Thứ ba 13/01/2026 13:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện - Thực trạng và giải pháp

Bài viết phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện, chỉ ra một số hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.

1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022 (Luật Sở hữu trí tuệ) đã mở rộng phạm vi cho phép việc sử dụng tác phẩm của thư viện. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành, đặc biệt, trong bối cảnh phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với việc hội nhập quốc tế sâu, rộng của Việt Nam khi tham gia vào nhiều điều ước quốc tế quan trọng về sở hữu trí tuệ đã cho thấy một số vướng mắc, bất cập.

1.1. Về điều kiện chung áp dụng ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện

Vì các quy định ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả (QTG) trong hoạt động thư viện ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu QTG nên việc sử dụng tác phẩm trong thời hạn bảo hộ mà không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện chung theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Theo đó, liên quan đến hoạt động chuyên môn của mình, các thư viện tại Việt Nam đang gặp một số vướng mắc như sau:

Thứ nhất, đối tượng được sử dụng phải là tác phẩm đã công bố. Theo giải thích tại khoản 8 Điều 3 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26/4/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về QTG, quyền liên quan (Nghị định số 17/2023/NĐ-CP), tác phẩm được coi là đã công bố phải thỏa mãn các yếu tố:

- Phải có việc phát hành bản sao tác phẩm đến công chúng. Trong đó, phát hành là “việc thông qua một hoặc nhiều hình thức mua, bán, phân phát, tặng, cho, cho thuê, cho mượn, xuất khẩu, nhập khẩu, hội chợ, triển lãm để đưa xuất bản phẩm đến người sử dụng”[1]. Như vậy, tác phẩm được coi là công bố khi các bản sao được đưa đến công chúng thông qua đa dạng các hình thức như mua, bán, phân phát, tặng, cho, hội chợ, triển lãm... để người sử dụng có nhu cầu có thể tiếp cận được với tác phẩm. Tuy nhiên, một số thư viện tại Việt Nam đang chưa xác định rõ việc “phát hành” trong khái niệm công bố tác phẩm có đồng nhất với thuật ngữ “phát hành” trong Luật Xuất bản không? Việc số hóa các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án của người học và cung cấp cho bạn đọc có buộc phải tiến hành thủ tục xin cấp giấy phép xuất bản và thư viện thực hiện việc công bố có buộc phải xin cấp phép để có tư cách nhà xuất bản theo Luật Xuất bản, có phải chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền không? Bên cạnh đó, việc chủ sở hữu QTG đăng một tác phẩm lên các trang mạng xã hội và để chế độ công khai đã được coi là công bố tác phẩm để thư viện sử dụng hay chưa? Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định giải thích cụ thể thế nào là công chúng, dẫn đến những ý kiến chưa thống nhất về việc liệu phát hành bản sao tác phẩm đến các thành viên trong một câu lạc bộ, nhóm bạn bè, người quen hay các sinh viên, giảng viên của một trường đại học có được coi là công bố tác phẩm đến công chúng hay chưa?

- Số lượng bản sao đưa đến công chúng phải hợp lý, đủ để công chúng tiếp cận được tùy theo bản chất của tác phẩm. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn cụ thể về việc xác định nội dung này nên các thư viện còn lúng túng trong quá trình xem xét việc sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh, nhà khoa học in và nộp các sản phẩm sáng tạo của họ (khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án) theo số lượng cơ sở đào tạo, đơn vị đặt hàng, giao nhiệm vụ yêu cầu, ví dụ, 03 - 05 bản giấy và 01 bản sao điện tử đã là số lượng hợp lý để được coi là công bố tác phẩm hay chưa? Pháp luật hiện hành chưa xây dựng các tiêu chí, nguyên tắc để xác định số lượng bản sao hợp lý, chưa xác định cơ quan, tổ chức nào sẽ quyết định số lượng này, cũng như cơ chế giải quyết nếu có tranh chấp phát sinh dẫn đến những tranh luận trong thực tiễn.

- Việc phát hành phải được sự đồng ý của chủ sở hữu QTG nhằm bảo đảm việc công bố được thực hiện dưới sự kiểm soát của chủ sở hữu QTG bởi hoạt động này có thể ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, danh tiếng của chủ thể quyền, cũng như là tiền đề để thực hiện các quyền tài sản, trực tiếp tác động đến việc khai thác các sản phẩm sáng tạo. Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định cụ thể về hình thức ghi nhận sự đồng ý của chủ sở hữu QTG đối với việc công bố dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất trong thực tế. Cụ thể, sự đồng ý này phải được thể hiện dưới hình thức văn bản độc lập, được công chứng, xác thực hay có thể là một nội dung trong thỏa thuận bằng văn bản của các bên; sự cho phép chỉ cần thể hiện bằng lời nói hoặc chủ sở hữu QTG biết việc chủ thể khác công bố nhưng im lặng, không phản đối được coi là đồng ý.

Thứ hai, chủ thể sử dụng tác phẩm phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. Đây là nghĩa vụ xuất phát từ quyền nhân thân mà pháp luật trao cho tác giả quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ là tác giả “được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng”. Tuy nhiên, quy định hiện hành chưa thể hiện rõ yêu cầu thông tin về tên tác giả ở mức độ nào (nêu tên thật hay bút danh; chỉ nêu tên gọi, tên đệm và tên gọi hay nêu đầy đủ họ và tên), nêu chính xác như tên mà tác giả sử dụng khi công bố, khai thác tác phẩm hay có thể nêu rút gọn, viết tắt; cách thức cung cấp thông tin phải đủ rõ ràng để công chúng có thể nhận biết; mức độ chính xác của thông tin về nguồn gốc, xuất xứ tác phẩm, cũng như chưa quy định đối với trường hợp không xác định được tác giả tại thời điểm sử dụng tác phẩm hoặc sử dụng tác phẩm có quá nhiều tác giả như cuốn bách khoa toàn thư, đại từ điển... mà không xác định được nội dung được sử dụng là của tác giả nào.

Thứ ba, pháp luật hiện hành chưa có quy định yêu cầu tác phẩm được sử dụng trong các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG phải là tác phẩm tiếp cận từ nguồn hợp pháp như sách được xuất bản hợp pháp mà không phải photo trái phép.

1.2. Về ngoại lệ sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản, với điều kiện bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ

Thứ nhất, số lượng được phép sao chép là không quá 03 bản. So với quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về QTG, quyền liên quan chỉ cho phép sao chép không quá 01 bản, quy định trong Nghị định số 17/2023/NĐ-CP có mở rộng số lượng được phép sao chép không quá 03 bản nhằm phù hợp với yêu cầu của thực tiễn hoạt động của các thư viện trên cơ sở bảo đảm sự cân bằng với lợi ích của chủ thể QTG. Tuy nhiên, pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể 03 bản sao này chỉ là 03 bản sao hữu hình tác phẩm hay có thể là 02 bản sao hữu hình và 01 bản sao điện tử. Việc hạn chế này có lẽ chỉ phù hợp áp dụng đối với các bản sao hữu hình tác phẩm trong khi rất khó kiểm soát số lượng này đối với các bản sao tồn tại dưới dạng điện tử. Hơn nữa, trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển, các bản sao điện tử cũng có thể phát sinh những bất cập như sự lỗi thời của phần mềm, sự lạc hậu của phần cứng… nên nếu chỉ cho phép sao chép không quá 03 bản thì cũng gặp khó khăn trong bảo tồn vì không được sao lưu, cập nhật các định dạng mới.

Thứ hai, bản sao được tạo ra trong trường hợp này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ. Quy định này đặt ra yêu cầu về hình thức là các bản sao phải được ghi ký hiệu, đóng dấu là bản lưu trữ và chỉ một số đối tượng nhất định đáp ứng điều kiện được tiếp cận. Theo đó, quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về vấn đề này có dẫn chiếu đến pháp luật về thư viện, lưu trữ, tuy nhiên, việc xác định nguyên tắc, danh mục, đối tượng, quy trình thực hiện nội dung này chưa được đề cập cụ thể trong pháp luật về thư viện, lưu trữ. Điều này có thể dẫn đến sự tùy tiện của các thư viện khi xác định đối tượng tiếp cận giới hạn, cũng như nảy sinh những vướng mắc trong quá trình triển khai trên thực tế.

1.3. Về ngoại lệ sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép cho người khác phục vụ nghiên cứu, học tập

Thứ nhất, hành vi sử dụng chỉ giới hạn ở việc sao chép hợp lý một phần tác phẩm mà không được sao chép toàn bộ tác phẩm. Việc xác định mức độ sao chép hợp lý quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 25 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP dựa trên số lượng là không quá 01 bản và đối với tác phẩm tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết, tỷ lệ tối đa không quá 10% tổng số trang hoặc tổng đơn vị lưu trữ (bytes), tổng số từ của ấn bản, độ dài nội dung của ấn bản đối với tác phẩm được cung cấp dưới dạng ấn bản điện tử không chia trang. Đây là cơ sở để các thư viện thống nhất đưa vào nội quy và áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, hướng dẫn này chỉ áp dụng đối với tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết mà chưa đề cập đến các loại hình tác phẩm khác nên dẫn đến khó khăn trong việc xác định tỷ lệ đối với thư viện của các cơ sở quản lý chủ yếu tác phẩm điện ảnh, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu.

Thứ hai, về cách thức thực hiện, thư viện có thể sao chép bằng thiết bị sao chép nhưng thiết bị sao chép đặt trong khuôn viên thư viện phải kèm theo thông báo về việc tạo bản sao phải tuân thủ các quy định của pháp luật về QTG[2]. Theo tác giả, việc áp dụng quy định này cũng làm phát sinh nhiều thủ tục, tốn thời gian và chưa tạo thuận lợi cho bạn đọc khi có nhu cầu sao chép tài liệu.

1.4. Về ngoại lệ sao chép hoặc truyền tác phẩm được lưu giữ để sử dụng liên thông thư viện thông qua mạng máy tính, với điều kiện số lượng người đọc tại cùng một thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ, trừ trường hợp được chủ sở hữu quyền cho phép và không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cung cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số

Việc sử dụng tác phẩm trong trường hợp này phải áp dụng các biện pháp để ngăn chặn hành vi xâm phạm QTG và không được cung cấp cho công chúng bản sao tác phẩm dưới dạng kỹ thuật số bên ngoài khuôn viên của thư viện sử dụng hợp pháp bản sao đó[3]. Quy định này là cần thiết trong bối cảnh nhu cầu học tập, tiếp cận thông tin dưới dạng kỹ thuật số ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của việc học tập từ xa, học trực tuyến trên nền tảng mạng thông tin điện tử, phù hợp với xu thế về “chuyển đổi số” trong Ngành Thư viện. Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định giải thích cụ thể về cách thức xác định số lượng người đọc chỉ là những người đọc trên hệ thống liên thông thư viện hay cả những người đọc trực tiếp tại phòng đọc của thư viện, người đọc đang mượn tài liệu ra khỏi khuôn viên thư viện; chưa hướng dẫn việc xác định số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ dẫn đến nhiều cách hiểu trên thực tế. Do vậy, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này làm cơ sở cho các thư viện triển khai thống nhất các hoạt động nghiệp vụ, thiết kế hoặc đặt hàng thiết kế máy móc, phần mềm tra soát, cấp phép và quản lý việc sử dụng tác phẩm của bạn đọc.

2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thư viện

Thứ nhất, xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của hành vi công bố, việc giải thích thuật ngữ “công bố tác phẩm” cần được hiểu là việc cung cấp bản sao tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào với số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu tiếp cận hợp lý của công chúng, tùy theo bản chất của tác phẩm, trên cơ sở sự đồng ý của chủ sở hữu QTG bằng văn bản. Cách giải thích này phản ánh bản chất của hành vi công bố, làm rõ sự khác biệt giữa công bố tác phẩm với phát hành các xuất bản phẩm theo quy định của Luật Xuất bản, giúp các thư viện thống nhất áp dụng trong thực tiễn, giảm tải các thủ tục hành chính xin cấp phép xuất bản, có căn cứ xác định việc đăng tải tác phẩm lên các trang thương mại điện tử, trang mạng xã hội ở chế độ công chúng có thể tiếp cận được thì được coi là công bố tác phẩm và làm sáng tỏ hình thức thể hiện ý chí của chủ sở hữu QTG là bằng văn bản. Điều này phù hợp với nhận thức, áp dụng trong thực tiễn về hành vi công bố, cũng như tương thích với quy định của khoản 3 Điều 3 Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Bên cạnh đó, với việc sử dụng cụm từ “số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu tiếp cận hợp lý của công chúng” thay cho “số lượng hợp lý” trong khái niệm công bố tác phẩm, việc xác định số lượng đủ để coi là công bố tác phẩm sẽ rõ ràng và khách quan hơn dựa vào bản chất của loại hình tác phẩm, đặc thù trong phương thức tiếp cận tác phẩm, cũng như phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 3 Công ước Berne và pháp luật của một số quốc gia như Thụy Điển, Hoa Kỳ[4]. Để xác định phạm vi công chúng được tiếp cận tác phẩm, phù hợp với quy định của một số quốc gia giải thích “công chúng” là “những thành viên của cộng đồng không phải chịu bất kỳ hạn chế rõ ràng hay ngụ ý nào liên quan đến việc tiết lộ nội dung của tác phẩm đó”[5], có thể đưa ra giải thích: “Công chúng là một tập hợp người không thuộc phạm vi những người thân thích trong gia đình, những người thân quen xã hội bình thường của họ và không phải chịu bất kỳ hạn chế nào liên quan đến việc tiết lộ thông tin về tác phẩm”.

Thứ hai, bổ sung quy định trong văn bản hướng dẫn yêu cầu cụ thể về nghĩa vụ nêu thông tin về tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ tác phẩm trong các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG, như chủ thể sử dụng phải nêu chính xác, rõ ràng thông tin về tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm nếu những thông tin này xuất hiện trên tác phẩm, cũng như cách thức ghi thông tin trong trường hợp không xác định được các thông tin đó tại thời điểm sử dụng tác phẩm hoặc sử dụng tác phẩm có quá nhiều tác giả mà không thể xác định nội dung được sử dụng là của chủ thể nào, chế tài đối với từng hành vi vi phạm tương ứng. Việc thiết kế quy định này có thể tham khảo ghi nhận trong các điều ước quốc tế, pháp luật của một số quốc gia, như khoản 3 Điều 10 Công ước Berne quy định, khi sử dụng tác phẩm trong các trường hợp được nêu tại khoản 1 và khoản 2, chủ thể sử dụng phải đề cập đến nguồn gốc và tên của tác giả nếu những thông tin này xuất hiện trên tác phẩm. Ngoài ra, khoản 1 Điều 10 bis Công ước Berne cũng quy định nguồn gốc của tác phẩm luôn phải được chỉ dẫn một cách rõ ràng; pháp luật quốc gia nơi bảo hộ tác phẩm sẽ xác định các hậu quả pháp lý khi chủ thể sử dụng vi phạm nghĩa vụ này. Bên cạnh đó, quy định tại các mục a, c, d, f khoản 3 Điều 5 Chỉ thị 2001/29/EC ngày 22/5/2001 của Nghị viện và Ủy ban châu Âu về hài hòa hóa những khía cạnh nhất định của QTG, quyền liên quan trong xã hội thông tin có đề cập đến yêu cầu chủ thể sử dụng phải ghi rõ nguồn, bao gồm tên tác giả, trừ khi không thể thực hiện được điều này...

Thứ ba, bổ sung quy định tác phẩm được sử dụng trong các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG phải là tác phẩm tiếp cận từ nguồn hợp pháp để bảo đảm sự tôn trọng thành quả sáng tạo của chủ thể QTG, việc sử dụng bảo đảm phản ánh chính xác hình thức thể hiện của tác phẩm, không gây phương hại đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu QTG, không ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm. Ví dụ, việc sao chép phải được tiến hành dựa trên một cuốn sách có bản quyền do chủ sở hữu QTG đưa ra thị trường mà không phải là sao chép từ 01 bản photo tác phẩm trái phép.

Thứ tư, bỏ quy định giới hạn số lượng 03 bản sao được phép trong trường hợp ngoại lệ sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản trong Nghị định số 17/2023/NĐ-CP nhằm thống nhất với quy định tại điểm e khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ không quy định về giới hạn số lượng bản sao, giảm tải áp lực cho hệ thống kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng tác phẩm của thư viện, về bản chất, việc sao chép để bảo quản này không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại bất hợp lý đến lợi ích của chủ sở hữu QTG. Việc giám sát mức độ sao chép với sự hỗ trợ của các phần mềm, thiết bị kỹ thuật và giới hạn về tính chất, mục đích sử dụng có lẽ cần thiết và khả thi hơn việc giới hạn một cách cứng nhắc về số lượng bản sao được phép sao chép chỉ là 03 bản.

Thứ năm, bổ sung quy định về việc xác định nguyên tắc, danh mục, đối tượng, quy trình thực hiện lưu trữ, điều kiện cho phép tiếp cận các bản sao lưu trữ trong trường hợp ngoại lệ sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản nhằm thống nhất áp dụng trên thực tế, thể hiện được đặc trưng của hoạt động thư viện, lưu trữ liên quan đến sở hữu trí tuệ, thuận tiện cho các chủ thể áp dụng nghiên cứu, áp dụng.

Thứ sáu, cần xây dựng quy định hướng dẫn thế nào là “sao chép hợp lý một phần tác phẩm” trong văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về QTG. Theo đó, việc xác định thế nào là hợp lý cần được xây dựng trên cơ sở định tính và định lượng đối với từng nhóm tác phẩm dựa trên việc đánh giá đặc trưng của từng nhóm, bản chất của phần được sao chép, tần suất sao chép, mức độ sao chép có làm ảnh hưởng đến việc khai thác tác phẩm của chủ thể quyền hay làm giảm sút doanh thu của chủ sở hữu QTG không. Do vậy, việc sao chép một phần tác phẩm viết, tác phẩm thể hiện bằng lời nói, tác phẩm báo chí, tác phẩm âm nhạc sẽ khác với sao chép một phần tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh và khác với sao chép một phần tác phẩm nhiếp ảnh. Hiện nay, hành vi sao chép hợp lý tác phẩm được hướng dẫn tại Điều 25 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP chỉ áp dụng đối với tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết nên cần bổ sung nội dung đối với các loại hình tác phẩm khác được áp dụng ngoại lệ để tránh những hiểu lầm trong thực tiễn. Cụ thể, đối với các loại hình tác phẩm khác ngoài tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết, việc sao chép được coi là hợp lý khi thỏa mãn điều kiện: Việc sao chép chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại; việc sao chép phải phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để sao chép. Bên cạnh đó, việc xác định tỷ lệ được phép sao chép nên chỉ tính dựa trên phần trọng yếu, phần có tính nguyên gốc, thể hiện dấu ấn sáng tạo của tác giả mà không phải dựa trên toàn bộ nội dung của tác phẩm./.

ThS. NCS. Phạm Minh Huyền

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Khoản 3 Điều 4 Luật Xuất bản năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

[2]. Khoản 4 Điều 29 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP.

[3]. Khoản 3 Điều 29 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP.

[4]. Điều 8 Luật Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật của Thụy Điển; Điều 101 Luật Bản quyền Hoa Kỳ.

[5]. Https://www.copyright.gov/comp3/chap1900/ch1900-publication.pdf, p. 5.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: