đến công chúng phải hợp lý, đủ để công chúng tiếp cận được tùy theo bản chất của tác phẩm. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn cụ thể về việc xác định nội dung này nên các thư viện còn lúng túng trong quá trình xem xét việc sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh, nhà khoa học in và nộp các sản phẩm sáng tạo của họ (khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án) theo số lượng cơ sở đào tạo, đơn vị đặt hàng, giao nhiệm vụ yêu cầu, ví dụ, 03 - 05 bản giấy và 01 bản sao điện tử đã là số lượng hợp lý để được coi là công bố tác phẩm hay chưa? Pháp luật hiện hành chưa xây dựng các tiêu chí, nguyên tắc để xác định số lượng bản sao hợp lý, chưa xác định cơ quan, tổ chức nào sẽ quyết định số lượng này, cũng như cơ chế giải quyết nếu có tranh chấp phát sinh dẫn đến những tranh luận trong thực tiễn.

- Việc phát hành phải được sự đồng ý của chủ sở hữu QTG nhằm bảo đảm việc công bố được thực hiện dưới sự kiểm soát của chủ sở hữu QTG bởi hoạt động này có thể ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, danh tiếng của chủ thể quyền, cũng như là tiền đề để thực hiện các quyền tài sản, trực tiếp tác động đến việc khai thác các sản phẩm sáng tạo. Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định cụ thể về hình thức ghi nhận sự đồng ý của chủ sở hữu QTG đối với việc công bố dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất trong thực tế. Cụ thể, sự đồng ý này phải được thể hiện dưới hình thức văn bản độc lập, được công chứng, xác thực hay có thể là một nội dung trong thỏa thuận bằng văn bản của các bên; sự cho phép chỉ cần thể hiện bằng lời nói hoặc chủ sở hữu QTG biết việc chủ thể khác công bố nhưng im lặng, không phản đối được coi là đồng ý.

Thứ hai, chủ thể sử dụng tác phẩm phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. Đây là nghĩa vụ xuất phát từ quyền nhân thân mà pháp luật trao cho tác giả quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ là tác giả “được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng”. Tuy nhiên, quy định hiện hành chưa thể hiện rõ yêu cầu thông tin về tên tác giả ở mức độ nào (nêu tên thật hay bút danh; chỉ nêu tên gọi, tên đệm và tên gọi hay nêu đầy đủ họ và tên), nêu chính xác như tên mà tác giả sử dụng khi công bố, khai thác tác phẩm hay có thể nêu rút gọn, viết tắt; cách thức cung cấp thông tin phải đủ rõ ràng để công chúng có thể nhận biết; mức độ chính xác của thông tin về nguồn gốc, xuất xứ tác phẩm, cũng như chưa quy định đối với trường hợp không xác định được tác giả tại thời điểm sử dụng tác phẩm hoặc sử dụng tác phẩm có quá nhiều tác giả như cuốn bách khoa toàn thư, đại từ điển... mà không xác định được nội dung được sử dụng là của tác giả nào.

Thứ ba, pháp luật hiện hành chưa có quy định yêu cầu tác phẩm được sử dụng trong các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG phải là tác phẩm tiếp cận từ nguồn hợp pháp như sách được xuất bản hợp pháp mà không phải photo trái phép.

1.2. Về ngoại lệ sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản, với điều kiện bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ

Thứ nhất, số lượng được phép sao chép là không quá 03 bản. So với quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về QTG, quyền liên quan chỉ cho phép sao chép không quá 01 bản, quy định trong Nghị định số 17/2023/NĐ-CP có mở rộng số lượng được phép sao chép không quá 03 bản nhằm phù hợp với yêu cầu của thực tiễn hoạt động của các thư viện trên cơ sở bảo đảm sự cân bằng với lợi ích của chủ thể QTG. Tuy nhiên, pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể 03 bản sao này chỉ là 03 bản sao hữu hình tác phẩm hay có thể là 02 bản sao hữu hình và 01 bản sao điện tử. Việc hạn chế này có lẽ chỉ phù hợp áp dụng đối với các bản sao hữu hình tác phẩm trong khi rất khó kiểm soát số lượng này đối với các bản sao tồn tại dưới dạng điện tử. Hơn nữa, trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển, các bản sao điện tử cũng có thể phát sinh những bất cập như sự lỗi thời của phần mềm, sự lạc hậu của phần cứng… nên nếu chỉ cho phép sao chép không quá 03 bản thì cũng gặp khó khăn trong bảo tồn vì không được sao lưu, cập nhật các định dạng mới.

Thứ hai, bản sao được tạo ra trong trường hợp này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ. Quy định này đặt ra yêu cầu về hình thức là các bản sao phải được ghi ký hiệu, đóng dấu là bản lưu trữ và chỉ một số đối tượng nhất định đáp ứng điều kiện được tiếp cận. Theo đó, quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về vấn đề này có dẫn chiếu đến pháp luật về thư viện, lưu trữ, tuy nhiên, việc xác định nguyên tắc, danh mục, đối tượng, quy trình thực hiện nội dung này chưa được đề cập cụ thể trong pháp luật về thư viện, lưu trữ. Điều này có thể dẫn đến sự tùy tiện của các thư viện khi xác định đối tượng tiếp cận giới hạn, cũng như nảy sinh những vướng mắc trong quá trình triển khai trên thực tế.

1.3. Về ngoại lệ sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép cho người khác phục vụ nghiên cứu, học tập

Thứ nhất, hành vi sử dụng chỉ giới hạn ở việc sao chép hợp lý một phần tác phẩm mà không được sao chép toàn bộ tác phẩm. Việc xác định mức độ sao chép hợp lý quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 25 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP dựa trên số lượng là không quá 01 bản và đối với tác phẩm tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết, tỷ lệ tối đa không quá 10% tổng số trang hoặc tổng đơn vị lưu trữ (bytes), tổng số từ của ấn bản, độ dài nội dung của ấn bản đối với tác phẩm được cung cấp dưới dạng ấn bản điện tử không chia trang. Đây là cơ sở để các thư viện thống nhất đưa vào nội quy và áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, hướng dẫn này chỉ áp dụng đối với tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết mà chưa đề cập đến các loại hình tác phẩm khác nên dẫn đến khó khăn trong việc xác định tỷ lệ đối với thư viện của các cơ sở quản lý chủ yếu tác phẩm điện ảnh, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu.

Thứ hai, về cách thức thực hiện, thư viện có thể sao chép bằng thiết bị sao chép nhưng thiết bị sao chép đặt trong khuôn viên thư viện phải kèm theo thông báo về việc tạo bản sao phải tuân thủ các quy định của pháp luật về QTG[2]. Theo tác giả, việc áp dụng quy định này cũng làm phát sinh nhiều thủ tục, tốn thời gian và chưa tạo thuận lợi cho bạn đọc khi có nhu cầu sao chép tài liệu.

1.4. Về ngoại lệ sao chép hoặc truyền tác phẩm được lưu giữ để sử dụng liên thông thư viện thông qua mạng máy tính, với điều kiện số lượng người đọc tại cùng một thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ, trừ trường hợp được chủ sở hữu quyền cho phép và không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cung cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số

Việc sử dụng tác phẩm trong trường hợp này phải áp dụng các biện pháp để ngăn chặn hành vi xâm phạm QTG và không được cung cấp cho công chúng bản sao tác phẩm dưới dạng kỹ thuật số bên ngoài khuôn viên của thư viện sử dụng hợp pháp bản sao đó[3]. Quy định này là cần thiết trong bối cảnh nhu cầu học tập, tiếp cận thông tin dưới dạng kỹ thuật số ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của việc học tập từ xa, học trực tuyến trên nền tảng mạng thông tin điện tử, phù hợp với xu thế về “chuyển đổi số” trong Ngành Thư viện. Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định giải thích cụ thể về cách thức xác định số lượng người đọc chỉ là những người đọc trên hệ thống liên thông thư viện hay cả những người đọc trực tiếp tại phòng đọc của thư viện, người đọc đang mượn tài liệu ra khỏi khuôn viên thư viện; chưa hướng dẫn việc xác định số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ dẫn đến nhiều cách hiểu trên thực tế. Do vậy, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này làm cơ sở cho các thư viện triển khai thống nhất các hoạt động nghiệp vụ, thiết kế hoặc đặt hàng thiết kế máy móc, phần mềm tra soát, cấp phép và quản lý việc sử dụng tác phẩm của bạn đọc.

2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện

Thứ nhất, xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của hành vi công bố, việc giải thích thuật ngữ “công bố tác phẩm” cần được hiểu là việc cung cấp bản sao tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào với số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu tiếp cận hợp lý của công chúng, tùy theo bản chất của tác phẩm, trên cơ sở sự đồng ý của chủ sở hữu QTG bằng văn bản. Cách giải thích này phản ánh bản chất của hành vi công bố, làm rõ sự khác biệt giữa công bố tác phẩm với phát hành các xuất bản phẩm theo quy định của Luật Xuất bản, giúp các thư viện thống nhất áp dụng trong thực tiễn, giảm tải các thủ tục hành chính xin cấp phép xuất bản, có căn cứ xác định việc đăng tải tác phẩm lên các trang thương mại điện tử, trang mạng xã hội ở chế độ công chúng có thể tiếp cận được thì được coi là công bố tác phẩm và làm sáng tỏ hình thức thể hiện ý chí của chủ sở hữu QTG là bằng văn bản. Điều này phù hợp với nhận thức, áp dụng trong thực tiễn về hành vi công bố, cũng như tương thích với quy định của khoản 3 Điều 3 Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Bên cạnh đó, với việc sử dụng cụm từ “số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu tiếp cận hợp lý của công chúng” thay cho “số lượng hợp lý” trong khái niệm công bố tác phẩm, việc xác định số lượng đủ để coi là công bố tác phẩm sẽ rõ ràng và khách quan hơn dựa vào bản chất của loại hình tác phẩm, đặc thù trong phương thức tiếp cận tác phẩm, cũng như phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 3 Công ước Berne và pháp luật của một số quốc gia như Thụy Điển, Hoa Kỳ[4]. Để xác định phạm vi công chúng được tiếp cận tác phẩm, phù hợp với quy định của một số quốc gia giải thích “công chúng” là “những thành viên của cộng đồng không phải chịu bất kỳ hạn chế rõ ràng hay ngụ ý nào liên quan đến việc tiết lộ nội dung của tác phẩm đó”[5], có thể đưa ra giải thích: “Công chúng là một tập hợp người không thuộc phạm vi những người thân thích trong gia đình, những người thân quen xã hội bình thường của họ và không phải chịu bất kỳ hạn chế nào liên quan đến việc tiết lộ thông tin về tác phẩm”.

Thứ hai, bổ sung quy định trong văn bản hướng dẫn yêu cầu cụ thể về nghĩa vụ nêu thông tin về tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ tác phẩm trong các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG, như chủ thể sử dụng phải nêu chính xác, rõ ràng thông tin về tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm nếu những thông tin này xuất hiện trên tác phẩm, cũng như cách thức ghi thông tin trong trường hợp không xác định được các thông tin đó tại thời điểm sử dụng tác phẩm hoặc sử dụng tác phẩm có quá nhiều tác giả mà không thể xác định nội dung được sử dụng là của chủ thể nào, chế tài đối với từng hành vi vi phạm tương ứng. Việc thiết kế quy định này có thể tham khảo ghi nhận trong các điều ước quốc tế, pháp luật của một số quốc gia, như khoản 3 Điều 10 Công ước Berne quy định, khi sử dụng tác phẩm trong các trường hợp được nêu tại khoản 1 và khoản 2, chủ thể sử dụng phải đề cập đến nguồn gốc và tên của tác giả nếu những thông tin này xuất hiện trên tác phẩm. Ngoài ra, khoản 1 Điều 10 bis Công ước Berne cũng quy định nguồn gốc của tác phẩm luôn phải được chỉ dẫn một cách rõ ràng; pháp luật quốc gia nơi bảo hộ tác phẩm sẽ xác định các hậu quả pháp lý khi chủ thể sử dụng vi phạm nghĩa vụ này. Bên cạnh đó, quy định tại các mục a, c, d, f khoản 3 Điều 5 Chỉ thị 2001/29/EC ngày 22/5/2001 của Nghị viện và Ủy ban châu Âu về hài hòa hóa những khía cạnh nhất định của QTG, quyền liên quan trong xã hội thông tin có đề cập đến yêu cầu chủ thể sử dụng phải ghi rõ nguồn, bao gồm tên tác giả, trừ khi không thể thực hiện được điều này...

Thứ ba, bổ sung quy định tác phẩm được sử dụng trong các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG phải là tác phẩm tiếp cận từ nguồn hợp pháp để bảo đảm sự tôn trọng thành quả sáng tạo của chủ thể QTG, việc sử dụng bảo đảm phản ánh chính xác hình thức thể hiện của tác phẩm, không gây phương hại đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu QTG, không ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm. Ví dụ, việc sao chép phải được tiến hành dựa trên một cuốn sách có bản quyền do chủ sở hữu QTG đưa ra thị trường mà không phải là sao chép từ 01 bản photo tác phẩm trái phép.

Thứ tư, bỏ quy định giới hạn số lượng 03 bản sao được phép trong trường hợp ngoại lệ sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản trong Nghị định số 17/2023/NĐ-CP nhằm thống nhất với quy định tại điểm e khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ không quy định về giới hạn số lượng bản sao, giảm tải áp lực cho hệ thống kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng tác phẩm của thư viện, về bản chất, việc sao chép để bảo quản này không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại bất hợp lý đến lợi ích của chủ sở hữu QTG. Việc giám sát mức độ sao chép với sự hỗ trợ của các phần mềm, thiết bị kỹ thuật và giới hạn về tính chất, mục đích sử dụng có lẽ cần thiết và khả thi hơn việc giới hạn một cách cứng nhắc về số lượng bản sao được phép sao chép chỉ là 03 bản.

Thứ năm, bổ sung quy định về việc xác định nguyên tắc, danh mục, đối tượng, quy trình thực hiện lưu trữ, điều kiện cho phép tiếp cận các bản sao lưu trữ trong trường hợp ngoại lệ sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản nhằm thống nhất áp dụng trên thực tế, thể hiện được đặc trưng của hoạt động thư viện, lưu trữ liên quan đến sở hữu trí tuệ, thuận tiện cho các chủ thể áp dụng nghiên cứu, áp dụng.

Thứ sáu, cần xây dựng quy định hướng dẫn thế nào là “sao chép hợp lý một phần tác phẩm” trong văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về QTG. Theo đó, việc xác định thế nào là hợp lý cần được xây dựng trên cơ sở định tính và định lượng đối với từng nhóm tác phẩm dựa trên việc đánh giá đặc trưng của từng nhóm, bản chất của phần được sao chép, tần suất sao chép, mức độ sao chép có làm ảnh hưởng đến việc khai thác tác phẩm của chủ thể quyền hay làm giảm sút doanh thu của chủ sở hữu QTG không. Do vậy, việc sao chép một phần tác phẩm viết, tác phẩm thể hiện bằng lời nói, tác phẩm báo chí, tác phẩm âm nhạc sẽ khác với sao chép một phần tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh và khác với sao chép một phần tác phẩm nhiếp ảnh. Hiện nay, hành vi sao chép hợp lý tác phẩm được hướng dẫn tại Điều 25 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP chỉ áp dụng đối với tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết nên cần bổ sung nội dung đối với các loại hình tác phẩm khác được áp dụng ngoại lệ để tránh những hiểu lầm trong thực tiễn. Cụ thể, đối với các loại hình tác phẩm khác ngoài tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết, việc sao chép được coi là hợp lý khi thỏa mãn điều kiện: Việc sao chép chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại; việc sao chép phải phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để sao chép. Bên cạnh đó, việc xác định tỷ lệ được phép sao chép nên chỉ tính dựa trên phần trọng yếu, phần có tính nguyên gốc, thể hiện dấu ấn sáng tạo của tác giả mà không phải dựa trên toàn bộ nội dung của tác phẩm./.

ThS. NCS. Phạm Minh Huyền

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Khoản 3 Điều 4 Luật Xuất bản năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

[2]. Khoản 4 Điều 29 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP.

[3]. Khoản 3 Điều 29 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP.

[4]. Điều 8 Luật Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật của Thụy Điển; Điều 101 Luật Bản quyền Hoa Kỳ.

[5]. Https://www.copyright.gov/comp3/chap1900/ch1900-publication.pdf, p. 5.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: